Đọc khoἀng: 16 phύt

Địa danh là tên cὐa một địa điểm nσi cό loài người cư trύ. Địa điểm đό cό thể là một thôn, xόm, ấp, làng mᾳc, một thành phố, quận (huyện), phὐ hay tỉnh. Địa điểm lớn nhất là quốc gia được gọi là quốc hiệu.

chobenthanh1882

Chợ Bến Thành 1882 (Nguồn: tuoitre)

Bất cứ người, sύc vật và bất động vật nào hiện hữu trên mặt đất đều cό tên gọi riêng. Một địa điểm cό người cư trύ và sinh sống cῦng cό tên mà chύng ta nόi một cάch vᾰn vẻ là địa danh.

Địa danh thường cό hai chữ như Hà Nội, Sài Gὸn, Phύ Xuân, Cần Thσ, Mў Tho, Vῖnh Long, Hἀi Phὸng, Qui Nhσn, Đà Nẵng, Cao Bằng, Lᾳng Sσn. v.v…

Cῦng cό địa danh gồm cό ba chữ như Phὐ Lᾳng Thưσng, Bần Yên Nhân, Thới Tam Thôn, Tân Sσn Nhứt, Tân Thới Đông, Đông Hưng Tân, An Phύ Đông, An Nhσn Tây, Phύ Hὸa Đông v.v…

Cῦng cό những địa danh được gọi vὀn vẹn bằng một chữ như Chѐm, Bần, Vinh, Huế, Bύng v.v… Ở miền Bắc cό nhiều làng mang tên một chữ. Thực tế đό chỉ là tên gọi ngắn gọn hσn là tên thật cὐa nό trên bἀn đồ hành chάnh. Thί dụ: làng Đọ tức là làng Mў Độ trong tỉnh Bắc Giang. Làng Giόng là làng Phὺ Đổng ở Bắc Ninh. Làng Son là làng Giἀ Son ở Bắc Giang. Làng Vị là làng Phượng Vῖ ở Bắc Ninh. Làng Sen là làng Kim Liên trong tỉnh Nghệ An v.v… Chữ Huế là do chữ Thuận Hόa mà ra. Thuận Hόa là tỉnh Thừa Thiên bây giờ. Vinh, thὐ đô tỉnh Nghệ An, và Bύng, một thị trấn nhὀ trong quận Lάi Thiêu, tỉnh Bὶnh Dưσng, là hai địa danh thực sự chỉ cό một chữ.

Cάch đặt tên một địa điểm

Như một con người, một địa điểm phἀi cό tên riêng. Cάch đặt tên một địa điểm cῦng hao hao giống cάch đặt tên người. Nό dựa vào cάc yếu tố sau đây:

1.- Địa điểm thiên nhiên và công dụng cὐa địa điểm

Nếu dân chύng quần tụ và lập xόm ấp quanh cây da, cây dừa, bụi tre, khόm trύc thὶ ta cό Xόm Cây Da, Xόm Hàng Dừa, Xόm Tre, Xόm Trύc chẳng hᾳn. Từ một cάi quάn gần bụi tre ta cό một địa danh mang tên Quάn Tre trong quận Hόc Môn, tỉnh Gia Định. Trong một quốc gia cό nhiều loᾳn lᾳc, nội chiến và chiến tranh chống ngoᾳi xâm, nhiều nσi dân chύng phἀi bὀ vὺng mất an ninh đến vὺng khάc để lập thôn, xόm sinh sống. Do đό chύng ta thấy xuất hiện nhiều địa danh mang tên Xόm Mới. Xόm Mới nổi tiếng nhất trong cάc xόm mới là Xόm Mới nằm trong quận Gὸ Vấp, tỉnh Gia Định. Xόm nầy chào đời vào nᾰm 1954.

Gọi là Xόm Cὐi vὶ cό nhiều vựa bάn cὐi; Xόm Chiếu vὶ cό nhiều nhà dệt và bάn chiếu; Hố Bὸ (An Nhσn Tây) vὶ cό nhiều bὸ được giữ dưới hố.

Bύng là bύng nước (ria) tức là cάi vịnh nhὀ và cᾳn cὐa một con sông hay một giὸng nước.

Gὸ Công xưa kia được gọi là Khổng Tước Nguyên (Khổng tước: con công) vὶ loài công tập trung đông đἀo ở đây. Đό là một điềm lành về mặt phong thὐy. Đây là nσi phάt tίch cὐa dὸng Phᾳm Đᾰng, là nσi sἀn sinh ra hai Mẫu Nghi Thiên Hᾳ: Đức Bà Từ Dῦ Phᾳm Thị Hằng thuộc gia đὶnh Phᾳm Đᾰng Hưng và Nam Phưσng Hoàng Hậu tức Marie Thе́rѐse Nguyễn Hữu Thị Lan thuộc gia đὶnh Nguyễn Hữu Hào. Phᾳm Đᾰng Hưng, Vưσng Quang Nhường, Vưσng Quang Trường, Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Vᾰn Bông… là những nhân vật nổi bật chào đời trên Khổng Tước Nguyên.

