Đọc khoảng: 4 phút

Cụ Nguyễn Duy Tuấn là người làng Khả Lãm, phủ Ứng Thiên (nay là thôn Cao Lãm, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây). Năm 1670, dưới thời vua Lê Huyền Tông, cụ thi đỗ hương cống (cử nhân) (1) được coi là người khai khoa của làng Cao Lãm. Mẹ của cụ là Mai Thị Biểu, người phụ nữ đảm đang, tài trí.

Tương truyền, bà là một người phụ nữ cần kiệm, khiêm nhường, chăm chỉ cấy cày, dệt vải… Bà thường dệt the, lụa rồi mang đi khắp nơi để bán. Trong một lần mang lụa đi bán ở Chương Đức (Chương Mỹ, Hà Tây ngày nay), bà tình cờ được chứng kiến lễ vinh quy bái tổ của một quan trạng. Vị quan trạng ngồi trên kiệu tám đòn, xung quanh kẻ vác lọng, người che tàn, trống chiêng vang rộn, kẻ đón người đưa tấp nập, các vị hương lý, hào mục khắp vùng đều sắp lễ vật đứng hai bên đường để tung hô bái lạy. Vị quan trạng còn rất trẻ, vận mũ áo vua ban nom thật oai vệ. Bà nghĩ: “Giá như con trai mình được như thế!”. Điều mong ước ấy nung nấu trong lòng người mẹ. Khi trở về, bà sắm sửa khăn gói, rồi đưa con đi mấy ngày đường, tìm đến thầy dạy nổi tiếng nhất vùng để xin cho con được học.

Cô gái Năm Căn – Ảnh : Tạp chí Nhiếp ảnh, 3-2006.

Những ngày đầu, cậu bé Tuấn còn chểnh mảng học hành, nhớ nhà, nhớ mẹ nên thường xuyên hay bỏ học trốn về nhà. Nhiều lần khuyên nhủ con nhưng không thành, một hôm, bà gọi con đến bên khung cửi, rồi bắt chước theo chuyện bà Mạnh Cơ, mẹ thầy Mạnh Tử, chặt đứt khung cửi đang dệt dở dang.

Người con trai hốt hoảng chưa kịp ngăn mẹ thì tơ sợi đã đứt ngổn ngang. Cậu ân hận quỳ xuống bên mẹ:

– Thưa mẹ, con đã biết lỗi của con rồi! Con xin hứa với mẹ, từ nay con sẽ chăm chỉ học hành để mẹ được an lòng!

Ngày hôm sau, trước khi con trai lên đường, bà lên chợ mua mấy chục vuông lụa đào, về khâu thành một chiếc võng, rồi bảo con:

– Mẹ khâu sẵn chiếc võng này để chờ khi con chí toại danh thành, vinh quy bái tổ.

Rồi bà bọc kỹ tấm võng, gác lên mái nhà để ngày ngày nhìn thấy mà cố gắng làm lụng nuôi con ăn học. Cảm động vì tấm lòng của mẹ, cậu con trai càng ân hận vì đã để mẹ phải buồn phiền. Cậu ra sức dùi mài kinh sử. Khi triều đình mở khoa thi, Nguyễn Duy Tuấn đã đỗ Trung khoa, sau được cử đi làm Tri phủ Duy Tiên, đem vẻ vang về cho gia đình và quê hương.

Con trai của cụ Nguyễn Duy Tuấn là Nguyễn Duy Đôn được bà nội dạy dỗ từ nhỏ. Năm 18 tuổi, cậu đỗ cử nhân. Đến kỳ thi hội năm Nhâm Thìn (1712), dưới triều vua Lê Dụ Tông, Ngưyễn Duy Đôn đỗ Đình nguyên, đệ nhị giáp tiến sĩ. Cụ từng giữ chức Hàn lâm viện thừa chỉ, làm quan đến Tả thị lang bộ Binh, Tế tửu Quốc Tử Giám. Cụ được giao trọng trách soạn thảo văn bia tiến sĩ khoa Đinh Mùi dựng ở Quốc Tử Giám (Hà Nội). Cuối đời, cụ về trí sĩ ở quê để mở lớp dạy học.

Sau khi cụ mất, triều đình nhà Lê đã phong sắc tặng cụ chức “Công bộ thượng thư, tước hầu”.

Cụ Nguyễn Duy Đôn thường kể lại câu chuyện về người bà nội của mình cho các cháu con và học trò nghe để làm gương. Bà Nguyễn Thị Khiếu, chị ruột của cụ Nguyễn Duy Đôn cũng là một người mẹ tài trí không thua kém gì bà nội của mình. Bà đã giáo dục, dạy dỗ cả hai người con trai là Mai Danh Tông và Mai Trọng Tương phấn đấu nên người. Hai ông đều đỗ tiến sĩ và đều làm quan trong triều nhà Lê. Ba cậu cháu cụ Nguyễn Duy Đôn là “Tiến sĩ đồng triều”. Triều đình nhà Lê đã sắc phong cho cha mẹ của “Lưỡng tử tiến sĩ” bức đại tự “Nghĩa phương giáo huấn”.

Noi theo tấm gương của các bậc tiền bối, các thế hệ người làng Cao Lãm sau này đều biết lấy câu chuyện dạy con của những người mẹ tài trí ấy làm mẫu mực để dạy dỗ con cháu. Nhờ đó, một làng nhỏ bé với hơn 200 nóc nhà, dưới các triều đại phong kiến, tính từ sự khai khoa của cụ Nguyễn Duy Tuấn về sau này tổng cộng có 3 vị tiến sĩ triều Lê, hơn 80 vị đỗ hương cống (cử nhân), hoành từ (2); gần 20 vị đỗ tú tài, sinh đồ (3). Tên tuổi của 99 vị khoa bảng đã được người làng khắc vào bia đá lưu giữ đến nay. Thời hiện đại, Cao Lãm có 5 tiến sĩ, gần 20 thạc sĩ, trên hai trăm người là bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, cử nhân… Sự thành đạt của họ thường gắn liền với công sức của những người trong gia đình, trước hết là những người mẹ.

Chú thích:

  1. Hương cống: học vị thời Lê, tương đương cử nhân thời Nguyễn.
  2. Khoa thi Hoành từ mở năm 1431 chọn người học rộng văn hay để làm quan.
  3. Sinh đồ: học trò. Từ đời Gia Long về trước gọi tú tài là sinh đồ.
Xưa & Nay – Số 279 (03/2007)
ST