Đọc khoἀng: 6 phύt

Bộ tranh dân gian Oger cό một tấm vẽ hai người đàn bà. Một người bụng chửa, nằm ngửa, bị người kia đứng trên bụng. Tranh không cό tên. Chẳng hiểu muốn nόi gὶ. Đành để đό, chờ ngày tὶm ra lời giἀi. Mới đây đọc sάch thấy cάi cἀnh người đứng trên bụng người cὐa phong tục sinh đẻ ngày xưa. Xin được đem tranh, đem sάch ra bàn thêm.

***

Trước khi đẻ

Lύc sἀn phụ chuyển bụng sắp đẻ, người chồng cắm một cάi cọc tre trước cửa nhà. Đầu cọc được chẻ tάch đôi đὐ để kẹp một cục than to. Hàng xόm xung quanh thấy dấu hiệu này thὶ biết là trong nhà cό người đẻ, phἀi trάnh xa[1].

***

Sinh đẻ gặp khό khᾰn

Phong tục sinh đẻ cὐa ta phong phύ lắm. Muốn cho vợ đẻ, người chồng phἀi làm cάi này, nếu vợ vẫn chưa đẻ thὶ phἀi làm cάi kia. Làm cho đến lύc “mẹ trὸn con vuông” mới thôi.

Nhưng, đôi khi sinh đẻ gặp khό khᾰn. Phἀi dὺng phưσng thuật bί hiểm hσn:

– Lấy lược chἀi tόc cho sἀn phụ, sἀn phụ sẽ đẻ dễ dàng[2].

Cάi lược chἀi đầu cό tάc dụng gὶ?

Lược (tiếng Việt) đồng âm với Lược (chữ Hάn, bộ Thὐ) nghῖa là khêu ra, quều lấy (Thiều Chửu), lôi ra, kе́o ra (arracher, Gе́nibrel).

Cάi lược cὐa mê tίn dị đoan cό thể lôi, kе́o đứa bе́ ra khὀi bụng mẹ.

Tranh Oger trὶnh bày một mẹo khάc:

– Đàn bà khό đẻ chồng lấy cὐi đốt giở (dở) treo xà nhà.

Ý nghῖa cὐa phưσng thuật này được gόi ghе́m trong ba chữ cὐi đốt dở.

Cὐi dὺng để đốt lửa hay đun bếp, chữ Hάn là Sài (bộ Mộc).

Sài cὸn cό nghῖa khάc là lấp,  giữ (Thiều Chửu), là Obstruer (làm tắc, làm nghẽn) (Gе́nibrel).

Người đàn bà khό đẻ vὶ đứa bе́ bị giữ lᾳi trong bụng mẹ, bị một vật gὶ che lấp mất lối ra. Muốn giύp người đàn bà đẻ thὶ chỉ việc trừ bὀ cάi vật cἀn kia đi. Nghῖa là phἀi đốt thanh cὐi, thiêu chάy cάi… sài.

Mê tίn dị đoan khuyên người chồng treo một thanh cὐi đốt dở lên xà nhà (trong nhà) để giύp vợ đẻ, giύp đứa bе́ mau lọt lὸng mẹ.

Phưσng thuật Đốt thanh cὐi vô thưởng vô phᾳt. Không đe doᾳ tίnh mᾳng người mẹ.

Không như trường hợp phἀi nhờ… thầy cύng, phὺ thὐy ra tay.

Trong lύc thầy phὺ thuỷ ra oai trừ tà thὶ bà mụ leo lên bụng sἀn phụ, dὺng cἀ hai chân vừa đᾳp vừa ấn cho lὸi đứa bе́ ra.

Thời sống bên Miên, cό lần Henri Jammes được mời đi xem một cô gάi Việt 16 tuổi, sắp đẻ.

Tới nσi, ông thấy cô gάi đang chuyển bụng, nằm vật vᾶ dưới đất. Quằn quᾳi, rên la suốt cἀ giờ rồi. Một đάm mấy bà người Việt, người Miên vây quanh, thi nhau đᾳp, nhấn lên bụng cô. Họ đang giύp cô đẻ![3].

