Đọc khoἀng: 80 phύt

Trong một bài giἀng đầu tiên cὐa tôi cho một lớp sinh viên nghiên cứu khἀo cổ học nᾰm thứ tư tᾳi Đᾳi học Nghệ thuật Hoàng gia ở Phnom Penh, tôi đề xuất thἀo luận về Phὺ Nam, mà hầu hết đều tin là đᾶ tồn tᾳi ở Nam Cambodia và Việt Nam, phάt triển dọc theo Vịnh Thάi Lan đến bάn đἀo Mᾶ Lai và cό niên đᾳi từ thế kỷ 1-7, bằng cάch hὀi sinh viên xem họ biết gὶ về những khởi đầu cὐa chίnh thể đό. Một sinh viên nhanh nhẩu trἀ lời: “Preah Thong và Neang Neak”1. Câu trἀ lời đό tất nhiên thuộc địa hᾳt dᾶ sử, và hai cάi tên đό không hề thấy trong bất cứ vᾰn liệu nào liên quan đến Phὺ Nam, cὸn thong, một từ tiếng Thάi cό nghῖa là “vàng”, cho đến thế kỷ 14 vẫn chưa hề xuất hiện trong vốn từ vựng Khmer.

Không cὸn nghi ngờ gὶ rằng đό là việc người Cambodia đᾶ cἀi biên huyền thoᾳi lập nướcAyutthaya [Hà Hữu Nga: từ nguyên अयोध्य* Ayodhya, không thể cưỡng chống nổi*; riêng tôi, cὸn suy nghῖ và liên hệ đến hai từ nguyên khάc là आयुधीयAyudhiya, chiến sў, người chiến binh; và अयुध्य Ayudhya, bất khἀ chinh phục*?] gắn liền với hoàng tử U Thong, “chiếc nôi vàng”; về nhân vật này, ίt nhất cῦng cό tới 6 phiên bἀn lу́ giἀi cάc nguồn gốc khάc nhau, trong đό cό một phiên bἀn nόi về cội rễ Cambodia cὐa ông 2.

Cό lẽ những người thực sự tin vào dᾶ sử sẽ trἀ lời rằng việc quay trở lᾳi vấn đề Phὺ Nam chỉ là cάi tên mới cὐa một tίch truyện cῦ mà thôi. Đό cό lẽ là một у́ tưởng ẩn sau một tiết mục mύa tᾳi buổi lễ Hành trὶnh Vᾰn hόa Dân tộc ngày 3 thάng Tư nᾰm 1999 tᾳi Phnom Penh, được giới thiệu là “Hôn lễ Khmer truyền thống …biểu tượng và phἀn άnh sự thống hợp cὐa Preah Thong và Neang Neak, hoặc Preah Bat Kaundyn và Neang Soma [sic Somâ] [सोम* soma, mặt trᾰng, nước, không khί, chân không, trời, bầu trời, giό, rượu tiên, rặng nύi*], hoặc Preah Bat Hun Tien và Neang Liv Yi”. Mớ bὸng bong dᾶ sử này đᾶ biến cἀi trật tự niên đᾳi khởi nguồn cάc tίch truyện.

Tên nhân vật cὐa cặp thứ ba thực sự được tὶm thấy trong một số vᾰn liệu Trung Quốc viết về Phὺ Nam; cặp thứ hai được đề cập sớm nhất trong bi kу́ Champa về Bhavapura [भावपुर* Đô thành Vῦ trụ*] tᾳi Cambodia vào thế kỷ thứ 7, và một vài thế kỷ sau đό trong cάc bi kу́ giai đoᾳn Angkor, cὸn cặp đầu tiên cό thể chỉ bắt nguồn từ giai đoᾳn hậu Angkor. Tất nhiên cάc tước vị hoàng gia thὶ hoàn toàn sai niên đᾳi. Cάc tước vị Preah Bat/brah [ब्र* brah bἀn thể, thần thάnh, linh thiêng, mênh mông, bao la, rộng lớn*] pada [पद* pada, bἀo hộ, che chở*] không được biết đến ở Phὺ Nam.

Trong thực tế thὶ thậm chί nό cὸn không được sử dụng trong vᾰn khắc giai đoᾳn Chân Lᾳp thế kỷ 7-8, và mặc dὺ thông thường tᾳi Angkor không hề thấy cάi tên Kaundinya [Hà Hữu Nga: trong vᾰn liệu Ấn Độ, cό một người nổi tiếng, mang tên अज्ञात कौण्डिन्य* Ajnata Kaundinya, đό là một trong 24 vị La Hάn đầu tiên trong tᾰng đoàn cὐa Đức Phật thế kỷ 6 TCN] “từ Ấn Độ hoặc từ bάn đἀo Mᾶ Lai, hoặc cάc đἀo phưσng nam [nhấn mᾳnh thêm]” trong bất kỳ bi kу́ nào 3.

Hσn nữa, cάc tίch truyện lᾳi đều khάc nhau. Neang Neak, nửa người, nửa rắn naga, là một nhân vật siêu nhiên, Soma là một nữ thần, nhưng Liv Yi, Liu-ye, Liễu Diệp thὶ hoàn toàn là một nữ thὐ lῖnh cộng đồng người cὐa mὶnh. 4 Dᾶ sử cό thể vô hᾳi, gây cười, và thậm chί mang tίnh khai trί, nếu cό phưσng phάp nhiên cứu đύng, nhưng nếu άp đặt nghiên cứu lịch sử một cάch khoa học vào cάc tư liệu gốc thὶ chί ίt cῦng là mất thời gian, và sẽ thật tồi tệ nếu άp đặt nghiên cứu khoa học với mục đίch làm tᾰng thêm cάc định kiến dân tộc, sắc tộc thὶ thật là nguy hiểm.5

Phὺ Nam: Một tổng hợp chuẩn mực

Bộ Les États Hindouisе́s, Cάc quốc gia Ấn Độ hόa, trong đό cό lịch sử đᾳi cưσng Phὺ Nam thuộc loᾳi thông sử Đông Nam Á, cὐa George Coedѐs được người đọc biết đến rộng rᾶi, là một bộ sάch mang tίnh lу́ tưởng và chuẩn mực để những công trὶnh đi sau học hὀi 6. Nό không bὀ qua cάc yếu tố dᾶ sử, ngay cho dὺ là một bộ sάch đậm chất dᾶ sử, như chύng ta sẽ thấy, nhưng loᾳi dᾶ sử đό chắc chắn trở thành một bộ phận trong hành trang tri thức cὐa nhiều nhà Đông phưσng học cổ điển 7.

Trong bộ sάch này chύng ta biết được rằng Funan/Fou-nan/b’iu nậm, một cάi tên cό thể cό nghῖa là “nύi” trong tiếng Khmer (hiện đᾳi là phnom, cổ đᾳi là vnam) được thành lập khi một người Bà La Môn  ब्रह्मन्*  braman tên là  कौण्डिन्य*  Kaundinya “từ Ấn Độ hoặc từ bάn đἀo Mᾶ Lai, hoặc cάc đἀo phưσng nam [nhấn mᾳnh thêm]”, cᾰn cứ vào một giấc mσ, đᾶ được trao một cây cung thần thông và dong buồm ra đi, cuối cὺng cập bến ở Cambodia, tᾳi đây ông gặp một nữ thὐ lῖnh cό tên là Liu-ye/Lieou-ye/Ljêu Iap. Đầu tiên bà ta tὶm cάch khάng cự, nhưng không thể đối địch được với chiếc cung thiêng cὐa người Bà La Môn, nữ thὐ lῖnh đᾶ phἀi quy phục, rồi họ cưới nhau, và thành lập triều đᾳi đầu tiên cὐa cάc thὐ lῖnh Phὺ Nam 8.

Tίch truyện này thể hiện cάi mà Coedѐs gọi là cuộc “Ấn Độ hόa Đầu tiên” 9. Sau đό Phὺ Nam cὐa Coedѐs tiếp tục phάt triển như một chίnh thể ven biển quan trọng, mà cάc chi tiết về chίnh thể này được biết tới nhờ cάc vᾰn liệu Trung Quốc, thông qua một số thὐ lῖnh địa phưσng mà một kẻ tiếm quyền Ấn Độ, một Kaundinya thứ hai, cῦng từ Ấn Độ và theo Coedѐs thὶ là người đem lᾳi một cuộc “Ấn Độ hόa lần hai”, cho đến cuối thế kỷ thứ 6 hoặc đầu thế kỷ thứ 7 thὶ Phὺ Nam đᾶ bị nước chư hầu cὐa mὶnh là Chân Lᾳp ở phίa bắc đάnh bᾳi, và theo một số giἀi thίch, mặc dὺ không rō ràng theo cάch cὐa Coedѐs thὶ cỗ chiến xa cὐa người Khmer đᾶ bắt đầu chống lᾳi nước Phὺ Nam phi-Khmer 10.

Tiếp tục với Coedѐs, thὐ đô cὐa Phὺ Nam mang tên tiếp Phᾳn là व्याधपुर*Vyâdhapura 獵人城* Liệp nhân thành, Đô thành thợ sᾰn, và một tên gọi khάc theo tiếng địa phưσng mà người Trung Quốc gọi là 特牧城* T’e-mu Đặc Mục thành ở gần Ba Phnom. Khi nước chư hầu Chân Lᾳp ở phίa bắc tấn công, cάc thὐ lῖnh Phὺ Nam đᾶ bὀ chᾳy đến một nσi mới mà tiếng Trung Quốc gọi là na-fu-na, được Coedѐs dịch là नरवरनगर*  naravaranagara, 優秀人城 [Ưu tύ nhân thành *]  thành xa hσn về phίa nam, và Coedѐs cho là ở Angkor Borei.

Cάc sử liệu Trung Quốc rất mσ hồ trong việc giἀi thίch về tổ chức nội tᾳi Phὺ Nam, và ngày nay chύng ta không cὸn bất cử nguồn sử liệu nào khάc, vὶ vậy chắc chắn là nhiều kết quἀ lịch sử chuẩn mực từ cάc giἀ thuyết đều ίt nhiều dựa trên chύt bằng chứng nhὀ nhoi cὸn lᾳi. Cάc thὐ lῖnh đầu tiên cό cάc tước vị bắt đầu bằng cάc từhun/houen/ yuσn. Vào thế kỷ thứ ba, đᾶ cό cάc thὐ lῖnh mang tước vị fan/b’jσmđứng trước những cάi tên cό một hoặc hai âm tiết bằng ngôn ngữ địa phưσng. Vào cάc thế kỷ 5-6 người Trung Quốc ghi được hai cάi tên  वर्मन्* varman người bἀo vệ*, phὺ hợp với bi kу́ bằng tiếng Phᾳn được định niên đᾳi cὺng thời. Ở đây, chί ίt chύng ta cῦng cό đôi chύt cσ sở, nên dὺ sao thὶ chύng cῦng rất đάng giά.

Trong một số sử liệu cuối cὺng cὐa Trung Quốc đề cập đến Phὺ Nam vào thời nhà Đường, cό nόi rằng vào thời Tὺy (581-618) cάc thὐ lῖnh Phὺ Nam được gọi làKoulong, dễ dàng liên hệ với tước vị cao cὐa người Khmer là kuruň, một loᾳi thὐ lῖnh địa phưσng, mặc dὺ tước vị này không thấy trong bất kỳ bi kу́ nào cὺng thời. Nếu trong trường hợp đό sử liệu Trung Hoa chίnh xάc thὶ cό thể thấy rằng kuruň cό một vị thế cao hσn vào thế kỷ 7, khi cάc tên vua và cάc tước vị đᾶ được ghi trong cάc bi kу́.

Louis Finot biện luận rằng cάc vua Phὺ Nam cό tước vị kuruň bnam, vua nύi, nhưng như Claude Jacques đᾶ chỉ rō điều đό là không cό cσ sở. Trong thực tế, chύng ta không hề biết gὶ về cάc tước vị cὐa cάc thὐ lῖnh Phὺ Nam ngoài Hun, Fan và वर्मन्* varman12.  Sử liệu đời Đường cῦng chỉ cho ta biết một cάi tên thὐ đô Phὺ Nam 特牧* T’e-mu mà cάc thὐ lῖnh Phὺ Nam đᾶ rời bὀ khi bị quân cὐa vua Chân Lᾳp  चित्रसेन*  Citrasena 13  [Người cό ngọn lao sάng*] tấn công. Một điều rất quan trọng cần phἀi ghi nhận là cάc diễn giἀi cὐa cάc sử liệu Trung Quốc sớm về Phὺ Nam không hề nhắc đến tên kinh đô, mà chỉ nόi nό cάch biển 500 hἀi lу́ (200km) mà thôi 14.

Coedѐs là một nhà tổng hợp vῖ đᾳi – ông thực sự là một tài nᾰng lớn nhất với tư cάch là một tάc gia diễn giἀi lịch sử; và ông phἀi tὶm ra hoặc tưởng tượng, một mối nối giữa mỗi chi tiết với một chi tiết nào đό khάc ở mọi lύc mọi nσi 15. Pelliot, chịu trάch nhiệm về những nghiên cứu chὐ yếu về Phὺ Nam, cῦng là một nhà tổng hợp đầy nghị lực, dὺ cὸn thua Coedѐs nhiều, nhưng ông lᾳi không sợ giật lὺi mà tuyên bố rằng một số chi tiết lᾳi không ᾰn nhập với nhau 16.