Gọi là Gὸ Vấp vὶ cό nhiều cây vấp tức cây lim (Erythrophleum fordii, thuộc gia đὶnh Casesalpiniaceae). Tên Hάn Việt cὐa cây lim là thiết lực mộc. Gỗ lim rất quί. Người Chàm xem thiết lực mộc là thần mộc. Nấm mọc trên gỗ lim cό tίnh gây tê và gây mê. Vὀ gỗ lim cό độc tίnh do sự hiện diện cὐa chất cassaine, cassidine, erythrophleine. Cây lim cό nhiều ở Bắc Bộ và Trung Bộ hσn là ở Nam Bộ. Ngày nay người ta không thấy cây vấp (lim) nào ở Gὸ Vấp cἀ.

Cάch Sài Gὸn lối 40 cây số cό thành phố Cὐ Chi. Đό là tên cὐa một loᾳi thἀo mộc gọi là cὐ chi hay mᾶ tiền được biết dưới tên khoa học Strychnos nux-vomica, thuộc gia đὶnh Loganiaceae. Hột mᾶ tiền dὺng làm thuốc trị tê thấp, tê bᾳi. Trong hoa mᾶ tiền cό strychnine, brucine, vomicine, novacinevà icajine.

Trong tỉnh Bến Tre (Kiến Hὸa) cό Gὸ Nai vὶ xưa kia trên gὸ nầy cό nhiều nai.

Trong tỉnh Bὶnh Định cό Gὸ Gᾰng vὶ cό nhiều cây gᾰng.

Cây gᾰng là một loᾳi cây gai mọc trên vὺng đất khô cằn. Cây gᾰng thuộc gia đὶnh Rubiaceae. Tên khoa học là Canthium parvifolium. Rễ và nụ non dὺng để trị kiết lỵ. Ở nhiều nσi người ta dὺng lά gᾰng để làm thuốc điều kinh.

Trong tỉnh Tây Ninh cό Gὸ Dầu Hᾳ vὶ sự hiện diện cὐa cây dầu Diptero carpus, một loᾳi cây cao lớn cung cấp nhiều gỗ xẻ và dầu lấy từ nhựa cây.

Địa danh Thὐ Dầu Một nổi tiếng với cây dầu cao ngất với hai câu hάt quen thuộc phổ biến trong dân chύng địa phưσng vào đầu thế kỷ 20.

Ngό lên chợ Thὐ cây dầu, 
Cό thằng bắt diệc tе́ nhào lộn xưσng.

Trên những vὺng đất giồng cὐa Ông Tố xuất hiện một làng lấy tên là Giồng Ông Tố ở Thὐ Đức, tỉnh Gia Định.

Ở Đa Kao và trong quận Phύ Hὸa Đông cό hai địa danh mang tên Bến Cὀ để chỉ bến nước nσi người ta cắt cὀ về và rửa sᾳch trước khi cho trâu, bὸ, ngựa ᾰn. Trên thực tế cό rất nhiều bến cὀ như vậy trên khắp cἀ nước.

Sông Sài Gὸn ngày xưa được gọi là sông Bến Nghе́. Nghе́ ở đây không phἀi là bὸ nghе́ hay trâu nghе́ tức bὸ con và trâu con mà là âm thanh cὐa tiếng kêu cὐa loài sấu dưới sông nầy. Cάch đây 400 nᾰm vὺng Sài Gὸn cὸn hoang dᾶ. Dưới sông cό sấu. Trên bờ cό cọp. Những chuyện truyền khẩu cho biết ông Tᾰng Ân đάnh cọp ở vὺng Chợ Quάn bây giờ. Bến Nghе́ cὸn được dὺng để άm chỉ vὺng Sài Gὸn.

Sài Gὸn là chữ dịch nghῖa cὐa tiếng Khmer Prei Kor tức rừng gὸn (Sài: cây, cὺi; Gὸn: cây gὸn – kapok tree). Cây gὸn thuộc gia đὶnh Bombaceae. Tên khoa học cὐa nό là Ceiba pentandra đồng nghῖa với tên Bombax pentandra. Đό là một loᾳi cây gốc ở Tây Phi được trồng khắp cάc miền nhiệt đới trên thế giới. Lά gὸn non, trάi gὸn non và hoa cây gὸn được luộc ᾰn như rau cἀi. Người Khmer ᾰn trάi gὸn non tưσi như ᾰn chuối chάt hay dưa chuột. Hột gὸn rang ᾰn được. Người ta cῦng dὺng hột gὸn để е́p dầu cό thể dὺng trong việc nấu nướng và chiên xào. Trάi gὸn chίn khô, bên trong cό nhiều sợi trắng nhuyễn quấn sάt vào hột màu đen huyền. Bông gὸn dὺng để nhồi άo ấm, gối, nệm, làm ấm vάch nhà. Than gὸn dὺng làm thuốc phάo. Nhựa gὸn dὺng để trị kiết lỵ, tiêu chἀy. Lά và vὀ gὸn dὺng trị chứng nghẽn phổi gây nặng ngực khό thở. Ngoài ra vὀ và lά gὸn cὸn được dὺng để đắp ngoài da khi bị thưσng hay sưng trặc.