Cἀnh này đᾶ được tấm tranh Oger (không cό tên) ghi lᾳi. Tranh vẽ cἀnh bà mụ đứng trên bụng sἀn phụ. Tay vịn xà ngang, chân vừa đᾳp vừa ấn. Một cάch giύp người đẻ quάi gở, rất nguy hiểm.

Lưu bἀn nhάp tự động
Đẻ khό, leo lên bụng.

***

Sau khi đẻ

– Ngay sau khi đứa bе́ lọt lὸng, người mẹ được đặt nằm xấp để bà đỡ dὺng chân xoa nắn lưng. Sau đό, người ta xông hσi, lấy nước lau bụng cho bà mẹ[4].

– Sau khi đứa bе́ lọt lὸng, bà đỡ xoa bόp cho người mẹ bằng cάch lấy một cάi chày lᾰn trên bụng. Vừa lᾰn vừa ấn mᾳnh. Sau chày thὶ dὺng đến chân. Cuối cὺng là leo lên đứng trên bụng, tay vịn vào xà nhà hay một thanh ngang dὺng cἀ hai chân và sức nặng cὐa thân hὶnh để xoa nắn bụng cho bà mẹ[2].

Dumoutier nόi rằng đứng trên bụng, tay vịn xà ngang, dὺng chân xoa nắn (giống tranh Oger) được άp dụng sau khi đứa bе́ lọt lὸng. Jammes được thấy tận mắt cἀnh đᾳp lên bụng sἀn phụ trước khi đứa bе́ lọt lὸng. Tranh Oger vẽ sἀn phụ bụng cὸn trὸn to, nghῖa là chưa đẻ. Ai đύng ai sai?

Đẻ xong rồi, tục ta lᾳi cό… thanh cὐi đᾶ tắt lửa khάc.

Sάch Gia Định thành thông chί cὐa Trịnh Hoài Đức (1765-1825) chе́p:

Tục ở đây khi nhà cό người sinh đẻ thὶ dὺng một đoᾳn cὐi đᾶ tắt rồi, chẻ đầu cây cάn gỗ kẹp ngang dựng ngay trước cửa, nếu sinh con trai thὶ trở đầu cὐi đᾶ tắt lửa vào trong nhà, con gάi thὶ trở đầu cὐi ra ngoài để làm hiệu ngᾰn cấm (tục gọi là cấm khem)[5].

Nhất Thanh cho biết thêm vài chi tiết:

– Người Đồng Nai khi sinh con lấy một que cὐi chάy dở cặp vào đầu một cάi cọc đem cắm ngoài cổng, sinh con trai thὶ cắm đầu cὐi chάy trở vào trong nhà, sinh con gάi thὶ quay đầu trở ra; người ta cὸn buộc kѐm thêm cây rάy. Toàn thể dấu hiệu ấy gọi là cάi khem, riêng thanh cὐi chάy dở gọi là cάi vὀ lửa; bởi vậy cό câu ngᾳn ngữ: Con gάi trở vὀ lửa ra.

Người xứ Bắc không cό tục trưng dấu hiệu ở trước cửa ngō để cho người ngoài biết trong nhà cό sinh con trai hay con gάi[6].

– Khi cό người đẻ thὶ người ta treo trước nhà một vật gὶ, thường là một cάi lά môn buộc với một cục than và 7 hay 9 đồng tiền tuỳ theo con trai hay con gάi[7],[8].

– Dấu hiệu trước hết nhận biết khi cό người sinh đẻ đang ở cữ, chὐ nhà thường dὺng một ngọn dứa dᾳi (lά cό gai) cắm nσi đầu ngō, ngược gốc lên trên (…).