Trong bài viết kinh điển Le Fou-nan,  mà toàn bộ cάc công trὶnh khάc đều dựa vào đό, thὶ rō ràng là người Trung Quốc, hết thế hệ này đến thế hệ khάc và từ lịch sử triều đᾳi này đến triều đᾳi khάc đều lặp lᾳi cῦng vẫn những tίch truyện đό, không hề cό cάch nào để tiếp cận với cάc nguồn sử liệu mới, và thêm vào hoặc bớt đi cάc chi tiết theo những у́ thίch bất chợt cὐa người biên soᾳn 17. Ông cῦng cho thấy rằng cάc đoᾳn cόp đi cόp lᾳi này đôi khi dẫn đến sự lẫn lộn cάch kết ghе́p cάc chữ Hάn với nhau theo những nghῖa, những âm hoàn toàn khάc, dẫn đến cάc thông tin sai lᾳc, vô nghῖa trong cάc vᾰn bἀn cuối cὺng 18.

Trong tổng hợp cὐa mὶnh khoἀng 40 nᾰm trước công trὶnh đầu tiên cὐa Coedѐs, Pelliot nhấn mᾳnh tίnh chất đάng tin cậy cὐa một số công trὶnh nghiên cứu cό quy mô rộng lớn hσn về ἀnh hưởng cὐa Ấn Độ, nhưng ngược lᾳi với quan điểm sau này cὐa Coedѐs, ông cho rằng kinh đô 特牧* Đặc Mục cὐa Phὺ Nam cό lẽ ở Angkor Borei, đối với ông, hàm у́ là na-fu-na नरवरनगर* naravaranagara, 優秀人城 * [Ưu tύ nhân thành*] phἀi nằm trong vὺng Kampot 19. Cho dὺ Pelliot là một nhà khoa học giὀi hσn nhà khoa học Coedѐs, nhưng cἀ hai đều nhὶn Phὺ Nam và Đông Nam Á thông qua lᾰng kίnh Ấn Độ học; và cάc giἀ thuyết dựa vào những gὶ mà những người Ấn Độ đᾶ phἀi thực hiện, hoặc những gὶ mà vᾰn hόa Ấn Độ đᾶ làm ở Đông Nam Á, đᾶ đến với họ một cάch tự nhiên bất cứ khi nào cό một chi tiết lᾳ cần phἀi diễn giἀi 20.

Những điều mà tôi muốn giἀi gỡ lᾳi không phἀi chỉ là Coedѐs và Pelliot, mà cὸn là cάc sử liệu Trung Hoa về Phὺ Nam, như đᾶ được Pelliot dịch và thἀo luận, để tὶm kiếm những giἀi phάp khάc cho một số vấn đề cό liên quan. Một nhiệm vụ tưσng tự như vậy đᾶ được Eveline Porе́e-Maspero thực hiện, nhưng công trὶnh cὐa bà đᾶ bị bὀ qua, rō ràng là vὶ cάc kết luận cὐa bà đôi khi khάc với cάc kết luận cὐa tôi, là một phần cὐa sự ὐng hộ cho lу́ thuyết về xᾶ hội Khmer được chia thành hai nhόm hôn nhân 21.

Tiền sử Phὺ Nam

Chύng ta hᾶy bắt đầu với tiền sử Phὺ Nam theo cάc vᾰn liệu Trung Quốc. Cό nghῖa là thông tin về quά khứ cổ đᾳi cὐa mὶnh đᾶ được người Phὺ Nam cung cấp cho cάc sứ bộ đầu tiên cὐa Trung Quốc là 康泰* Khang Thάi và 朱應* Chu Ứng, đᾶ đến Phὺ Nam giai đoᾳn 245 – 250 SCN. Cάc tίch truyện này là những truyền thống truyền khẩu, hoàn toàn khάc về giά trị bằng chứng lịch sử thu được từ cάc quan sάt cὐa những người khάc đến Phὺ Nam, hoặc cάc bάo cάo đưσng thời mà người Trung Quốc cό được về Phὺ Nam 22.

Dᾶ sử cὐa người Phὺ Nam cῦng giống như dᾶ sử cὐa nhiều dân tộc khάc, cἀ ở châu Á lẫn châu Âu, đều bắt đầu bằng một truyền thuyết khai sάng; và cῦng giống như cάc truyền thuyết khai sάng khάc nό liên quan đến một anh hὺng cό nguồn gốc ngoᾳi quốc 23. Cάc sứ bộ Trung Quốc đầu tiên vào thế kỷ thứ ba đᾶ nghe kể về truyền thuyết này, và nό đᾶ được kể lᾳi trong cάc cuộc tiếp xύc sau đό giữa Phὺ Nam và Trung Quốc, và được ghi lᾳi trong một số vᾰn liệu lịch sử Trung Quốc. Ngoài ra cὸn cό 4 phiên bἀn khάc nhau về cάch thức thύ vị này.

– Phiên bἀn đầu tiên cό được từ bάo cάo cὐa 康泰* Khang Thάi vào thế kỷ 3 SCN và được lưu giữ trong cάc ghi chе́p về sau. Thὐ lῖnh Phὺ Nam đầu tiên là một phụ nữ cό tên là 柳葉 Liễu Diệp Liu-ye/Lieouye/liǝu-iäp. Cὸn 混填* Hỗn Điền Hun/Ƴuǝn/ Houen-chen/ là người thờ một vị thần, cό xuất sứ từ 摸趺國* Mᾳc Phu quốc, nhờ được ban chiếc cung thần, đᾶ khuất phục được 柳葉* Liễu Diệp và trở thành vị vua đầu tiên cὐa Phὺ Nam [Pelliot 1925- 3[6].24 .

– Phiên bἀn 2, vᾰn liệu III-(3[6]): nữ thὐ lῖnh người Phὺ Nam là 柳葉* Liễu Diệp. Cὸn 混填[潰]* Hỗn Điền [Hội] là một người nước ngoài thờ cάc thần linh nên cό được cây cung thần, theo thưσng thuyền đến Phὺ Nam, khuất phục Liễu Diệp rồi cưới bà làm vợ 25.

– Phiên bἀn 3, vᾰn liệu V-(4[6]): nữ thὐ lῖnh người Phὺ Nam là 柳葉* Liễu Diệp. Cὸn 混填* Hỗn Điền là một người 激國* Kίch quốc, cό cây cung thần, đến Phὺ Nam, cưới Liễu Diệp 26.

– Phiên bἀn 4, vᾰn liệu VI-(6[7]): nữ thὐ lῖnh người Phὺ Nam là 柳葉* Liễu Diệp. Cὸn 混填* Hỗn Điền là một người 徼国* Kiếu quốc ở phưσng Nam, thờ cάc thần linh nên cό cây cung thần, đến Phὺ Nam, cưới Liễu Diệp. Họ cὺng cai trị vưσng quốc và chia 7 thành cho cάc con trai 27.

Như Pelliot đᾶ nhấn mᾳnh, trong vài thế kỷ, một số tίch truyện về Phὺ Nam đᾶ được kể đi kể  lᾳi, nên thay đổi một số chi tiết trong một số bộ sử Trung Quốc. Điều đό rất đύng với cάc tίch truyện từ thời tiền sử; và đό cῦng là cάc tίch truyện cό ἀnh hưởng nhất đến cάc nhà tổng hợp hiện đᾳi về lịch sử Phὺ Nam. Trong sự kiện tiền sử đầu tiên này, việc hὶnh thành hoàng tộc đầu tiên, không cό bằng chứng cho thấy người chinh phục đầu tiên cό nguồn gốc Ấn Độ, cῦng không cό gὶ rō ràng về việc ông là một người Bà La Môn, và hầu như chắc chắn tên ông chỉ được ghi bằng tiếng Trung Quốc chứ không phἀi là कौण्डिन्य* Kaundinya, như chύng tôi sẽ giἀi thίch dưới đây.

Về vấn đề thứ nhất Pelliot đᾶ đồng у́. Ông không thể đưa ra bất cứ gợi у́ nào cho激國* Kίch quốc, 徼国* Kiếu quốc, mà chỉ coi chύng là những biến thể cὐa một cάi tên duy nhất, và lưu у́ rằng 徼国* Kiếu quốc ở phίa nam Phὺ Nam. Cὸn về trường hợp 摸趺國* Mᾳc Phu quốc, theo bάo cάo cὐa Khang Thάi, thὶ trong một đoᾳn khάc cὐa vᾰn liệu này quê hưσng cὐa người lᾳ ấy lᾳi cό tên là Heng-tie, trong khi đό theo Pelliot thὶ những chữ Hάn Mo/Heng và Fu/Tie hoàn toàn tưσng đồng và được người đi sau, không biết gὶ về cάc địa phưσng đό, đᾶ chе́p thế cho nhau. Để quyết định xem chữ nào giống với nguyên mẫu nhất, Pelliot đᾶ sử dụng phưσng phάp chọn “cάc chữ đᾶ được sử dụng trong việc chuyển dịch [cάc tên nước ngoài]” và ông đᾶ chọn để kết hợp Mo-tie/mâk-d’iet 28.

Cάch kết hợp đό cό thể không chίnh xάc, nhưng bάo cάo dẫn hai từ “Heng-tie” cho rằng nό nằm ở đông nam Yeou-po, cάch Ấn Độ về phίa đông nam 5000 hἀi lу́. Trong trường hợp đό thὶ nới mà Hỗn Điền khởi hành để đến Phὺ Nam cό thể thuộc bờ biển phίa đông cὐa bάn đἀo Mᾶ Lai. Vὶ vậy mới cό chuyện Coedѐs rất mὺ mờ trong việc định vị địa điểm này như đᾶ nόi ở trên. Sự mσ hồ đό lᾳi kѐm theo với cάc huyền thoᾳi chίnh trị Indonesia trong đό “nhấn mᾳnh …là…ở “bên kia biển” chứ không cό một địa điểm xάc định” 29.

Cὸn về cάi tên cὐa vị khάch cό âm tiết đầu là Hun/Ƴuǝn, cὸn âm tiết thứ hai thὶ Pelliot vά vίu với cάc chữ Hάn trong bốn phiên bἀn trên thành Tien hoặc D’ien để cό thể chấp nhận được về phưσng diện ngữ âm học nhằm thể hiện một cάch hợp lу́ âm tiết thứ hai cὐa cάi tên Kaundinya. Tuy nhiên nếu đό là cάi tên gốc thὶ thật đάng ngᾳc nhiên là không hề cό một vᾰn bἀn nào nhắc đến âm tiết thứ ba, vὶ như cάc nghiên cứu Hάn tự đᾶ nhấn mᾳnh, người Trung Quốc đᾶ rất tài nᾰng trong việc chuyển âm một cάch hệ thống ở nhiều khu vực tᾳi châu Á, đặc biệt là cάc vὺng sử dụng ngôn ngữ Ấn Độ 30.

Về phưσng diện định hướng tôn giάo cho Hun/Ƴuǝn cάc nguồn gốc trên bάn đἀo Mᾶ Lai cὐa ông nόi riêng mà Pelliot cho là cό thể không muộn hσn thế kỷ I, đᾶ gây khό dễ cho việc chấp nhận ông thờ cύng một vị thần, hoặc cάc vị thần, thὶ là người Ấn Độ. Hσn nữa, như đᾶ chỉ ra bên dưới, bἀn thân người Phὺ Nam thời gian đό không chắc chắn quen thuộc Ấn Độ. Trừ phiên bἀn thứ nhất, cἀ ba phiên bἀn đều tiếp tục tίch truyện bằng những cung cάch khάc nhau như sau:

– Phiên bἀn 2 III-(3[6]): dὸng dōi cὐa Liễu Diệp và Hỗn Hội cai trị.

– Phiên bἀn 3 V-(4[6]): con chάu cὐa Liễu Diệp và Hỗn Điền cai trị đến khi 混盤況*Hun Pan huang Hỗn Bàn Huống chết 31.

– Phiên bἀn 4, VI-(6[7]): Hỗn Điền và Liễu Diệp cό một con trai và họ đᾶ phân phong cho người này một thάi ấp gồm 7 thành. Một hậu duệ là 混盤況* Hun Pan huang Hỗn Bàn Huống đᾶ kiểm soάt toàn bộ cάc thành, sau đό phân phong cho con chάu cai trị 32.

Tiếp đό, giai đoᾳn thứ ba trong ba phiên bἀn trên là:

-III-(3[6]): cάc hậu duệ cὐa Liễu Diệp và Hỗn Hội suy yếu và mất quyền thống trị. Sau đό viên tướng 範熊* Fan Hsiun/Siun Phᾳm Hὺng bắt đầu một triều đᾳi mới.

-V-(4[6]): sau khi 混盤況* Hun Pan huang Hỗn Bàn Huống chết, người ta chọn viên tướng tài 范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn lên làm vua. Khi ông chết thὶ范旃* Fan chan, Phᾳm Chiên, người chάu con chị gάi cὐa ông giết chết con cἀ cὐa范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn và lên làm vua; sau đό một người con khάc cὐa 范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn, là  范長* Fan chang Phᾳm Trường, giết chết 范旃* Fan chan, Phᾳm Chiên. Rồi viên tướng cὐa 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên là 范金* Fan hsin Phᾳm Kim giết chết 范長* Fan chang Phᾳm Trường, và người dân nước này chọn ông làm vua. Điều đό xἀy ra vào thời Ngô (222-280), và Tấn (265 – 419) 33.