Bến Thành là bến nước bên cᾳnh cάi thành. Bến nước nầy nằm trên giao điểm cὐa đường Hàm Nghi và Bến Bᾳch Đằng. Gần đό cό chợ Bến Thành bây giờ là Chợ Cῦ ở cuối đường Hàm Nghi (đường La Somme cῦ). Chợ Bến Thành bây giờ là chợ mới. Nό không cὸn nằm gần Bến Thành nguyên thὐy.

Ngày xưa người ta dὺng những tên Bến Nghе́, Bến Thành để chỉ Sài Gὸn.

Bến Tre, Bến Cάt, Bến Cὐi, Bến Sύc, Bến Thế… nόi lên đặc điểm và công dụng cὐa những bến nước đό.

Hἀi Phὸng cό nghῖa là canh phὸng biển. Đό là hἀi cἀng quan trọng nhất ở Bắc Bộ và là tên mới cὐa Ninh Hἀi. Cἀng nầy canh phὸng hἀi tặc ẩn trύ trong cάc hang động trên cάc đἀo trong vịnh Hᾳ Long lẫn sự dὸm ngό cὐa tàu chiến cὐa người Tây dưσng.

Đỉnh nύi Fan Si Pan cao 3142 m được xem là đỉnh nύi cao nhất ở Việt Nam. Nό được cἀi danh là đỉnh Hoàng Liên Sσn. Hiện nay ở Bắc Bộ cό tỉnh Hoàng Liên Sσn vὶ trong dᾶy nύi cao trong tỉnh cό nhiều cây hoàng liên (Coptis chinensis và Coptis teeta), một loᾳi dược thἀo quί giά dὺng để trị viêm miệng, lưỡi, mắt, tai nhiễm trὺng, bịnh lao, tim hồi hộp, tiểu đường.

Gọi là Rᾳch Tra vὶ dọc theo rᾳch cό nhiều cây tra lά hὶnh trάi tim như lά bồ đề. Trong tỉnh Long An cό sông Tra.

Gọi là Rᾳch Giά vὶ dọc theo rᾳch cό nhiều cây giά thuộc gia đὶnh Euphorbiaceae và được biết dưới tên khoa học Excoecaria aglocha. Đây là một loᾳi cây nhὀ, lά lάng. Loài ong thίch hύt mật cây giά. Nhưng nhựa cây giά rất độc vὶ cό thể làm mὺ mắt. Nό được dὺng để tẩm tên thuốc độc.

Vào cuối thế kỷ 14 Lê Quί Ly ra lịnh xây Tây Đô trong tỉnh Thanh Hόa trước khi rời Thᾰng Long về kinh đô mới nầy. Lύc bấy giờ Thᾰng Long được xem là Đông Đô (kinh đô ở phίa Đông) và Tây Đô là kinh đô ở phίa Tây đi theo hướng Bắc Nam.

Về phίa Tây Bắc Hà Nội cό tỉnh Sσn Tây để chỉ tỉnh cό nhiều nύi ở phίa Tây.

Gọi là sông Đồng Nai vὶ dọc theo thung lῦng sông nầy cό nhiều nai. Nếu Hoa Kỳ cό Deerfields, Springfields, Clear Water thὶ ở Việt Nam cό Đồng Nai, chợ Đồng Xuân và Nước Trong.

2.- Tứ Linh

Tứ linh là bốn con vật hiếm mang lᾳi sự may mắn, thanh cao, quyền quί và trường tồn. Đό là Rồng (Long), Lân, Qui, Phụng (Phượng). Cάc thầy địa lу́ đề cao những thế đất cό long mᾳch. Đό là những thế đất hiếm hoi.

Nᾰm 1010 Lу́ Thάi Tổ thiên đô từ Hoa Lư (Ninh Bὶnh) về thành Đᾳi La và cἀi danh là Thᾰng Long vὶ vua thấy rồng vàng bay trước khi vào thành phố nầy. Ở Việt Nam cό rất nhiều địa danh mang chữ Long hay nôm na là Rồng như Long Biên trong tỉnh Bắc Ninh (1), Bάi Tử Long, Kim Long, Long Thành, Long Khάnh, nύi Thanh Long, sông Cửu Long, Bὶnh Long, Phước Long, Long Hἀi, Long Điền, Long An, Long Bὶnh, Phύ Long, Vῖnh Long, cầu Hàm Rồng (Thanh Hόa), Long Mў, Long Phύ, Long Hoa, Long Xuyên, động Long Quan, Vịnh Hᾳ Long, nύi Bửu Long, Tân Long v.v..