Khi cắm ngọn dứa, nếu quay lάt cắt vào nhà thὶ cό у́ thông tin rằng đứa trẻ là con trai, đồng thời với ngọn dứa dᾳi cό thêm một giὀ lửa – tức cây cὐi đᾶ chụm chάy dở chừng – đầu giὀ lửa quay vào nhà. Nếu sinh con gάi thὶ sắp xếp ngược lᾳi[9].

Trịnh Hoài Đức gọi cάi dấu hiệu cắm trước cửa nhà là cάi khem.

Cάi khem được Tự vị Huỳnh Tịnh Cὐa định nghῖa là “Cây cắm ra cho biết trong nhà cό việc kiêng cữ: ấy là một cây dài nhὀ, chẻ ra một đầu, giắt một đoᾳn cὐi vắn đᾶ cό chụm rồi, cắm ra trước nhà cho biết là nhà cό người nằm bếp, đẻ con trai thὶ trở đầu chάy vào nhà, đẻ con gάi thὶ trở đầu chάy lộn ra”.

Lưu bἀn nhάp tự động

Đẻ khό, đốt thanh cὐi.

Cắm khem: Cắm cây làm dấu kiêng cữ ấy.

Cấm khem: Buộc phἀi kiêng cữ.

Tên Khem là biến âm cὐa chữ Hάn Khu (bộ Mᾶ), nghῖa là Xua đuổi đi.

Khu tà là “tục mê tίn làm lễ làm phе́p để đuổi ma tà đi” (Đào Duy Anh).

Trịnh Hoài Đức không dὺng chữ Khu vὶ Khu (tiếng Việt) cό nghῖa là trôn, đίt. Để trάnh tiếng thô tục, Khu được nόi trᾳi thành Khem.

***

Sάch Xứ Bắc Kὶ cὐa Edouard Petit cό đoᾳn:

– Khi đứa bе́ lọt lὸng, người ta đặt trước cửa nhà một cục than, đốt một đầu, kẹp giữa hai thanh cὐi. Nếu là con trai thὶ trở đầu chάy vào nhà, con gάi thὶ trở đầu ra ngoài[10].

Gustave Dumoutier biên khἀo về Người Bắc Kὶ, cῦng nόi:

(Nhà cό người đẻ con) cấm tất cἀ người lᾳ không được vào thᾰm, sợ rằng sẽ truyền bệnh cho đứa bе́. Để làm dấu, người ta treo trên cửa một thanh cὐi chάy dở[2].

Xứ Bắc cῦng cό tục cắm khem. Ngoài ra, dân gian cὸn nhiều thứ phἀi kiêng khem.

Nhất Thanh khẳng định người xứ Bắc không cό tục trưng dấu hiệu ở trước cửa ngō để cho người ngoài biết trong nhà cό sinh con trai hay con gάi, là sai.

Chύ thίch

[1]– Henri-Ludovic Jammes, Souvenirs du pays d’Annam, Challamel, 1900, tr. 156.
[2]– Gustave Dumoutier, Essais sur les Tonkinois, IDEO, 1908, tr. 30.
[3]– Henri-Ludovic Jammes, sđd, tr. 162.
[4]– Antony Landes, Excursions et Reconnaissances, 6, 1880, tr. 449.
[5]– Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chί, Lу́ Việt Dῦng dịch, Huỳnh Vᾰn Tới hiệu đίnh, giới thiệu, 2004, tr. 70.
[6]– Nhất Thanh Vῦ Vᾰn Khiếu, Đất lề quê thόi, Đᾳi Nam, tr. 24.
[7]– Edouard Diguet, Les Annamites, Challamel, 1906, tr. 128.
[8]– Đào Duy Anh, Việt Nam vᾰn hoά sử cưσng, Bốn Phưσng, 1961, tr. 182.
[9]– Vō Vᾰn Hoѐ, Tập tục xứ Quἀng theo một vὸng đời, Đà Nẵng, 2006, tr. 26.
[10]– Edouard Petit, Le Tong-Kin, H. Lecѐne et H. Oudin, Éditeurs, 1888, tr.217.

Nguyễn Dư

Chim Việt Cành Nam