– VI-(6[7]): người con thứ hai cὐa 混盤況* Hun P’an huang Hỗn Bàn Huống là 盤盤* P’an P’an Bàn Bàn nối ngôi và trao công việc quốc gia cho viên tướng 范蔓*Fan man Phᾳm Mᾳn [cῦng chίnh là 范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn hoặc Sri Mara trong cάc tίch truyện khάc]. Sau khi 盤盤* P’an P’an Bàn Bàn chết, người dân tôn 范蔓* Fan man Phᾳm Mᾳn lên làm vua. 范蔓* Fan man Phᾳm Mᾳn đόng những con tàu lớn và chinh phục cάc quốc gia lάng giềng, gồm cἀ Tun sun Đốn Tốn. Ông được tôn là “Vị vua Vῖ đᾳi cὐa Phὺ Nam”. Sau đό là cάc cuộc giết trόc nội tộc, rồi 范金* Fan hsin Phᾳm Kim, viên tướng cὐa 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên lên ngôi 34.

Trong cάc vᾰn liệu Trung Quôc, cὸn một tὶnh tiết khάc trước khi bước vào giai đoᾳn lịch sử cὺng thời với cάc sứ bộ đầu tiên cὐa Trung Quốc.

– X-(3[5]): Trong thời 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên [chάu cὐa 范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn], một người nước T’an Yang đến Ấn Độ, sau đό đến Phὺ Nam và ông ta đᾶ kể cho 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên về cάc phong tục, sự giàu cό và vῖ đᾳi cὐa Ấn Độ 35.

– VI-(6[7]), 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên phάi một sứ bộ đến Ấn Độ. Ông ta đi dọc ven biển [phίa tây cὐa bάn đἀo] sau đό đến con sông Ấn Độ [Hằng Hà?], mất một nᾰm để tới được thành phố nσi vua Ấn Độ trị vὶ. Vua Ấn Độ ngᾳc nhiên gặp ông, vὶ nhà vua không biết gὶ về Phὺ Nam. Ông cử một phάi bộ đến Phὺ Nam mang theo 4 con ngựa; phάi bộ Ấn Độ cὺng về với phάi bộ Phὺ Nam, và họ từ Ấn Độ về đến Phὺ Nam sau 4 nᾰm kể từ khi phάi bộ Phὺ Nam được gửi đi Ấn Độ. Đό cῦng chίnh là thời gian mà cάc phάi bộ đầu tiên cὐa Trung Quốc đến Phὺ Nam. Họ hὀi những người Ấn Độ rất kў về đất nước Ấn Độ 36.

Với tὶnh tiết này, chύng ta đang ở trong thời đoᾳn lịch sử cὺng cάc sứ bộ đầu tiên cὐa Trung Quốc đến Phὺ Nam khi 范金* Fan hsin Phᾳm Kim lên làm vua. Vὶ vậy hai vụ sάt hᾳi nội tộc cuối cὺng trong triều đᾳi Fan cὐa 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên do 范長* Fan chang Phᾳm Trường gây ra, và sau đό là do 范金* Fan hsin Phᾳm Kim gây ra, đᾶ diễn ra trong 4 nᾰm khi phάi bộ đi Ấn Độ.

Trong cάc diễn giἀi này chύng ta thấy trước hết là một triều đᾳi Hun với số thế hệ không thể xάc định được, tiếp theo đό là triều đᾳi Fan rất ngắn rō ràng là thuộc thế hệ thứ ba, nόi là “rō ràng” bởi vὶ mối quan hệ giữa 范金* Fan hsin Phᾳm Kim với những người kế thừa trực tiếp không được ghi lᾳi, đᾶ trị vὶ Phὺ Nam khi người Trung Quốc tới vào cάc nᾰm 245 – 250 SCN 37.

Mặc dὺ Pelliot muốn thấy cάi tên Hỗn Điền mà trong thực tế là một hỗn hợp bốn cάi tên khάc nhau (trong âm tiết thứ hai) trong bốn vᾰn bἀn khάc nhau, khi người Trung Quốc dịch hai âm tiết đầu tiên [kaun-diri] từ cάi tên Kaundin[ya], thὶ việc diễn giἀi này được chuyển dịch cό vẻ không hợp lу́ bằng tên tước vị hậu duệ cὐa ông là 混盤況* Hun P’an huang Hỗn Bàn Huống, trong đό âm tiết thứ hai và thứ ba không ᾰn nhập với âm tiết thứ nhất để cό được bất kỳ một cάi tên hoặc một tước vị nào cὐa Ấn Độ đᾶ biết; cὸn riêng từ kaun không được dὺng làm đᾳi diện cho cάi tên ‘Kaundinya’ hoặc bất cứ cάi tên nào khάc được. Chύng ta phἀi kết luận rằng Hun/Ƴuǝn là một tên thị tộc hoặc một tước vị tiền sử Austronesian hoặc Mon-Khmer mà trong huyền thoᾳi gốc cὐa Phὺ Nam chίnh là tước hiệu cὐa cάc thὐ lῖnh, cό lẽ là huyền thoᾳi, đầu tiên38.

Dưới đây chύng tôi sẽ đưa thêm bằng chứng khάc cho thấy Hun/Ƴuǝn không hề cό liên hệ gὶ với cάi tên ‘Kaundinya’ cἀ. Cάc tίch truyện kể về vị thὐ lῖnh Hun đầu tiên đᾶ trao cἀ 7 thành cho cάc con trai ông cῦng quά mσ hồ đối với một nghiên cứu nghiêm tύc, và cάc tίch truyện đό thuộc về một truyền huyền thoᾳi rất phổ biến ở Đông Nam Á. Vὶ vậy trong cάc truyền thống Lào những người sάng lập đầu tiên cὐa vưσng quốc này đᾶ cử cάc con trai họ đi lập 7 chίnh thể khάc nhau, được gọi là Mường trong tiếng Thάi và tiếng Lào 39. Pelliot chắc chắn cῦng hiểu rō tίnh chất mong manh trong sάng tᾳo cὐa ông, nhưng vẫn phἀi bἀo vệ nό với một chύt khẩn nài riêng biệt.

Trong công trὶnh nghiên cứu đầu tiên cὐa mὶnh, ông thừa nhận rằng “nguồn thông tin duy nhất về khởi đầu lịch sử cὐa vưσng quốc cổ này mà chύng ta cό được lᾳi mang đặc trưng huyền thoᾳi”; và ông đᾶ dịch hai từ tiếng Hάn 柳葉 Liu ye/Lieouye/liǝu-iäp là “người trị vὶ mσ hồ Lά Liễu”. Hai mưσi hai nᾰm sau ông đᾶ lưu у́ về tίnh chất không chắc chắn cὐa cάc tên địa danh và vị trί cὐa chύng khi nόi rằng tίch truyện về Kaundinya rành rành là cό đặc tίnh truyền thuyết, và chi tiết về chiếc cung thần không là cάi gὶ khάc ngoài một đặc trưng dân gian. Nhưng ông vẫn biện hộ rằng “tuy nhiên cῦng đᾶ cό một thời, khi đό cάc vị Bà La Môn đầu tiên xuất hiện ở Phὺ Nam, và khi đό nền vᾰn minh Ấn Độ đᾶ bе́n rễ. Tᾳi sao lᾳi là vô lу́ khi một Kaundinya thực sự là một trong những tάc nhân chὐ yếu cὐa quά trὶnh Ấn Độ hόa đό?” 40.

Trước hết, ngay cἀ khi không cό bất cứ lợi ίch gὶ cὐa sự nhận thức muộn màng dưới dᾳng cάc nghiên cứu sau này về quά trὶnh “Ấn Độ hόa”, thὶ cάi thời được gάn cho Hỗn Điền, thế kỷ I SCN cῦng là quά sớm. Không hề cό bằng chứng về quά trὶnh Ấn Độ hόa [tôn giάo, nghệ thuật, kiến trύc, cάc khάi niệm về nhà nước] ở bất cứ nσi nào tᾳi Đông Nam Á vào thời điểm đό. Hσn nữa, bἀn thân người Phὺ Nam cῦng không hề thừa nhận Hỗn Điền là người đem đến cho họ vᾰn hόa Ấn Độ, mà họ cho rằng họ hoàn toàn mὺ tịt về Ấn Độ trước thời 范旃* Fan chan Phᾳm Chiên trị vὶ, rō ràng là vào đầu thế kỷ III SCN. Pelliot biết rō về điều này và bị rắc rối với chίnh nό, nhưng ông đᾶ gᾳt nό sang một bên bằng cάch nόi “cό lẽ chύng ta không nên hiểu vᾰn bἀn chỉ theo nghῖa đen” 41.

Và với sự nhận thức học thuật muộn màng, tôi nghῖ một số ίt người sẽ không cὸn biện hộ cho ἀnh hưởng cὐa Ấn Độ là do cάc Bà La Môn vào bất kỳ thời gian nào, hoặc cho rằng “Nền vᾰn minh Ấn Độ đᾶ được cấy vào”. Đây là cάc yếu tố học thuật cὐa vᾰn hόa dân gian sớm ở Đông Nam Á cần phἀi được thay thế bằng cάc cấu trύc mới. Như Pierre-Yves Manguin đᾶ lưu у́ “Không gὶ cό thể ίt chίnh xάc hσn quan điểm cὐa Coedѐs về tίnh chất lᾳc hậu cὐa Đông Nam Á trước khi cό người Ấn Độ giάo tới]. Cάc nghiên cứu khἀo cổ học trong vὸng ba mưσi nᾰm nay đᾶ chứng minh rằng quά trὶnh “Ấn Độ hόa” [Đông Nam Á] trong thế kỷ I SCN đᾶ diễn ra sau khoἀng một thiên niên kỷ giao lưu đều đặn với Ấn Độ, trong đό cάc nhόm cư dân Đông Nam Á bắt đầu tự tổ chức thành cάc hệ thống chίnh trị với mức độ phức hợp ngày càng tᾰng, đᾶ đόng vai trὸ quyết định, đặc biệt là trong việc hὶnh thành mᾳng lưới thưσng mᾳi biển khai thάc vàng và thiếc” 42.

Tίch truyện về người anh hὺng khai sάng đến từ bên kia biển là một thành tố cὐa cάc huyền thoᾳi khai sάng phổ biến rộng rᾶi, trong đό một vị vua hoặc một anh hὺng từ nước ngaoif tới cưới con gάi cὐa một thὐ lῖnh địa phưσng, mà trong thực tế không ai lᾳi coi đό là một diễn giἀi lịch sử cό thật 43.

Bên cᾳnh hoàn cἀnh mà những cάi tên Hun/Ƴuǝn không cho phе́p phục hồi lᾳi thành “Kaundinya”, thὶ tên cὐa người nữ thὐ lῖnh Phὺ Nam bị Hun/Ƴuǝn khuất phục cῦng vẫn cὸn được để ngὀ cho việc diễn giἀi tiếp. Cάi tên Liu ye/Lieou ye/liǝu-iäp đᾶ được cάc sử gia lấy lᾳi cὐa Pelliot nᾰm 1903 theo nghῖa đen, Lά Liễu [feuille-de-saule]. Tuy nhiên Pelliot đᾶ bị rắc rối với vấn đề này, vὶ ở Cambodia làm gὶ cό cây liễu. Ông gợi у́ rằng đᾶ cό một chuỗi nhầm lẫn trong việc chuyển dịch ra tiếng Hάn, vὶ vậy mà một từ gốc là 椰子* da tử, dừa đᾶ được dịch thành 柳* liễu vὶ hai chữ này rất giống nhau. Nếu đύng như vậy, ông nόi, thὶ cό thể ở Phὺ Nam cό thị tộc dừa “giống như thị tộc dừa mà chύng ta đᾶ biết ở Champa cổ” 44.

Quan điểm này cό vẻ mâu thuẫn bởi việc mổ xẻ vô cὺng kў lưỡng niên đᾳi công trὶnh cὐa người Phάp về bi kу́ Cham cὐa Jean Boisselier. Theo Boisselier “việc đề cập đến cάc bộ tộc क्रमुकवंश* Kramukavamša Cau và नारिकेलवंश*  Narikelavamša  Dừa xuất hiện rất muộn [thế kỷ 11], và hầu như ngẫu nhiên trong bi kу́ Chᾰm…trong bất kỳ trường hợp nào cῦng không cho phе́p đưa cάc у́ tưởng này lui về đến thế kỷ 8”; và “Cάc bộ tộc này, chẳng liên quan gὶ đến điều mà G. Maspero đᾶ nόi về họ, chắc chắn không là gὶ khάc hσn những gia đὶnh thὐ lῖnh địa phưσng, dường như không cό bất kỳ vai trὸ quan trọng nào trước…Ông hoàng Than” (thế kỷ 11) 45.