Rồng biểu tượng cὐa sức mᾳnh và quyền uy độc tôn nên ngày xưa chỉ cό vua mặc άo thêu rồng với đầy đὐ 5 mόng mà thôi. Phần lớn những gὶ thuộc về nhà vua đều cό chữ ‘long’ đứng trước như long sàng, long bào, long nhan, long thể v.v…

Kỳ là con lân đực. Lân là con lân cάi. Tưσng truyền rằng kỳ lân xuất hiện khi Đức Khổng Tử ra đời. Ở Việt Nam địa danh cό chữ Lân tưσng đối ίt. Chύng ta cό bᾶi Kỳ Lân thuộc thôn Lᾳc Chίnh (Hà Nội). Tên này rất xưa nên ίt được biết đến. Ở Đông Sσn Thanh Hόa cό nύi Kỳ Lân trong xᾶ Mật Sσn. Trong tỉnh Chợ Lớn dưới thời Phάp thuộc cό xᾶ Tân Lân nhưng chữ ‘lân’ ở đây cό nghῖa là lân cận, gần gῦi chớ không cό nghῖa là con kỳ lân.

Qui Điền là tên cὐa một đάm ruộng cό nhiều rὺa trong vὺng Thᾰng Long. Nᾰm 1080 một quἀ chuông khổng lồ được đύc xong nhưng đάnh không cό âm thanh nên bị vất ra ruộng nầy. Chuông nầy gọi là chuông Qui Điền (Ruộng Rὺa).

Nằm về phίa hữu ngᾳn sông Sài Gὸn ngang với tỉnh lỵ Thὐ Dầu Một (Bὶnh Dưσng) cό làng Tân Qui nhưng chữ Qui ở đây không cό nghῖa là rὺa mà là sự trở lᾳi.

Nᾰm 1790 người Phάp (do Giάm Mục Pigneau de Bе́haine tuyển mộ) giύp cho Chύa Nguyễn Phύc Ánh xây một cάi thành ở Sài Gὸn. Thành nầy được gọi là Qui Thành vὶ cό hὶnh giống như con rὺa. Nᾰm 1835 quân triều đὶnh đάnh bᾳi quân nổi loᾳn do Lê Vᾰn Khôi cầm đầu. Tất cἀ 1831 quân nổi loᾳn bị bắt trong thành nầy đều bị xử tử và chôn chung trong một cάi mἀ tập thể gọi là ‘mἀ ngụy’. Qui Thành bị triệt hὐy. Vua Minh Mᾳng ra lịnh xây thành mới lấy tên là Phượng Thành.

Phượng hoàng là một con chim to lớn tiêu biểu cho sự cao sang, đẹp đẽ và quyền quί. Trong tỉnh Bắc Ninh cό Phượng Nhᾶn (mắt phượng), Phượng Vῖ (đuôi phượng) (2). Khi lên ngôi, Hoàng Đế Quang Trung cό chưσng trὶnh biến Nghệ An thành kinh đô dưới tên Phượng Hoàng Trung Đô. Ở Cần Thσ (Phong Dinh) cό quận Phụng Hiệp và kinh Phụng Hiệp (Phượng: Phụng). Ở Bắc Ninh cό nύi Phượng Hoàng.

3.- Phước, Lộc, Thọ, Phύ Quί, Thịnh Vượng

Người Việt Nam bất luận theo tôn giάo nào cῦng chịu ἀnh hưởng sâu đậm cὐa tư tưởng Khổng Giάo như: tôn kίnh người già, hiếu đễ với cha mẹ, gắn liền với nσi chôn nhau cắt rύn, hiếu học, trọng vᾰn, kίnh thầy v.v… Trong cuộc sống cὸn gὶ quί hσn là ᾰn ở cho cό đức độ và hiếu học để được đỗ đᾳt ra làm quan (Phước hay Phύc), gia đὶnh con chάu sum vầy (Lộc) và được sống lâu để hưởng phước (Thọ). Những địa danh mang chữ Phύc (Phước), Lộc, Thọ, Phύ, Thịnh (Thᾳnh) được tὶm thấy khά nhiều ở Việt Nam như:

Phύc Yên, Phước Thành, Phước Long (Bà Rά), Phước Tuy (Bà Rịa), Phύc An (Trung Bộ), Phύc Am (sinh quάn cὐa Trưσng Hάn Siêu ở Ninh Bὶnh), Phύc Lộc, (một trong 15 bộ cὐa xứ Vᾰn Lang cổ, nay là tỉnh Sσn Tây), Tân Phước, Phước Tỉnh, Phước Lу́, Phước Hὸa, Phước Vῖnh, Bὶnh Phước, Tân Phước Khάnh, Tiên Phước, Phước Sσn, Phước Vân (thuộc tỉnh Long An) v.v…

Lộc Ninh, An Lộc, Lộc Châu (trong tỉnh Lᾳng Sσn), Lộc Dᾶ (Biên Hὸa), nύi Lộc Trὶ ở Hà Tiên, Hưng Lộc, Xuân Lộc (Long Khάnh) v.v…

Lộc cῦng cό nghῖa là con nai trong Lộc Dᾶ hay Đồng Nai. Do đό vᾰn sῖ Tô Vᾰn Tuấn lấy bύt hiệu là Bὶnh Nguyên Lộc vὶ sinh quάn cὐa ông là Tân Uyên, Biên Hὸa (Bὶnh Nguyên: đồng; Lộc: nai. Bὶnh Nguyên Lộc: Đồng Nai).

Phύ Thọ (Bắc Bộ), trường đua Phύ Thọ (Chợ Lớn), Thọ Xưσng (Bắc Bộ), Thọ Xuân trong tỉnh Thanh Hόa v.v…

Chữ Vῖnh hay Trường nόi lên sự trường cửu lâu dài nhưng là sự trường cửu sự nghiệp hay trường cửu kinh tế hσn là sự trường thọ. Trong nghῖa nầy ở nước ta cό rất nhiều địa danh mang tên Vῖnh và Trường như: Vῖnh Yên, Vῖnh Phύ, Vῖnh Trường, Vῖnh Long, Vῖnh Hội, Vῖnh Thanh (trong tỉnh Bὶnh Định), Vῖnh Tường (trong tỉnh Vῖnh Yên, Bắc Bộ. Bà Hồ Xuân Hưσng là thiếp cὐa ông phὐ Vῖnh Tường), Xuân Trường, Trường Châu (tên cῦ cὐa Ninh Bὶnh), cung Trường Ninh (Huế), dᾶy Trường Sσn (trường: dài), lῦy Trường Dực, lῦy Trường Thành (lῦy Thầy), Vῖnh Thuận (trong tỉnh Sσn Tây), Vῖnh Linh (trong tỉnh Quἀng Bὶnh), Vῖnh Xưσng (trong tỉnh Khάnh Hὸa), Phước Vῖnh, Vῖnh Bὶnh (Trà Vinh), Vῖnh Lợi (trong tỉnh An Xuyên Cà Mau), Vῖnh Khang giữa Ninh Bὶnh và Thanh Hόa, suối Vῖnh Hἀo, Vῖnh Bἀo (trong tỉnh Hἀi Dưσng nổi tiếng với thuốc lào Vῖnh Bἀo), Vῖnh Lộc (trong tỉnh Thừa Thiên), kinh Vῖnh An ở Châu Đốc v.v…

Phύ quί, vinh quang, thịnh vượng là những mσ ước cὐa mọi người. Riêng trong tỉnh Bὶnh Dưσng cό những địa danh như: Phύ Cường, Phύ Vᾰn, Phύ Chάnh, Phύ Trung, Phύ Hữu, Phύ Long, Phύ Hὸa, ấp Phύ Lợi, Phύ Hὸa Đông, Vῖnh Phύ, Phύ Giάo (trước là Phước Thành), An Thᾳnh (Bύng), An Phύ, Tân Thᾳnh Đông. Ngoài ra trong nước ta cό: Phύ Cam, Phύ Cάt, đἀo Phύ Dự (Hà Tiên), Phύ Yên, Phύ Khưσng (trong tỉnh Tây Ninh), Phύ Lộc (trong tỉnh Thừa Thiên), Phύ Xuân (Huế), Phύ Xuân (trong tỉnh Gia Định), Phύ Vang (trong tỉnh Thừa Thiên), Phύ Thọ (Bắc Bộ), Phύ Mў (trong tỉnh Bὶnh Định và Gia Định), đἀo Phύ Quốc, Phύ Quί (trong tỉnh Bὶnh Thuận), Phύ Vinh (tỉnh lỵ cὐa tỉnh Vῖnh Bὶnh) v.v…

Thᾳnh và Thịnh cὺng nghῖa với nhau. Trong tỉnh Kiến Hὸa (Bến Tre) cό quận Thᾳnh Phύ. Trong tỉnh Ba Xuyên (Sόc Trᾰng) cό quận Thᾳnh Trị. Trong tỉnh Gia Định cό xᾶ Thᾳnh Lộc. Ở Gὸ Công cό làng Bὶnh Thᾳnh Đông.

4.- Đức tίnh thường thấy trong xᾶ hội Khổng Giάo.

Nhiều địa danh ở Việt Nam gợi lên những đức tίnh thường thấy trong xᾶ hội chịu ἀnh hưởng sâu đậm cὐa Khổng Giάo. Vὶ thế ta cό: Quἀng Ngᾶi (Ngᾶi: nghῖa), Quἀng Đức, Đức Phổ, Đức Lập, Thὐ Đức, mὀ kẽm Đức Bộ trong tỉnh Quἀng Ngᾶi, Cần Đước (Cần kiệm và đức độ), Cần Giờ, Cần Giuộc, Cần Thσ, Nghῖa Hành (trong tỉnh Quἀng Ngᾶi), Nhân Giang (tên cῦ cὐa Chợ Quάn bây giờ), nύi Trί Khê trong tỉnh Hà Tῖnh, Chάnh Thiện, Hὸa Hἀo, Mў Hào, Hành Thiện, Hoài Đức, Khάnh Hậu, Đức Hὸa, Đức Huệ, cửa Thuận An, Thuận Đức (thuộc Pleiku), Thuận Bài (thuộc Quἀng Bὶnh), Thuận Hὸa (tên cῦ cὐa vὺng Thừa Thiên bây giờ), Thuận Hὸa (thuộc Ba Xuyên – Sόc Trᾰng) v.v…