Nếu đύng như vậy thὶ cό lẽ cần phἀi tίnh đến một cάch diễn giἀi mới về “Lά Liễu”. Mặc dὺ Pelliot chắc chắn rằng Liǝu-iäp không phἀi là một cάch chuyển âm một cάi tên địa phưσng thành cάc chữ Hάn, nhưng thay vὶ cố gắng đi tὶm để phục hồi nghῖa đen cὐa cάi tên địa phưσng, tôi cho rằng cό lẽ chύng ta nên xem xе́t khἀ nᾰng ngược lᾳi, cό thể Liǝu-iäp chỉ là một cάch mà người Trung Quốc diễn đᾳt ngữ âm học cάi tên đό mà không hề quan tâm gὶ đến nghῖa đen cὐa nό khi thể hiện bằng cάc chữ Hάn. Điều đό cό nghῖa là cάi tên gốc cό thể là một cάi tên nào đό như “Liv/liu-eap”, hoặc “Liv/liu-yeap/yàp”. Ngữ âm này không gợi lên bất cứ một mối liên quan trực tiếp nào, nhưng nό lᾳi là một cάi tên cό nghῖa tưσng tự với những cάch chuyển dịch cάi tên Chenla/ Ts’iën-lâp [眞臘*], Lin-i/ Liǝm-iǝp [林邑*] sang chữ Hάn, v.v…trong đό người Trung Quốc cổ cho thấy rằng những cάi tên địa phưσng cό âm tiết cuối là /p/, một đặc trưng ngữ âm học thông dụng trong tiếng Khmer và cάc ngôn ngữ Đông Nam Á khάc 46.

Phὺ Nam: Giai đoᾳn lịch sử

Mặc dὺ những người trị vὶ Fan đầu tiên thuộc giai đoᾳn tiền sử theo nghῖa chặt chẽ cὐa từ đό, nhưng mầm mống cὐa họ là thὐ lῖnh cὐa cάi mà người Trung Quốc gọi là Phὺ Nam khi họ tới đό, và đᾶ tὶm về cội nguồn cὐa người trị vὶ đό không quά ba đời, không quά xa đối với truyền thống truyền khẩu, nếu đύng là như vậy, nhằm cό được một chύt chίnh xάc.  Nếu cό chύt nào chίnh xάc thὶ Phὺ Nam, cῦng giống như cάc vὺng khάc cὐa Đông Nam Á là một chίnh thể ven biển đᾶ khά phάt triển trước khi cό cάc mối quan hệ với Trung Quốc hoặc Ấn Độ. Mặc dὺ không đề cập đến Phὺ Nam, nhưng Manguin cῦng nhấn mᾳnh rằng “Mᾳng lưới thưσng mᾳi – mà một số tham gia vào cάc mô thức trao đổi đường dài – đᾶ được người Đông Nam Á thực hiện rất lâu trước khi cό cάc ἀnh hưởng Ấn Độ thὶ đό chίnh là vὺng này…” 47.

Nếu tίch truyện về người trị vὶ đầu tiên Hỗn Điền phân 7 thành ấp cho con trai ông cὸn rất mσ hồ đối với một nghiên cứu nghiêm tύc, thὶ ngược lᾳi, tίch truyện về cάc cuộc chinh phục cὐa 范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn lᾳi thực sự đάng quan tâm. Ông cho đόng những chiếc tàu lớn và chinh phục cάc quốc gia lάng giềng, kể cἀ 頓孫*, tuǝn suǝn Đốn Tốn và mang tước hiệu Đᾳi vưσng Phὺ Nam.

Ngày nay người ta cần khắc ghi một sự kiện cὐa lịch sử Đông Nam Á, đό là  cάc nhà hàng hἀi vῖ đᾳi cὐa thời đό không phἀi là người Ấn Độ, cῦng không phἀi là người Trung Quốc, mà là người Đông Nam Á, nhất là những người nόi tiếng Nam Đἀo. Sự trἀi rộng cὐa họ từ nội đἀo Đài Loan qua Philippines, Indonesia, đến cάc đἀo Polynesia cὐa Thάi Bὶnh Dưσng, và đi xa tới tận Madagascar, cῦng như cάc cộng đồng người Chᾰm lục địa, đᾶ chứng tὀ rằng cάc cư dân này đᾶ rất giὀi nghề đόng thuyền và cό cάc kў nᾰng định hướng tuyệt vời trong thời tiền sử.

Trong thực tế cάc vᾰn bἀn Hάn cổ về giai đoᾳn Phὺ Nam đều thống nhất rằng khi vượt khὀi vὺng bờ biển bắc và trung Việt Nam ngày nay, họ đều lên cάc con thuyền cὐa người Đông Nam Á 48.

Về vấn đề này, Pelliot đᾶ tὀ rō định kiến Đông phưσng học và Ấn Độ học cổ cho rằng Đông Nam Á lᾳc hậu đᾶ phἀi tiếp nhận mọi thứ tiên tiến từ cάc nền vᾰn minh Trung Quốc, Ấn Độ, hoặc phưσng Tây.  Khi viết về những chiếc thuyền buồm lớn cὐa Phὺ Nam, mà ông gọi là grandes jonques, cό thể chuyên chở vài trᾰm hành khάch được cάc sứ bộ Trung Quốc mô tἀ, Pelliot nόi đό là “tàu Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc, cὸn  vào thời nhà Đường [618 – 906] cάc thὐy thὐ đều là người Mᾶ Lai”, nhưng cάc sứ bộ Trung Quốc đều ghi nhận tất cἀ cάc con thuyền này là cὐa người 崑崙* K’un-lun [舊唐書卷一九七林邑傳云: 自林邑以南,捲髮黑身,通號崑崙*

Cựu Đường thư, Quyển nhất cửu thất, Lâm Ấp truyện vân: tự lâm ấp dῖ nam, quyển phάt hắc thân, thông hiệu côn lôn – Sάch Cựu Đường thư, quyển 197 nόi: Từ Lâm Ấp trở về phίa nam [man di] tόc quᾰn, thân đen đều gọi là Côn Lôn*], một tộc người Đông Nam Á 49, nhưng tất nhiên trong thời Pelliot không đời nào người ta chấp nhận rằng người Mᾶ Lai hoặc những người Đông Nam Á khάc lᾳi là những người đόng được cάc con thuyền lớn hoặc là cάc nhà hàng hἀi.

Cάc kў thuật đόng thuyền đᾶ được mô tἀ kў – một số lớp vάn mὀng được cuốn dây thừng tết bằng sσ dừa rồi trάm kίn nhựa cây, một kў thuật hoàn toàn đάng tin cὐa Đông Nam Á, tuy nhiên Pelliot lᾳi quy cho là thuộc về Vịnh Ba Tư, trong khi đό nguồn thông tin ấy cό niên đᾳi thế kỷ XII. Porе́e-Maspero cῦng hiểu một cάch chίnh xάc tầm quan trọng cὐa nghề đόng thuyền ở Đông Nam Á trong quά trὶnh tiếp xύc đầu tiên với Ấn Độ, nhưng lᾳi phά hὀng bằng cάch đưa ra quan điểm cho rằng cό bằng chứng khẳng định Đông Dưσng đᾶ được Phᾳn hόa thông qua cάc tiếp xύc trên đất liền ở phίa Bắc trước khi họ biết dὺng thuyền tới Ấn Độ 50.

Tiếp đό một chuyên gia lịch sử hàng hἀi khẳng định rằng cάc thuyền mành Kun lun lớn rất sớm đều là cὐa người Đông Nam Á, và đό là “những con tàu khổng lồ được đόng liên tục giống như những con tàu đᾶ được mô tἀ sau này [nhấn mᾳnh thêm] tᾳi Ấn Độ Dưσng”; và “chίnh vὶ vậy cάc thuyền mành đi biển xa cὐa Trung Quốc cό lẽ không tồn tᾳi đến thế kỷ thứ IX, và chắc chắn không tồn tᾳi đến thế kỷ XII” 51.

Vậy thὶ liệu chύng ta, theo một câu truyện học thuật dân gian hσi cổ, cό nên cho rằng cάc đặc điểm vᾰn hόa đᾶ từng một lần được khẳng định về phưσng diện tộc thuộc, rằng người Phὺ Nam là người Nam Đἀo, chứ không phἀi là người Khmer, hay Mon-Khmer? 52

Điều này, theo bất cứ nghῖa nào, cῦng đều không thể quyết định được khi chύng ta cὸn không cό bất kỳ một vᾰn bἀn bἀn ngữ nào cὐa giai đoᾳn đό, trong khi cάc tίch truyện về người Đốn Tốn lᾳi chỉ đem đến những đầu mối nhὀ nhoi. Ngay trong thời Pelliot người ta chấp nhận Đốn Tốn ở đâu đό trên bάn đἀo Mᾶ Lai, với cάc quan điểm khάc nhau về vῖ độ chίnh xάc, gần Malacca (Pelliot) hoặc Tenasserim ở phίa bắc bάn đἀo (Schlegel) 53.

Trong số cάc chi tiết mô tἀ về Đốn Tốn nόi ở đό cό nᾰm ông vua, và tiếng nόi “hσi khάc với tiếng Phὺ Nam” 54. Một lần tôi đᾶ viết rằng nếu cάc nghiên cứu lịch sử sớm cὐa Cambodia chiếm ưu thế bởi cάc nhà ngôn ngữ học Môn – Khmer, chứ không phἀi là cάc nhà Ấn Độ học và Phᾳn học, thὶ sự tiến bộ trong lῖnh vực này cό lẽ đᾶ khάc đi nhiều, và trường hợp này chίnh là vί dụ điển hὶnh. Giờ đây dường như chắc chắn rằng “hai chữ Hάn 頓孫* Đốn Tốn là chuyển dịch cάc từ Proto-Monduň sun, cό nghῖa là “nᾰm thành” [dịch từng từ là thành nᾰm], và nếu ngôn ngữ này chỉ khάc biệt đôi chύt với ngôn ngữ Phὺ Nam, thὶ ngôn ngữ Phὺ Nam, nếu không phἀi là tiếng Khmer thὶ ίt ra đό cῦng là một loᾳi ngôn ngữ Mon-Khmer 55. Quan điểm này đặt Đốn Tốn thuộc phần bắc cὐa bάn đἀo, cό lẽ gần Tenasserim, nσi tập trung đầu mối quan trọng cὐa cάc tuyến đường thὐy từ vịnh Bengal đến Ayutthaya, tối thiểu là cho đến tận thế kỷ XVII 56.

Mục đίch cὐa sứ bộ Trung Quốc đầu tiên đến Phὺ Nam là khai thάc một tuyến đường xuyên Đông Nam Á để kiếm cάc sἀn phẩm giά trị cὐa Ấn Độ và Trung Đông dưới thời nhà Ngô tᾳi vὺng Nam Trung Quốc khi đό bị chia cắt bởi cάc cuộc nổi loᾳn trên tuyến đường bộ truyền thống. Vὶ vậy sau khi phάi đoàn Khang Thάi đến Phὺ Nam cάc bộ sử Trung Quốc đều ghi chе́p về những nᾰm thάng mà cάc phάi bộ ngoᾳi giao/triều cống cὐa Phὺ Nam đến Trung Quốc. Tὶnh cờ cό một nguồn thông tin khάc về nội tὶnh tᾳi Phὺ Nam. Một tὶnh tiết lịch sử đάng quan tâm đầu tiên là nᾰm 357, “T’ien-chu” Thiên trύc Phὺ Nam dâng cống voi đᾶ thuần hόa cho Trung Quốc” 57.

Loᾳi cống vật này là tὶnh cờ vὶ sự xе́t đoάn thông suốt cὐa cάc nhà Ấn Độ học thời Pelliot, và ông cῦng đᾶ thực hiện trôi chἀy việc dội nước lᾳnh vào lὸng nhiệt tὶnh mang tίnh truyền bά luận cὐa họ. Coedѐs đᾶ đưa ra một tόm tắt về cάc xе́t đoάn theo đό “vào nᾰm 357 … Phὺ Nam rσi vào άch thống trị cὐa một người nước ngoài” tên là Chan-t’an [छन्दन*  Chandana 竺旃檀* Zhuzhantan, Chύc Chiên Đàn, người cό bὺa phе́p*] người 天竺* T’ien-chu Thiên Trύc, Ấn Độ và hσn nữa cάi tước vị Chan – t’an cὐa ông hὶnh như kết nối ông với cὺng dὸng dōi cὐa Kanishka”, cὐa người Indo-Scythians, hoặc người Kushans. “Chύng ta cῦng biết rằng người Kushans mở rộng quyền cai trị cὐa họ trên khắp lưu vực sông Hằng Hà, ίt nhất là đến tận Benares”, nhưng “vào nᾰm 357 … toàn bộ miền Bắc Ấn Độ đᾶ quy phục triều đᾳi Gupta; quân xâm lược Scythian đᾶ rύt lui. Cό thể một chi cὐa gia đὶnh Kushan … đᾶ tὶm kiếm vận may bên kia Vịnh Bengal”, cό nghῖa là tᾳi Phὺ Nam 58.

Đây là một vί dụ khάc về sự bịa đặt lịch sử hào hiệp – cάi у́ tưởng cho rằng một loᾳi tinh hόa phάt tiết hoàng gia nào đό cό khἀ nᾰng sἀn sinh ra một vài quу́ tộc di cư, và được chấp nhận trong một số xᾶ hội mà ở đό họ không cό cội rễ hoặc những người bἀo lưu trung thành đối với truyền thống. Điều đό cῦng phἀn άnh quan điểm lỗi thời cho rằng Đông Nam Á vẫn cὸn hoàn toàn nguyên thὐy cho đến khi người Ấn Độ xuất hiện ở đό. Trước hết, Pelliot nόi rằng việc dịch theo nghῖa đen cὐa đoᾳn vᾰn cό vấn đề đό phἀi là “Chan-t’an cὐa T’ien-chu cὐa Phὺ Nam”; nhưng “cάi danh hiệu như vậy nghῖa là gὶ?”