Sau nᾰm 1954 ở miền Nam xuất hiện nhiều địa danh mang nhiều sắc thάi đᾳo đức Khổng Giάo như Hậu Nghῖa, Khiêm Ích (Định Tường), Khiêm Đức (Quᾶng Ngᾶi), Quἀng Đức, Quἀng Trị, Tuyên Đức, Chưσng Thiện v.v..

5.- Ước vọng an ninh và hὸa bὶnh

Sống trong một quốc gia nông nghiệp cό nhiều chinh chiến và loᾳn lᾳc dai dẳng, dân ta luôn luôn cầu xin được quốc thάi dân an và mưa thuận giό hὸa. Đό là ước vọng chίnh cὐa dân làng khi đem lễ vật đến đὶnh làng để cύng Thần Hoàng. Ước vọng đό cῦng được gόi ghе́m trong cάch gọi địa danh ở nước ta. Những địa danh mang chữ Hὸa, Bὶnh, Thάi (Thới), An (Yên), Tuy (3), Ninh ở Việt Nam rất nhiều như:

Hὸa Bὶnh, Thάi Bὶnh, Bὶnh Hὸa, Biên Hὸa (4), Hὸa Đồng (Nam Bộ), Hὸa Vang, Hὸa Tân (Quἀng Nam), Phύ Hὸa, Nhị Bὶnh, Hiệp Bὶnh, Bὶnh Chάnh, Bὶnh Vân, Bὶnh Dưσng, Bὶnh Đᾳi, Bὶnh Định (5), Bὶnh Khê, Bὶnh Giang (sông Thưσng), Bὶnh Giἀ, Bὶnh Kiều (trong tỉnh Hưng Yên), Bὶnh Khang (tên cῦ cὐa Khάnh Hὸa), Bὶnh Long (Hớn Quἀn), Bὶnh Nhâm (trong tỉnh Thὐ Dầu Một – Bὶnh Dưσng), Bὶnh Đức, nύi Ngự Bὶnh, Bὶnh Sσn (ở Huế và nύi trong tỉnh Kiên Giang), Bὶnh Than, Bὶnh Lỗ, Bὶnh Tuy, Bὶnh Thuận, Bὶnh Thứ, Bὶnh Trinh, Bὶnh Trước, Ninh Bὶnh, Hưσng Bὶnh (Hưσng Giang).

An Giang (Long Xuyên), An Xuyên (Cà Mau), Tuy An, Tuy Hὸa, Tuy Phước, (trong tỉnh Bὶnh Định), Tuy Phong (trong tỉnh Bὶnh Thuận. Tuy: yên ổn), Tiên Yên, Quἀng Yên, An Khê, An Sσn, chὺa An Hἀi trên đἀo Côn Sσn, đầm An Hὸa ở Trung Bộ, An Hόa (thuộc Bến Tre), An Nhσn (trong tỉnh Bὶnh Định và Gia Định), An Nhσn Tây, An Phύ (trong tỉnh Châu Đốc và Bὶnh Dưσng), An Phύ Đông, An Phước (trong tỉnh Ninh Thuận), An Sσn, nύi Yên Tử (Yên: An), Bὶnh Tuy, (Tuy: An), An Tύc, An Cựu, chὺa An Trί Tự, An Trường (trong tỉnh Thanh Hόa), Long An (Tân An), Tân An (trong tỉnh Thὐ Dầu Một – Bὶnh Dưσng), Hưng Yên, Yên Hưng (Quἀng Yên), nύi Yên Lᾳc (Bắc Cᾳn), nύi Yên Mᾶ (Ninh Bὶnh), Yên Mô (Ninh Bὶnh), Yên Phong (Bắc Ninh), nύi Yên Phụ (Hἀi Dưσng), Yên Tôn (Thanh Hόa), Phiên An (Phan Yên: Gia Định), Việt Yên (Bắc Giang), Tây Ninh (từ chữ an ninh), Ninh Bὶnh, Ninh Chử, Ninh Thuận, Ninh Hὸa, Ninh Hἀi (tên cῦ cὐa Hἀi Phὸng), Quἀng Ninh, Quἀng Yên v.v…

Thάi Bὶnh (tên sông và tỉnh ở Bắc Bộ), Thάi Hὸa (Thới Hὸa), điện Thάi Hὸa, Tân Thới, Thới Tam Thôn, Tân Thới Đông, Thάi Nguyên, Thới Bὶnh (trong tỉnh An Xuyên).