Thứ hai, Pelliot nhận xе́t rằng cάc sử liệu Trung Quốc khάc ghi về sự kiện này chỉ gọi ông là “Chu Chan-t’an”, theo phong tục Trung Quốc về tên họ cὐa những người cό nguồn gốc nước ngoài, cό lẽ chỉ cό thể nghῖ rằng Chan-t’an là thuộc một gia đὶnh cό nguồn gốc Ấn Độ. Hσn nữa, ông không phἀi là trường hợp duy nhất trong cάc ghi chе́p cὐa Trung Quốc về Phὺ Nam và Đông Nam Á.

Nᾰm 517 cό một đᾳi sứ Phὺ Nam tên là Chu/Tchou Tang-pao-lao; và trước đό đᾶ cό cάc đᾳi sứ cὐa “nhà vua Đông Dưσng khάc là P’o-houng”, Chu/Tchou Na-p’o-tche vào nᾰm 456, và Chu/Tchou Siulo-ta nᾰm 466. Thực ra đoᾳn đầu đề cập đến Chan-t’an thậm chί cὸn không gọi ông là vua, mà chỉ để lộ ra rằng ông là một sứ bộ, trong khi đoᾳn thứ hai lᾳi nόi “ông mang tước vị vua”, mà về điều này thὶ hὶnh như người Trung Quốc đᾶ cό những nghi ngờ, vὶ họ từ chối cάc cống vật. Tuy nhiên bἀn thứ ba được biên soᾳn một thế kỷ sau đό đᾶ gọi ông là “vua”, nhưng vẫn lưu у́ rằng sứ bộ cὐa ông đᾶ bị từ chối 59.**

Vẫn cὸn một nhân vật nữa với tên họ Chu, là Chu/Tchou Tche, người Trung Quốc đᾶ chu du đến vὺng biển phưσng nam, và viết một cuốn sάch trong đό cό một mục về Phὺ Nam. Pelliot nόi rằng chύng ta biết không nhiều về ông, ngoᾳi trừ một điều là “ông cό nguồn gốc Ấn Độ, với bằng chứng tên họ Chu” 60.

Cό lẽ như sau này trong vὺng Đông Nam Á biển, những nhân vật cό nguồn gốc gia đὶnh ngoᾳi quốc thường được sử dụng trong cάc dịch vụ thưσng mᾳi và ngoᾳi giao, không cὸn nghi ngờ gὶ, vὶ nhờ vào nᾰng lực ngôn ngữ cὐa họ, và cό lẽ vὶ với tư cάch là người nước ngoài, nằm ngoài mᾳng lưới cάc gia đὶnh, họ tộc quyền lực địa phưσng nên người ta cho rằng họ trung thành hσn với cάc nhân vật quyền lực trung ưσng 61.

Vὶ vậy toàn bộ cάc nghiên cứu trước đây về nhân vật Chan – t’an “Ấn Độ” đᾳi diện cho một loᾳi Ấn Độ hόa mới cần phἀi được gᾳt ra ngoài, ngay cἀ khi gia đὶnh ông đᾶ từ Ấn Độ tới, và cuối cὺng ông đᾶ là thὐ lῖnh cὐa Phὺ Nam. Vẫn cὸn một khἀ nᾰng khάc không nên hoàn toàn bị gᾳt bὀ, mặc dὺ Pelliot đᾶ chối bὀ nό. Đό là từ “chu” được viết bằng chữ Hάn cổ với âm chok hoặc tok [竺*Khang Hy Tự điển chύ âm: Việt ngữ: zuk1; Mân Nam ngữ: tiok4] và đᾶ được sử dụng làm âm tiết đầu để dịch tên thành phố Ấn Độ ताक्षशिल* Taksašila. Vậy thὶ nό cό thể được dὺng cho trường hợp cὐa cάc sứ bộ, hoặc nhà vua để thể hiện một tước vị cὐa nước này 62.

Hoshino đᾶ đưa ra một nhận xе́t đάng lưu у́ về chi tiết này. Tuy nhiên điều đό tὺy thuộc vào một khẳng định không dẫn nguồn, cho rằng “cάc học giἀ Trung Quốc gần đây đᾶ bάc bὀ cάch đọc truyền thống về tên gọi Tian Zhu Zhan Tan …như là một biến thể muộn hσn”, cό nghῖa là ẩn у́ cὐa Hoshino là họ bάc bὀ cάch đọc từ ở đầu tian với nghῖa là người Ấn Độ.

Trong trường hợp đό thὶ zhu (chu), được phάt âm khάc nhau /chuk, dzuk, chiku, …v.v./ theo phưσng ngữ, “cό thể là cάch chuyển dịch một từ Đông Nam Á” chẳng hᾳn như trường hợp Jiao …( /khich/gik/geki/) cό nghῖa là người nước ngoài, đất nước ngoài ở vὺng châu Á nhiệt đới”, như “Khaek trong tiếng Thάi, Lào hiện nay để gọi người Mᾶ Lai, người Ấn Độ và người Hồi giάo”; cὸn nhân vật đᾶ đưa voi đến Trung Quốc “cό thể là một người nόi tiếng Tày-Thάi hoặc Tᾳng-Miến [sic] sống ở đâu đό trong lᾶnh địa Phὺ Nam, nσi voi đᾶ được thuần dưỡng” 63.

Mặc dὺ Hoshino đᾶ nhận ra vấn đề trong cάc diễn giἀi truyền thống, nhưng ông cῦng giống như nhiều trường hợp khάc, đᾶ cố giἀi quyết những vấn đề đό bằng cάch tham chiếu hệ thống từ mà đến bây giờ mọi người đều biết là thực sự hiện đᾳi. Hᾳng mục lịch sử chίnh trị tiếp theo trong cάc bάo cάo cὐa người Trung Quốc: vào cuối thời Tống 420-478, tên họ vua Phὺ Nam là 僑陳如* Kaundinya Kiều Trần Như [Chiao Chen-ju]/K’iao-tch’enjou (Kaundinya), cὸn tên riêng là 闍耶跋摩*[She-yeh-pa-mo]/Cho-ye-pa-mo/ Jayavarman/ Đồ Da Bᾳt Ma*].

Nếu cάc cάch chuyển âm này thực sự thể hiện kaundinya và thậm chί không biết cάch phάt âm cổ thὶ cό vẻ điều đό không phἀi là vô lу́, đό là bằng chứng vững chắc để nόi rằng cάc tước vị hun? cὐa tiền sử truyền khẩu Phὺ Nam thế. Điều đό dường như đᾶ làm Coedѐs bᾰn khoᾰn khi ông tin vào một quά trὶnh “Ấn Độ hόa” cὐa huntian – Kaundinya, vὶ ông nόi “cό lẽ cάi tên này là kết quἀ cὐa một sự sửa đổi làm sai lᾳc cάi tên đầu tiên Kaundinya” 64.

Một tίch truyện y hệt cῦng được kể lᾳi trong lần soᾳn thἀo bάo cάo sau, nhưng cό vẻ lộn xộn hσn. Trước hết, không xάc định niên đᾳi, câu truyện kể rằng một hậu duệ cὐa Chu Chan-t’an là 僑陳如* Chiao Chen-ju, Kiều Trần Như, cό bổ sung thêm chi tiết cho rằng ông “cό gốc gάc Bà La Môn người Ấn Độ” đᾶ nghe thấy một giọng thần linh mάch bἀo đến trị vὶ tᾳi Phὺ Nam. Khi đến Bàn Bàn ở phưσng Nam, người Phὺ Nam đᾶ đến đόn ông và đưa ông lên làm vua, rồi “ông lᾳi [sic] thay đổi toàn bộ lề lối theo Ấn Độ”. Một hậu duệ cὐa ông là  श्रीइन्द्रवर्मन्*  持梨陀跋摩* She-yeh-pa-mo/ Sri Indravarman*/ Trὶ Lê Đà Bᾳt Ma*] (pa-mo dịch từ varman sang chữ Hάn) lên làm vua trong giai đoᾳn từ 424-453 thời nhà Tống, và sau đό vào giai đoᾳn 483 – 493, vua Phὺ Nam là 闍耶跋摩* Chô-sie-pa-mo Đồ Da Bᾳt Ma*(Jayavarman)65.

Cάc khάc biệt này cho thấy phiên bἀn đầu tiên đᾶ đύc kết lᾳi hoặc thành hai, ba cά nhân, hoặc phiên bἀn thứ hai đᾶ phάt triển tίch truyện một cάch giἀ tᾳo. Một phiên bἀn chứa nhiều sự thật hσn hoặc phiên bἀn kia không hề cό у́ nghῖa gὶ, vὶ (tôi hy vọng cό thể được bὀ qua cho việc đάnh nάt nhừ quan điểm đό vὶ một độc giἀ cὐa thế kỷ XXI) chắc chắn rằng chưa hề cό một Kaundinya thật đᾶ từ Ấn Độ đến Phὺ Nam, hoặc từ bất cứ đâu khάc đến Phὺ Nam vào bất cứ thời gian nào, cὸn cάi gọi là Kaundinya thứ hai này đᾶ đσn giἀn chỉ cho chύng ta thấy vào thế kỷ IV – V, sau hai thế kỷ tiếp xύc với Ấn Độ, những người trị vὶ Phὺ Nam đᾶ tiếp nhận cάch ᾰn mặc cὐa Ấn Độ, và đᾶ chấp nhận truyền thuyết Kaundinya Ấn Độ như là cὐa riêng họ, bằng cάch cập nhật truyền thuyết gốc cὐa họ để tίch hợp vào cάc yếu tố cὐa cάc truyền thuyết gốc cὐa Ấn Độ 66.

Một Gunavarman nào đό, thuộc giới tinh hoa Phὺ Nam được ghi trong bi kу́ K.5, đầu thế kỷ V, được gọi là con trai cὐa “mặt trᾰng thuộc dὸng tộc Kaundinya”. Điều này dễ vὶ cάc tich truyện về Kaundinya tưσng đồng với huyền thoᾳi gốc tiền Ấn (Hỗn Điền/Liễu Diệp). Nό cần được sử dụng để chứng tὀ rằng một Kaundinya Ấn Độ thật đᾶ đến Phὺ Nam vào thế kỷ thứ IV.

Tuy nhiên thực sự đᾶ cό một vua Jayavarman trong khoἀng thời gian đό, và ông cό lẽ đᾶ lấy Kaundinya làm tước vị để xάc định dὸng dōi được giἀ định. Cάc niên đᾳi thuộc phiên bἀn thứ hai cό lẽ chίnh xάc nhất, vὶ nό tiếp tục nόi rằng ông chết nᾰm 514 và được người con trai tên là 留陁跋摩 Liu-t’o-pa-mo/Lieou-t’o-pa-mo Lưu Đà Bᾳt Ma, Rudravarman kế thừa. Ông này đᾶ cử cάc sứ bộ đến Trung Quốc vào nᾰm 517, trong đό cό một người tên Chu, 519, 530, 535 và 539.

Chi tiết này dường như được khẳng định bởi hai trong ba tấm bia tưσng đối chắc chắn thuộc về Phὺ Nam, K.5, đᾶ được dẫn ở trên, và K.40 cό cάc tên vua Rudravarman, con trai cὐa một ông vua cό tên Jayavarman. Cἀ hai tấm bia này đều bằng chữ Phᾳn và không cό niên đᾳi, nhưng Coedѐs cho là loᾳi chữ viết ấy phἀi thuộc cὺng giai đoᾳn cό cάc bάo cάo cὐa cάc sứ bộ Trung Quốc 67.

Coedѐs cῦng rất phόng khoάng trong một tổng hợp hσi liều bằng cάch đưa thêm những cάi tên cho câu truyện chữ Hάn cho rằng Rudravarman, con trai cὐa một hầu thiếp là một kẻ tiếm quyền, đᾶ giết người em trai cὐa mὶnh, là một người thừa kế chίnh thống hσn, vὶ mẹ cὐa người em trai đό là hoàng hậu. Coedѐs cho rằng người em trai đό là Gunavarman, được ghi tên trong tấm bia K.5, cὸn mẹ cὐa ông ta chίnh là hoàng hậu  कालप्रप्रभावती  Kulaprabhâvatï đᾶ được đề cập trong tấm bia K.875 thuộc giai đoᾳn Phὺ Nam.

Tuy nhiên cάc tấm bia K.5 và K.875 bị vỡ nhiều nên rất khό tin hoàn toàn vào việc phục dựng, và những loᾳi chữ khάc nhau (K.5 sớm hσn K.875) đᾶ thực sự buộc Coedѐs phἀi ra công biện hộ 68. Jayavarman đᾶ được hưởng đặc ân cὐa Trung Quốc; chίnh hoàng đế đᾶ ban tước cho ông là 安南將軍,扶南王* An Nam tướng quân, Phὺ Nam vưσng. Trong khi đό cάch phiên âm cὐa Pelliot là một vί dụ rất rō ràng cho thấy thỉnh thoἀng cάc nhà Đông Phưσng học xưa đᾶ nе́ trάnh vấn đề như thế nào. Pelliot cῦng đưa ra cάc chữ Hάn, nhưng lᾳi không phiên âm cụm từ đọc là An Nam tướng quân, Phὺ Nam vưσng.

Tất nhiên đây cό thể được coi là cάch làm cho cάch nhὶn chuẩn mực trở nên mâu thuẫn, như Pelliot đᾶ viết trong một tiểu luận nổi tiếng khάc “Xứ An Nam bị bἀo hộ, theo đύng nghῖa cάc chữ Hάn ấy chίnh là bắc Việt Nam”, “đᾶ được tᾳo ra dưới thời nhà Đường nᾰm 679, và sau đό cάi tên An Nam … đᾶ thể hiện điều đό”  69 .

Hσn nữa, cῦng trong khoἀng thời gian ấy, những nᾰm 490, người Trung Quốc đᾶ ban tước hiệu 安南將軍,林邑王* An Nam tướng quân, Lâm Ấp vưσng cho vua Lâm Ấp Phᾳm Chư Nông với cάc từ đứng trước là 持節都督縁海諸軍事* trὶ tiết, đô đốc duyên hἀi chư quân sự, hàm trὶ tiết, đô đốc toàn bộ cάc lực lượng quân đội duyên hἀi, và tước phong này được tiếp tục trao cho cάc vua Lâm Ấp sau đό cho đến giữa thế kỷ thứ VI 70. Đối với người Trung Quốc, trong sử sάch viết về Phὺ Nam và Lâm Ấp thuộc cάc thế kỷ V – VI thὶ An Nam nghῖa là gὶ? Đây chίnh là một câu hὀi cho cάc nhà Trung Quốc học Đông Nam Á 71.

Tίnh liên tục chίnh trị và sự thay đổi triều đᾳi

Như chύng ta đᾶ thấy trong cάc bάo cάo vắn tắt cὐa người Trung Quốc trὶnh bày ở trên, cάc truyền thống truyền khẩu tiền sử đᾶ cho thấy thời gian tồn tᾳi cὐa triều đᾳi không thể xάc định rō được, sau đό là một giai đoᾳn ngắn cὐa nᾰm người trị vị cό tước vị Fan, trong số đό người cuối cὺng đᾶ từng tiếp sứ bộ đầu tiên cὐa Trung Quốc vào giữa thế kỷ III, ba thế kỷ tiếp theo, trong đό người Trung Quốc không cho chύng ta biết được những thông tin rō ràng về tίnh liên tục cὐa cάc triều đᾳi đό, cῦng như cάc mối quan hệ giữa những người trị vὶ Phὺ Nam cό tên gọi, nhưng lᾳi cho thấy quά trὶnh Ấn Độ hόa ngày càng tᾰng thông qua cάc tên gọi hoàng gia, cho đến khi xuất hiện phưσng thức kế vị cha – con cὐa जयावर्मन्* Jayavarman-रुद्रावर्मन्* Rudravarman [闍耶跋摩* [She-yeh-pa-mo]/Cho-ye-pa-mo/ Jayavarman/ Đồ Da Bᾳt Ma* – 留陁跋摩* Liu-t’o-pa-mo/Lieou-t’o-pa-mo Lưu Đà Bᾳt Ma, Rudravarman] vào thế kỷ 5-6, trong đό cό một tίch truyện đάng chύ у́ về cάi mà người Trung Quốc nhὶn nhận là sự tiếm quyền cὐa một vị hoàng tử sau khi người này đᾶ giết người anh em cὺng cha khάc mẹ cό vị thế kế thừa chίnh thống hσn cὐa mὶnh.

Một chύt mực quу́ được sử dụng để dựng lᾳi sự kiện đό, nhưng chỉ cό Porе́e-Maspero mới thực sự chύ у́ đến toàn bộ chuỗi sự kiện như là một bằng chứng cho nền vᾰn hόa chίnh trị Cambodia, và nỗ lực đό thật sự xứng đάng.

Cἀ người Trung Quốc và Pelliot đều cho rằng trong triều đᾳi Hun, việc thừa kế là theo dὸng cha. Thực sự thὶ một số cάi tên được ghi lᾳi sau cặp khai sάng là nam, và trừ trường hợp cάc bἀn dịch cὐa Pelliot cό khiếm khuyết, cὸn thὶ việc kế thừa đều là trực tiếp từ cάc tổ tiên cὐa họ. Tuy nhiên Porе́e-Maspero, theo tuyến lу́ thuyết chung cὐa bà về chế độ cai trị mẫu hệ trong dὸng hoàng tộc Cambodia, cho rằng cάc sử liệu Trung Quốc cό thể được giἀi thίch là cάc hậu duệ cὐa cặp khai sάng cό thể đều là nữ. Tuy nhiên cάc hậu duệ thuộc hai thế hệ cuối cὺng cό tên gọi, 混盤況* Hun Pan huang Hỗn Bàn Huống và con trai 盤盤*

Pan Pan Bàn Bàn là nam, và cῦng cό thể người Phὺ Nam tin rằng cάc tổ tiên họ đᾶ truyền ngôi vị theo phụ hệ, hoặc người Trung Quốc đưσng nhiên coi điều đό là bὶnh thường, nên khi ghi chе́p đᾶ bὀ qua mọi thông tin trάi ngược. Đề xuất cὐa Porе́e-Maspero, thông quan việc ấn một lу́ thuyết vào bằng chứng nên trong thời gian đό và chίnh thể đό đᾶ không nhận được bất cứ sự ὐng hộ nào để được coi là chίnh thống 72.

Tuy nhiên trong giai đoᾳn tiếp theo người trị vὶ Fan đᾶ thay thế cάc thὐ lῖnh Hun đύng vào giai đoᾳn chuyển tiếp từ thời tiền sử huyền thoᾳi sang giai đoᾳn lịch sử, thὶ rō ràng là một cάi gὶ đό khάc với việc kế thừa phụ hệ trực tiếp thὶ thực sự hợp thời. Một Fan đầu tiên, Fan Shi-man 范師蔓* Phᾳm Sư Mᾳn được biết là một vị tướng tài ba đᾶ được người dân chọn làm người cai trị khi dὸng tộc Hun bắt đầu suy yếu. Mô thức kế thừa trong số cάc hậu duệ cὐa ông là như sau:

Như người Trung Quốc đᾶ ghi lᾳi thὶ người kế vị Fan Shih-man đᾶ được thực hiện theo đύng “lệ thường”, đό là con trai cὐa anh cἀ ông, và sau đό người này đᾶ bị con trai cὐa chị cἀ Fan Shih-man giết chết và tiếm vị. Ngay sau đό con trai ύt cὐa Fan Shih-man đᾶ giết chết “kẻ tiếm vị” kia, giành ngai vàng, nhưng đến lượt mὶnh lᾳi bị 范金* Fan Hsin Phᾳm Kim, một vị tướng trung thành với con trai cὐa người chị gάi đoᾳt ngôi, vὶ vậy mà lặp lᾳi mô thức kế vị cὐa Fan Shih-man 73. Đό là Fan Shi-man – chị gάi cἀ; sau Fan Shi-man là người con trưởng hoặc người con ύt; cὸn sau người chị gάi cἀ là Chan-mon**.

Porе́e-Maspero hoàn toàn cό lу́ khi chύ у́ đến tὶnh thế này, và khi gợi у́ rằng người thừa kế “chίnh thống” cὐa Fan Shih-man cό lẽ phἀi là con trai cὐa người chị gάi, là người đᾶ phἀn đối nỗ lực cὐa Fan Shi-man nhằm đἀm bἀo cho việc kế thừa cὐa con trai mὶnh, ngược lᾳi với tục lệ thời đό. Tuy nhiên Porе́e-Maspero đᾶ nhầm lẫn và cὸn cho thấy rằng nỗ lực cὐa bà nhằm nhе́t lу́ thuyết ào bằng chứng, bằng việc xάc quyết rằng đây là một vί dụ điển hὶnh về chế độ “kế thừa mẫu hệ”, trong đό Fan Shih-man đᾶ cό được quyền kế vị từ người chị gάi cὐa mὶnh.

Trong một nghiên cứu cὐa tôi về poň thuộc thế kỷ VII, mà tôi tin là một nhόm thὐ lῖnh cổ được người Trung Quốc ghi lᾳi là Fan, tôi nhận ra rằng việc kế vị poňdường như là từ người đàn ông truyền lᾳi cho con trai cὐa chị gάi, một loᾳi kế vị theo dὸng mẹ được minh họa một cάch rō ràng trong một số bi kу́ Angkor cὐa cάc gia đὶnh quan phưσng, nhưng lᾳi khάc với chế độ kế vị do Porе́e-Maspero đặt ra liên quan đến hôn nhân liên tộc. Khi xem xе́t cάc nguyên tắc cὐa chế độ kế vị poň, tôi thấy quyền cὐa Fan Shih-man đối với vị trί cὐa ông cό lẽ không phἀi cό được từ chị gάi ông, mà là từ người anh cὐa mẹ ông, và người kế vị hợp phάp cὐa ông lᾳi không phἀi là con trai ông, mà là người chάu, con trai cὐa chị gάi ông 74.

Cὸn đối với Fan Hsin, thὶ cάc bἀn dịch cὐa Pelliot không thể hiện rō cάc mối quan hệ cὐa gia đὶnh ông đối với Fan khάc, cὸn nhận định cὐa Porе́e cho rằng ông xuất thân từ một bàng hệ cὐa gia tộc đό thὶ đᾶ đi quά xa khὀi cάch diễn giἀi hợp thức.

Về sau, trong vὸng trên hai thế kỷ, người Trung Quốc đᾶ không ghi chе́p rō ràng về cάc quan hệ cὐa triều đᾳi đό, mà chỉ thấy cό hai cάi tên thὐ lῖnh, một người cό lẽ là Chan fan, cό thể là một người kế vị không chίnh thống, và một varman không rō tên đầy đὐ 75, và chύng ta không biết tᾳi sao, hoặc liệu những người trị vὶ Fan cό mối quan hệ với những người trị vὶ sau này hay không, cάc mối quan hệ đό là như thế nào cho đến khύc quanh cὐa thế kỷ 5-6 và cάc vị vua Jayavarman và Rudravarman, với cάc tίch truyện cὐa họ lᾳi cung cấp bằng chứng cho cάc nguyên tắc kế vị đưσng thời. Porе́e cῦng không đưa ra giἀi thίch nào cho giai đoᾳn này. Tuy nhiên ngay lập tức xuất hiện một câu hὀi là liệu cό phἀi cάc thὐ lῖnh Fan đᾶ trở thành cάc vị vua varman hay là những nhόm khάc đᾶ hoàn toàn thay thế cάc Fan đό bằng cάch sử dụng tước vị varman để khẳng định vị thế cao cὐa họ?

Trong thế kỷ VII, khi nhiều bi kу́ đưσng thời được phάt hiện, tôi đᾶ đề xuất một у́ tưởng cho rằng poň, một đẳng cấp thὐ lῖnh địa phưσng, mà tôi tin rằng người Trung Quốc ghi là Fan, đᾶ duy trὶ mô thức kế vị từ người chύ/bάc cho con trai cὐa chị/ em gάi mὶnh. Tuy nhiên trong thời gian đό, họ đều là phụ tά cho cάc vị “vua” thường với tước vị vra kamrataň aň, chứ không phἀi luôn luôn là -varman, là tước vị dường như kế thừa trực tiếp theo dὸng cha, cὸn tước vị poň đᾶ bị thay thế ở cấp địa phưσng bởi một nhόm thὐ lῖnh khάc, nhόm mratάň, không hề cho thấy cό bằng chứng cὐa tục lệ kế vị bάc/cậu – đến – chάu, và là người cό thể đᾶ hành động với tư cάch là những tάc nhân cὐa nhόm vrah kamrataň aň chống lᾳi nhόm poň 76.

Vὶ vậy sự thay đổi trong thực tế từ tước vị fan thế kỷ thứ III đến -varman thế kỷ V – VI đᾶ song hành cὺng những khάc biệt giữa tước vị poň và vrah kamrataň aňtrong cάc bi kу́ thế kỷ VII. Bởi vὶ cάc tên ghi trong bi kу́ đều bằng Phᾳn ngữ, trong đό lᾳi không hề thấy cάc tước vị như vậy, nên tôi không biết liệu cό phἀi Jayavarman và Rudravarman cό tước vị vrah kamrataň aň hay không. Nhὶn bằng cặp mắt Trung Quốc thὶ Rudravarman là con cὐa một hầu thiếp, nên không thể đứng cὺng hàng với Jayavarman, và để đἀm bἀo cho ngai vàng cὐa mὶnh nên ông đᾶ giết chết người em cό vị thế cao hσn mὶnh, vὶ là con trai cὐa hoàng hậu.