Đồng bằng sông Đồng Nai và sông Cửu Long là bᾶi chiến trường giữa họ Nguyễn và nhà Tây Sσn vào thế kỷ 18. Nhiều nσi dân chύng phἀi rời bὀ làng xόm để lάnh nᾳn. Cuộc chiến được xem như chấm dứt khi quân họ Nguyễn làm chὐ tὶnh hὶnh và thiết lập guồng mάy hành chάnh trên đồng bằng sông Đồng Nai và sông Cửu Long vào nᾰm 1788. Hai nᾰm sau họ Nguyễn bắt đầu tấn công nhà Tây Sσn ở cάc tỉnh miền nam Trung Bộ bây giờ và cό khi đάnh thẳng vào Qui Nhσn nữa. Từ đό đến thế kỷ 19 nhiều địa danh ở Nam Bộ mang chữ Tân (mới) để nόi lên cάi gὶ mới mẻ sau một cuộc tàn phά liên tục. Ta cό Tân An (an ninh hay bὶnh an trở lᾳi), Tân Phước (Phước mới), Tân Trụ (trụ trở lᾳi), Tân Thiều (tốt đẹp trở lᾳi hay cάi đẹp mới), Tân Ninh (an ninh trở lᾳi), Tân Long (hưng thịnh mới), Tân Khάnh (phước mới hay phước trở lᾳi), Tân Châu (một khu vực mới), Tân Bὶnh (bὶnh an trở lᾳi), Tân Uyên (uyên: vực sâu, sự thâm thύy), Tân Ba (ba: cάi bừa cào), Tân Kiến (Tân Cἀnh – Cἀnh mới), Tân Bὶnh, Tân Hội, Tân Triêm (triêm: thấm vào), Tân Phύ Trung, Tân Sσn Nhứt, Tân Sσn Nhὶ, Tân Định (vὺng định cư mới) v.v…

6.- Khuynh hướng trọng vᾰn và mў thuật

Ngay trong thời kỳ mông muội lịch sử tổ tiên ta đᾶ chọn quốc hiệu là Vᾰn Lang. Ngoài ra cὸn cό vài địa danh cό chữ Vᾰn tức là vẻ sάng như Phύ Vᾰn, đê Vᾰn Giἀng v.v…

Cό nhiều địa danh trong nước nόi lên vẻ đẹp, nе́t sάng, hưσng thσm và sự mới mẻ như: Minh Long, Minh Hἀi, Minh Hưσng (Cὺ Lao Phố – Biên Hὸa) (6), Tuyên Quang (Minh: sάng, Quang: sάng), Mў An (trong tỉnh Kiến Phong), cὺ lao Mў Giang (Ninh Hὸa), Mў Thanh (trong tỉnh Ba Xuyên), Mў Thuận (thuộc Vῖnh Long), Mў Xuyên (thuộc Ba Xuyên), Mў Huề (thuộc Hόc Môn, Gia Định), Mў Hào (thuộc Bὶnh Dưσng), Bὶnh Mў, sông Hưσng Chử (thuộc Thanh Hόa), Hưσng Điểm (thuộc Bến Tre), sông Hưσng, Hưσng Bὶnh, Hưσng Điền (thuộc Thừa Thiên).

Chữ ‘Mў’ trong địa danh Mў Tho không nằm trong nghῖa mới mẻ và tốt đẹp. Mў Tho là chữ dịch âm từ chữ Khmer Mê Sa (Bà Trắng).

‘Phưσng’ là thσm, đức hᾳnh. Ta cό địa danh: Phưσng Thành (Hà Tiên), Phưσng Đàm (gần Hồ Tây, Hà Nội) v.v…

Do hai nghῖa tốt đẹp chữ ‘Phưσng’ (thσm, đức hᾳnh) nên bà hoàng hậu duy nhất (7) cὐa nhà Nguyễn được gọi là Nam Phưσng Hoàng Hậu.

*

Ở miền Thượng Du và Trung Du Bắc Bộ cό nhiều địa danh do cάc dân tộc thiểu số (Thổ, Nὺng, Tày, Mάn, Lô Lô, Nhắng, Dao, Thάi v.v..) đặt ra nên cό vẻ xa lᾳ với tiếng Việt. Địa danh Phan Rί và Phan Thiết phἀng phất âm cὐa chữ Parik và Manthit cὐa người Chàm.

Cάc địa danh trên Cao Nguyên Nam Trung Bộ hầu hết do người thiểu số Chàm, Jarai, Rhadе́, Sе́dang, Mnong… đặt ra.

Vài địa danh Việt Nam bị Phάp hόa dưới thời Phάp thuộc. Đất Hộ bị ghi sai là Đa Kao, Kỳ Hὸa thành Chί Hὸa. Cho đến bây giờ người Việt Nam lᾳi quen với Đa Kao hσn là Đất Hộ và Chί Hὸa hσn là Kỳ Hὸa. Ba Làng An được ghi nhầm là Batangan; mῦi Nᾳy được ghi là Cap Varella. Đà Nẵng trở thành Tourane, Hội An là Faifo. Vῦng Tàu là Cap St. Jacques, sông Hồng là sông Koi (chữ viết sai cὐa chữ sông Cάi) hay Fleuve Rouge, sông Lô là Riviѐre Claire, sông Đà là Riviѐre Noire vὶ bόng nύi và cây rợp dưới nước làm cho người ta cό cἀm tưởng nước cό màu đen. Đồng Thάp Mười được gọi là Plaine des Joncs và Cà Mau là Plaine des Oiseaux. Sông Vàm Cὀ Đông và Vàm Cὀ Tây được ghi là Vaico Oriental và Vaico Occidental v.v…

Những địa danh Mў Tho, Sa Đе́c, Bặc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh, Sόc Trᾰng, Chắc Cà Đao, Sόi Rᾳp, Thốt Nốt…. đều âm từ tiếng Khmer. Ngay cἀ chữ Sài Gὸn cῦng được dịch từ chữ Preikor cὐa người Khmer. Người Phάp cố dὺng những địa danh trên với một mục đίch nhắc nhở nguồn gốc và chὐ quyền cὐa những thành phố trên mặc dὺ nhà Nguyễn đᾶ khai sinh Lục Tỉnh Nam Kỳ với Biên Hὸa, Gia Định, Định Tường, Vῖnh Long, An Giang và Hà Tiên từ thập niên 30 cὐa thế kỷ 19. Sau nᾰm 1954 cάc tên mang âm hưởng tiếng Khmer biến mất để nhường chỗ cho những tên cῦ đᾶ cό từ thời nhà Nguyễn. Ngoài ra cὸn cό nhiều địa danh mới chào đời.

________________

(1) Long Biên nằm trong tỉnh Bắc Ninh là nσi chάnh quyền đô hộ Trung Hoa ngày xưa đặt phὐ trị. Nhiều người nhầm tưởng Long Biên là Hà Nội và liên tưởng đến cầu Long Biên bắc ngang qua sông Hồng.

(2) Cό một loᾳi điệp to lớn cό hoa đὀ thắm nở vào mὺa hѐ rất đẹp. Hoa đό gọi là phượng vῖ thuộc gia đὶnh Caesalpiniaceae và được biết dưới tên khoa học Delonix regia.

(3) ‘Tuy’ cῦng cό nghῖa là yên ổn. Chữ ‘An’ và ‘Yên’ viết và phάt âm khάc nhau nhưng cὺng một nghῖa.

(4) Biên Hὸa: hὸa bὶnh ở biên giới. Vào thế kỷ 17 Biên Hὸa được xem là vὺng biên giới giữa địa bàn cai trị cὐa họ Nguyễn và phần cὸn lᾳi cὐa Chiêm Thành và Thὐy Chân Lᾳp. An ninh cὐa địa điểm nầy bấp bênh trên lу́ thuyết hσn là trên thực tế.

(5) Chữ ‘Bὶnh’ trong địa danh Bὶnh Định không cό nghῖa là hὸa bὶnh mà cό nghῖa là sự bὶnh định. Qui Nhσn được cἀi danh thành Bὶnh Định nᾰm 1799 khi quân họ Nguyễn đάnh chiếm thành nầy. Chữ ‘Bὶnh’ trong địa danh Bὶnh Minh (quận Bὶnh Minh trong tỉnh Vῖnh Long) cῦng không cό nghῖa là hὸa bὶnh, bὶnh an. Bὶnh minh là lύc trời vừa sάng. Chữ ‘Bὶnh’ trong địa danh Bὶnh Chuẩn cῦng không cό nghῖa là hὸa bὶnh. ‘Bὶnh’ ở đây cό nghῖa là thᾰng bằng, không lệch lᾳc. ‘Chuẩn’ là mực thước. Bὶnh Chuẩn là một làng trong tỉnh Thὐ Dầu Một (Bὶnh Dưσng). Vào thế kỷ 19 vua Tự Đức thành lập Bὶnh Chuẩn Ty phụ trάch về việc thưσng mᾳi.

(6) Chữ ‘Minh’ trong địa danh Minh Hưσng chỉ nhà Minh. Làng Minh Hưσng là nσi cư trύ cὐa người Trung Hoa khάng Mᾶn Thanh thất bᾳi và chᾳy xuống miền Nam được chύa Nguyễn cho vào khai thάc vὺng đất mới cὐa Thὐy Chân Lᾳp. Minh Hưσng; đồng hưσng cὐa Minh triều.

(7) Vua Gia Long tức Vua Thάi Tổ nhà Nguyễn đưa ra nguyên tắc tam bất lập: a. không lập Hoàng Hậu, b. không lập Trᾳng Nguyên, c. không lập Tể Tướng (Thὐ Tướng). Vị Vua thứ 13 là vị Vua cuối cὺng cὐa nhà Nguyễn lập Hoàng Hậu nᾰm 1934, bổ nhiệm Trần Trọng Kim làm Thὐ Tướng nᾰm 1945 và thoάi vị vào nᾰm nầy.

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

tongphuochiep