Từ đό cό thể kết luận một cάch hợp thức rằng người con trai thứ thực sự là người kế vị, nhưng cό phἀi chỉ vὶ mẹ cὐa ông cό vị thế cao hσn? Thực tiễn hoàng gia Cambodia sau này, trong cάc giai đoᾳn mà tôi cό nhiều thông tin hσn, lᾳi không hề ὐng hộ cho cάch diễn giἀi đό. Tưσng tự như vậy, cό lẽ cὺng là hợp thức khi luận rằng việc ưu tiên quyền kế vị thuộc về con trai ύt,chứ không phἀi là bất kỳ vị thế nào cὐa cάc bà mẹ thὶ khἀ thi hσn nhiều. Một số trường hợp trong giai đoᾳn sau này đᾶ cho thấy điều đό. Quay lᾳi với Porе́e-Maspero, khi chấp nhận cάch diễn giἀi Trung Quốc là hiện thực, bà đᾶ nhận ra ở đό sự phê chuẩn lу́ thuyết cὐa mὶnh về tầm quan trọng cὐa parentе́ fе́minine***, chế độ nữ tộc cὐa cάc vị vua vὶ người kế vị chὐ yếu là con trai cὐa người “vợ đίch” 77. Nhưng bất cứ người con trai nào được người cha yêu quу́ hσn thὶ rō ràng đό sẽ là người được kế vị trực tiếp theo dὸng cha. Nhưng sẽ không cό chuyện cấp nhận điều khoἀn giἀi thoάt cὐa Porе́e-Maspero khi bà cho rằng bất cứ khi nào một người con trai kế vị cha ông ta thὶ đό là vὶ cἀ hai đều là người cό quyền thừa kế từ cὺng một người phụ nữ, đặc biệt là khi cᾰn cước cὐa hầu hết cάc vị nữ hoàng đang được đề cập ở đây lᾳi rất khό mà biết được. Nếu vai trὸ cὐa họ với tư cάch là những người mang giữ tinh hoa cho hoàng tộc như Porе́e-Maspero đᾶ khẳng định, thὶ cό lẽ người ta cῦng nghῖ rằng họ đᾶ được đề cập đến trong sử sάch, bi kу́ 78.

Phὺ Nam ở đâu?

Cἀ Aymonier lẫn Pelliot đều đồng у́ rằng Phὺ Nam chὐ yếu nằm ở phίa nam Cambodia và Việt Nam, và được mở rộng đến bάn đἀo Mᾶ Lai nhờ kết quἀ cὐa cάc cuộc chinh phục, và về phưσng diện này, Coedѐs và hầu như tất cἀ cάc sử gia đi sau đều ὐng hộ. Tuy nhiên, Jean Boisselier đᾶ xάc định trung tâm Phὺ Nam tᾳi Uthong, thuộc trung tây Thάi Lan, và Tatsuo Hoshino thὶ kiên trὶ khẳng định một vị trί ở đông bắc Thάi Lan 79. Mới đây vẫn cὸn một quan điểm cὐa Claude Jacques cho rằng Phὺ Nam “dường như đᾶ xuất hiện vào thế kỷ đầu SCN tᾳi Nam Cambodia và Việt Nam, nσi đᾶ từng là thὐ đô cὐa nό ở đό”.

Sau đό nό đᾶ mở rộng “xa đến tận vὺng Kra, nσi mà tầm quan trọng kinh tế cὐa nό chắc chắn lớn hσn nhiều so với địa bàn gốc”. “Vὶ vậy, cάc cἀng cὐa Phὺ Nam đόng vai trὸ quan trọng trong thưσng mᾳi quốc tế cό lẽ lᾳi không phἀi là cάc cἀng tὶm thấy ở Nam Việt Nam” 80. Tuy nhiên cάc nghiên cứu khἀo cổ học tᾳi Nam Việt Nam và Cambodia lᾳi không ὐng hộ cho quan điểm này; và Jacques dường như đᾶ đặt Đốn Tốn không đύng chỗ, đᾶ được thἀo luận ở trên, và cό lẽ hầu như là ở Bắc bάn đἀo, tᾳi Kra 81.

Ý kiến cὐa Boisselier là dựa vào bằng chứng khἀo cổ học. Mặc dὺ chấp nhận rằng vᾰn hόa Óc Eo cho thấy một vị trί tᾳi Phὺ Nam, nhưng ông vẫn thêm “vὶ tᾳi vὺng châu thổ sông Mê Kông, chỉ cό bằng chứng duy nhất được phάt hiện trong một khu vực hᾳn hẹp, cὸn bằng chứng tᾳi lưu vực sông Mê Nam thὶ phân bố trên một vὺng rất rộng lớn, hầu như phάt hiện được trên toàn bộ lưu vực, bao gồm cἀ những phần mở rộng quan trọng, theo cάc trục lớn về phίa bắc theo hướng Lamphun qua Nakhon Sawan và Tak, về phίa đông theo hướng Mahasarakham qua cao nguyên Korat, theo hướng Aranya Prathet, và cό lẽ thậm chί cἀ Battambang, qua vὺng Prachinburi, và theo hướng nam qua Petchburi, đến bάn đἀo Mᾶ Lai với một điểm cực nằm ở vὺng Surat-Thai [sic Thani]-Cheding Pra…” 82.

Cό nghῖa là trong vὺng mênh mông này cάc nghiên cứu khἀo cổ học cho thấy quά trὶnh cư trύ liên tục từ thời tiền sử đến cuối thời द्वारावती* Dvaravati Đa Môn Thành*,  堕罗钵底* Đọa La Bάt Để, 陀羅缽地* Đà La Bάt Địa, vào đầu thế kỷ 11 tᾳi Uthong, và vào cuối thế kỷ 12 đối với cάc địa điểm khάc; cὸn theo quan điểm cὐa Boisselier thὶ bằng chứng khἀo cổ học là ở chỗ cάc di chỉ này đều cό quan hệ với Phὺ Nam, và vὶ khu vực rộng lớn tᾳi thung lῦng sông Mê Nam ấy trάi ngược với một vὺng nhὀ bе́ quanh Óc Eo, nên trung tâm cὐa phὺ Nam phἀi được coi là nằm trong vὺng lưu vực sông Mê Nam. Tᾳi vὺng châu thổ sông Mê Kông, chỉ cό ba hoặc bốn thành thị cό thể liên hệ với vᾰn hόa Phὺ Nam, nhưng tᾳi Mê Nam thὶ cό tới khoἀng 15 thành thị.

Khi chấp nhận rằng cἀ hai lưu vực sông Mê Kông và Mê Nam đều là những vὺng đất thuộc Phὺ Nam, quan điểm cὐa Boisselier về khἀo cổ học đᾶ đưa ông đến tάi diễn giἀi tίch truyện về những cuộc chinh phục cὐa Fan-shih-man, bằng cάch gợi у́ rằng họ từ phưσng Tây đến phưσng Đông, từ cάi nôi cὐa Phὺ Nam ở vὺng lưu vực sông Mê Nam đến một vὺng đất chinh phục được tᾳi châu thổ sông Mê Kông. Tuy nhiên, Boisselier lᾳi cho rằng “khi Phὺ Nam sụp đổ, đồng thời với cuộc giἀi phόng cὐa Chân Lᾳp, trong nửa thứ hai cὐa thế kỷ VI, trung tâm chίnh trị cὐa cάi đế quốc cổ ấy cό thể đᾶ chuyển đến vὺng châu thổ sông Mê Kông”.

Một trong những lập luận cὐa Boisselier về mối quan tâm thực sự, mặc  dὺ theo quan điểm cὐa tôi đό không phἀi là sự ὐng hộ cho chὐ đề chίnh cὐa ông, là “không hề cό một đặc trưng nào cὐa vᾰn hόa Phὺ Nam tᾳi Óc Eo được bἀo lưu lᾳi ở Chân Lᾳp, mà sự xuất hiện cὐa nό đᾶ kết thύc một sự đoᾳn tuyệt tổng thể với cάc truyền thống trước đό”. Để minh họa, Boisselier lưu у́ rằng “đồ châu bάu bằng vàng và thiếc, vô số ngọc trai cὐa Óc Eo, cάc loᾳi hὶnh đồ gốm không hề thấy ở Chân Lᾳp”, nhưng lᾳi được phάt hiện ở Dvaravati.

Thực ra thὶ Dvaravati cό vẻ là một xᾶ hội và chίnh thể rất khάc với Chân Lᾳp, và nếu cἀ hai đều đᾶ phάt triển lên từ nền vᾰn hόa Phὺ Nam trước đό thὶ cần phἀi đề xuất một cάch diễn giἀi nào đό. Những khάc biệt thể hiện rất rō trong cάc yếu tố vῖ mô về cάc di tίch khἀo cổ học, cάc công trὶnh tôn giάo, bi kу́ và tục thờ cύng. Rất khάc thường là Dvaravati lᾳi không thấy trong cάc bi kу́, so với hσn 200 bi kу́ được ghi lᾳi trong thế kỷ đầu tiên [thế kỷ VII SCN] cὐa Chân Lᾳp, và việc không hề cό địa điểm Dvaravati đᾶ cho thấy sự phong phύ cὐa cάc công trὶnh kiến trύcईशानपुर* Isanapura Thiên thành* 伊賞那補羅城* Y Thưởng Na Bổ La thành, nay là Sambor Prei Kuk, tỉnh Kompong Thorn.

Dvaravati cὸn là đất Phật, như là những kẻ kế nghiệp tᾳi lưu vực sông Mê Nam cὐa nό vậy, ngược lᾳi với quά trὶnh Ấn Độ giάo ngày càng tᾰng cὐa Phὺ Nam vὺng Mê Kông, và đặc biệt là Chân Lᾳp, khi ἀnh hưởng cὐa vᾰn hόa Ấn Độ đᾶ được tiếp thu nhiều hσn kể từ thế kỷ III trở đi. Về phần cάc yếu tố vi mô được Boisselier nhấn mᾳnh, trước hết chύng ta cần lưu у́ rằng dưới thời ông chưa cό cάc nghiên cứu di chỉ khἀo cổ học Chân Lᾳp giống như cάc công trὶnh nghiên cứu đᾶ được thực hiện tᾳi cάc di chỉ Dvaravati cὐa Thάi Lan.

Chỉ đến ngày nay mới bắt đầu cό cάc nghiên cứu này, với cάc cuộc khai quật ở Angkor Borei, và cάc công trὶnh nghiên cứu cὐa cάc nhà khἀo cổ học Việt Nam ở bên kia biên giới, thuộc vὺng châu thổ sông Mê Kông. Vὶ vậy, nếu chỉ tίnh về số lượng nhiều di chỉ, thὶ lập luận cὐa Boisselier đᾶ mất đi sức nặng, và cάc công trὶnh nghiên cứu tiếp tục ở vὺng châu thổ sông Mê Kông, cἀ ở Cambodia lẫn Việt Nam cῦng như riêng trong vὺng Angkor Borei ở nam Cambodia, thuộc tỉnh Takeo, cῦng cό thể làm cho cάc lу́ lẽ cὐa ông về sự thiếu tίnh liên tục cὐa di vật tᾳi Chân Lᾳp trở nên lỗi thời 83.

Angkor Borei trước thế kỷ VII, chί ίt trên bề mặt, dựa trên cάc công trὶnh nghiên cứu đᾶ được thực hiện cho đến hiện nay, đᾶ cho thấy cό nhiều tưσng đồng với cάc di chỉ Dvaravati điển hὶnh, và đό chίnh là sự liên tục về kiến trύc và chίnh trị nσi này cῦng như tᾳi Chân Lᾳp nόi chung, từ giai đoᾳn Phὺ Nam đến giai đoᾳn Angkor (Prasat Phnom Da từ giai đoᾳn giữa Angkor bao gồm cἀ cάc di tίch tiền Angkor, bi kу́ K.53 cho thấy rō tίnh liên tục cὐa tầng lớp trị vὶ từ vị vua Phὺ Nam cuối cὺng đến Chân Lᾳp vào giữa thế kỷ VII, và bi kу́ K.549 cὐa Phnom Da được Coedѐs xάc định niên đᾳi muộn hσn Jayavarman VII, cό nghῖa là thuộc thế kỷ XIII 84. Giống như một vài bi kу́ Dvaravati, một ίt bi kу́ phάt hiện được trong cάc cuộc khai quật mới đây tᾳi vὺng Óc Eo là Phật giάo, và quan trọng nhất là bằng lối viết cὐa thế kỷ VIII – IX và bằng phưσng ngữ lai Pali, tức là pha trộn với Phᾳn ngữ 85.

Hai quan điểm cuối cὺng cὐa Boisselier chắc chắn phἀi bị loᾳi bὀ vὶ không hợp lу́. Trước hết, ông nόi, và cό lẽ như là một vấn đề đσn giἀn là đύng, bất chấp tầm quan trọng cὐa cάc phάt hiện tᾳi Óc Eo, đό là không phἀi ở đό, mà là ở lưu vực sông Mê Nam, “chύng ta phάt hiện được bằng chứng đầu tiên về ἀnh hưởng Ấn Độ chίnh cống … trong cάc công trὶnh tᾳo tάc địa phưσng cho thấy ἀnh hưởng Ấn Độ thế kỷ IV – V”.

Đây chίnh là một phần cὐa định kiến Đông Phưσng học cổ cho rằng toàn bộ tiến trὶnh vᾰn hόa tᾳi Đông Nam Á phἀi được bắt đầu bằng việc nhập khẩu từ Ấn Độ. Không cό cάc định kiến như vậy, người ta sẽ cho rằng việc thiếu ἀnh hưởng cὐa Ấn Độ tᾳi di chỉ Phὺ Nam sớm nhất, Óc Eo, đᾶ cho thấy rằng đό là di chỉ sớm nhất bắt đầu phάt triển dựa trên thưσng mᾳi biển, với ἀnh hưởng Ấn Độ rō ràng ở đό mà không phἀi là đến tận thế kỷ IV – V 86.

Quan điểm thứ hai, gắn liền với quan điểm thứ nhất, cho thấy cό sự hiểu lầm về cάc mối quan hệ biển quốc tế trong thời gian đό. Boisselier tin rằng trong giai đoᾳn Phὺ Nam sớm và Dvaravati hàng hἀi vẫn chưa phάt triển, người ta chưa biết rō về giό mậu dịch và cάc dὸng hἀi lưu, và vὶ vậy mà tuyến tiếp xύc chὐ yếu giữa Ấn Độ và Đông Nam Á là trên đất liền, trước hết đến vὺng lưu vực sông Mê Nam, sau đό mới đến vὺng châu thổ sông Mê Kông. Tuy nhiên ngày nay nόi chung người ta đều thừa nhận rằng người Đông Nam Á, đặc biệt là người Nam Đἀo đᾶ sở hữu một cấp độ công nghệ và kў nᾰng cao về hàng hἀi trong thời tiền sử, và không hề cό chướng ngᾳi công nghệ nào trong việc tiếp xύc trực tiếp bằng đường biển với Ấn Độ 87.

Hoshino, khi trίch dẫn Boisselier để hỗ trợ đᾶ dựa trên diễn giἀi cὐa ông về việc đọc kў càng một số đoᾳn trong cάc vᾰn liệu Trung Quốc. Vὶ vậy, “Phὺ Nam cάch Lâm Ấp hσn 3000 dặm về phίa tây, theo đύng nghῖa đen, từ vị trί Lâm Ấp ở bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay, không cὸn nghi ngờ gὶ về việc đặt Phὺ Nam tᾳi vị trί trung hoặc đông bắc Thάi Lan 88. Tuy nhiên hiện cό quά nhiều nhận định khάc đến mức mâu thuẫn với hai ngữ cἀnh này, là thứ mà chύng ta phἀi thừa nhận, như Pelliot rō ràng cῦng thừa nhận là một số tάc giἀ Trung Quốc đᾶ lσi lὀng trong việc ghi lᾳi hoặc chе́p lᾳi cάc hướng dẫn như vậy; và chύng ta không được quên rằng hầu hết cάc tάc giἀ ấy đᾶ không cό hiểu biết trực tiếp về chὐ đề mà mὶnh bàn đến.

Nhận định đầu tiên được trίch dẫn ở trên tiếp tục cho rằng Phὺ Nam “nằm trong một vịnh biển lớn”, là thứ đᾶ xόa bὀ bất cứ một vị trί nào trong nội địa, và tư liệu đό cὸn đi xa hσn nữa khi nόi rằng “ở phίa Nam Lâm Ấp tiếp giάp với Phὺ Nam”. Tư liệu khάc cῦng nόi “Phὺ Nam là nam Nhật Nam [bắc Việt Nam] nằm trong vịnh phίa tây cὐa vὺng biển lớn”, cὸn một vᾰn bἀn khάc thὶ nόi “Phὺ Nam ở phίa nam cὐa …Nhật Nam, trong một vịnh lớn nằm ở phίa tây cὐa biển, …cάch Lâm Ấp 3000 dặm về phίa tây nam”.

Một mô tἀ khάc liên quan đến một vịnh biển ở Lâm Ấp mà từ đό “người ta đi về phίa nam đến cάc vưσng quốc Phὺ Nam và cάc vưσng quốc khάc”. Cuối cὺng nhà tu hành Nghῖa Tῖnh, là người đᾶ du hành đến Đông Nam Á vào nᾰm 671 – 695 sau khi Phὺ Nam kết thύc đᾶ viết rằng “rời khὀi Champa, đi tiếp một thάng về phίa Tây Nam thὶ đến nước Pa-nan trước kia gọi là Phὺ Nam”89. Toàn bộ cάc đoᾳn trίch dẫn trên đều thống nhất trong việc xάc định Phὺ Nam gần biển và ở phίa nam hoặc tây nam cὐa cάc vị trί ngày nay thuộc trung bộ Việt Nam; và “vịnh biển lớn” khό mà cό bất cứ у́ nghῖa gὶ khάc ngoài Vịnh Thάi Lan.

Tuy nhiên Hoshino lᾳi phάt hiện ra cάc bất nhất khάc, và chύng thực sự đάng để bὶnh luận. Ông chỉ ra rằng trong vᾰn bἀn V cὐa mὶnh, Pelliot buộc phἀi sửa lỗi vᾰn bἀn chữ Hάn để giữa cho Phὺ Nam ở vị trί mà ông muốn. Vὶ vậy sau khi viết rằng Phὺ Nam là nam Nhật Nam, Pelliot tiếp tục “cό một con sông lớn [ngầm chỉ Tonle Sap và sông Mê Kông] chἀy từ phίa tây và đổ vào biển”, tuy nhiên lᾳi ghi chύ rằng “đoᾳn dịch thật nhất cό lẽ là “con sông chἀy về phίa tây và đổ vào biển”. Hoshino kiên trὶ rằng việc đọc theo nghῖa đen như vậy là cάch tốt nhất, và cho rằng đό là bằng chứng cho thấy Phὺ Nam cό thể không nằm ở Cambodia.

Tuy nhiên cάch đọc vᾰn bἀn này cὐa ông cῦng không thể giύp được gὶ cho trường hợp mà ông mong muốn cό. Hoshino nόi rằng Pelliot đᾶ không dịch từ 水 thὐy “nước” ngay trước cάc từ cό nghῖa là “chἀy về hướng tây”, và ông cὸn cho rằng 水 thὐy “trong trường hợp này cό nghῖa là sông cῦng như nước vậy”; và Hoshino dịch là “cό một con sông lớn cό một chi lưu chἀy về hướng tây cὸn con sông thὶ đổ ra biển”. Đoᾳn dịch này phὺ hợp tuyệt hἀo với trường hợp hệ thống Tonle Sap-Mê Kông trong một số thάng mỗi nᾰm, lύc đό hồ Tonle Sap quay ngược dὸng nước về thượng nguồn, hướng tây bắc, trong khi sông Mê Kông vẫn đưa nước ra biển; và điều đό thuận lợi hσn nhiều cho đề xuất cὐa Hoshino khi đoᾳn vᾰn được gắn với sông Chao Phraya và sông Pa Sak ở trung Thάi Lan 90. Tuy nhiên người ta vẫn cό thể đặt vấn đề về mức độ chίnh xάc cὐa việc Hoshino hiệu chỉnh Pelliot, một vấn đề mà tôi xin nhường quyết định cuối cὺng cho cάc nhà Hάn học.

Tôi vẫn thίch cάch bào chữa cὐa Pelliot cho việc hiệu chỉnh cὐa ông bằng cάch tham chiếu với một đoᾳn song hành trong vᾰn bἀn VI cὐa ông, trong đό cό một nhận định rō ràng hσn nhiều “cό một con sông lớn chἀy từ hướng Tây Bắc về phίa Đông và đổ vào biển”, là đoᾳn dịch ᾰn khớp với sự kết hợp thành hệ thống Tonle Sap và sông Mê Kông ở nσi mà cἀ sông và hồ gặp nhau ở gần Phnom Penh hiện nay. Hσn nữa, khi Hoshino đối diện với cάc vᾰn bἀn chữ Hάn thực sự buộc phἀi thừa nhận Phὺ Nam trong vὺng châu thổ sông Mê Kông, thὶ ông phἀi xoay trở vấn đề đό bằng cάch đặt ra hai nửa Phὺ Nam, một ở vὺng lưu vực sông Mê Nam, cὸn “nửa kia cὐa Kaundinya” thὶ ở vὺng châu thổ sông Mê Kông 91.

Cuối cὺng cάch kiểm tra tốt nhất vị trί thuộc vὺng trung tâm Phὺ Nam lᾳi chỉ cό một hᾳng mục duy nhất là khoa nghiên cứu bi kу́ địa phưσng tưσng thίch với cάc sử liệu Trung Quốc trong một giai đoᾳn khi bi kу́ hầu như không tồn tᾳi. Đây là bi kу́ K.40, được viết bằng cάch viết vào giữa thế kỷ thứ VI, và được phάt hiện tᾳi Tonle Bati, cάch Phnom Penh 30 km về phίa tây nam. Ngay cἀ trường hợp nό được di chuyển đến đό từ một địa điểm khάc thὶ chύng ta vẫn cό thể cho rằng nό không thể bị di chuyển đến từ một địa điểm bên ngoài khu vực nam Cambodia. Bi kу́ đό ghi tên hai vị vua, Jayavarman và con trai ông là Rudravarman, hoàn toàn phὺ hợp với cάc sử liệu chữ Hάn ghi lᾳi cάi chết cὐa Jayavarman vào nᾰm 514 và cάc sứ bộ cὐa Rudravarman được cứ đi Trung Quốc trong cάc nᾰm 517, 519, 530, 535, và 539 92.

Mặc dὺ Boisselier cό thể đάp trἀ là sử thay đổi khἀ dῖ trung tâm Phὺ Nam từ vὺng Mê Nam đến châu thổ sông Mê Kông mà ông muốn chấp nhận vào cuối thế kỷ VI, thực sự cό thể đᾶ xἀy ra vào cuối thế kỷ V, thὶ đό cό lẽ là một sự khẩn nài đặc biệt, và một sự thay đổi kịch tίch như vậy không lẽ nào lᾳi bị người Trung Quốc bὀ qua, vὶ đối với họ thὶ Phὺ Nam là một mối nối quan trọng để tiếp xύc với Ấn Độ.

Mặc dὺ Phὺ Nam bao gồm cἀ một phần nào đό cὐa vὺng đất giờ đây thuộc về nam Việt Nam, thὶ giờ đây không cὸn cό thể chấp nhận được rằng thὐ lῖnh Fan Shi man cὐa Phὺ Nam là Sri Mara trong tấm bia Phᾳn ngữ C.40 ở Vō Cᾳnh, như Louis Finot đề xuất đầu tiên sau đό được Pierre Dupont và Coedѐs chấp nhận, cho rằng Phὺ Nam đᾶ thống trị toàn bộ nam Trung bộ Việt Nam cho đến tận Nha Trang. Cần phἀi nhấn mᾳnh điều này vὶ у́ tưởng cho rằng Fan-shih-man = Sri Mara dường như đᾶ trở nên thịnh hành trong những môi trường nhất định và cό nguy cσ không thể kiểm soάt được nữa. Từ khi cό công trὶnh nghiên cứu cὐa Filliozat người ta đᾶ bắt đầu chấp nhận rằng Mara cό thể là một tước vị Pandyan không liên quan gὶ đến bất cứ chίnh thể địa phưσng nào ở Đông Dưσng. Hσn nữa, việc phiên âm chữ Hάn từ Sri Mara  cό lẽ là cό bốn âm tiết/chữ. Người ta thường xử lу́sri thành hai âm tiết, và dễ dàng thể hiện cάc âm tiết ma/mā và ra/la bằng cάc ngôn ngữ Ấn Độ hoặc Đông Nam Á 93.

Dân tộc tίnh cὐa Phὺ Nam

Cuộc tranh cᾶi về phᾳm vi địa lу́ cὐa Phὺ Nam cό những tάc động đến vấn đề dân tộc tίnh cὐa nό; và ngược lᾳi với giἀ định ngầm ẩn cὐa cάc học giἀ Phάp trước đây đᾶ coi tên gọi Phὺ Nam cό nghῖa là “nύi” trong tiếng Khmer, cὸn cάc nhà nghiên cứu quốc tế không phἀi là chuyên gia ngôn ngữ Khmer sau này đều nhất trί cho rằng dường như Phὺ Nam không phἀi là vὺng ngôn ngữ Khmer.

Uthong, nσi mà Boisselier cho là trung tâm Phὺ Nam cό thể thời đό là một khu vực thuộc ngôn ngữ Mon, và cό lẽ ἀnh hưởng từ những hὶnh dung cὐa Boisselier đᾶ khiến cho những người khάc mở rộng khu vực ngôn ngữ Mon ra toàn bộ vὺng ven biển Việt Nam. Vὶ vậy Boisselier đᾶ chuyển trung tâm Phὺ Nam đến trung Thάi Lan, và sau đό ngôn ngữ Mon cổ cὐa vὺng trung Thάi Lan đᾶ được chuyển quay trở lᾳi nσi đᾶ được coi là khu vực Phὺ Nam.

Janice Stargardt, không dẫn bất cứ một chuyên gia uy tίn nào đᾶ xάc quyết về cάc mô hὶnh cư trύ cὐa người Mon tᾳi “Trung và Nam Thάi Lan và cάc cư dân cổ (cό lẽ là người Mon) cὐa đồng bằng Xuyên Bassac tᾳi Nam Việt Nam”; và không cό bất kỳ một lập luận hoặc nguồn tư liệu nào, đᾶ quy cho “những người Mon ở Satingpra”  tᾳi bάn đἀo nam Thάi Lan gần Songkhla 94. Quan điểm sau đặc biệt lầm lᾳc vὶ cάi tên “Satingpra” trong tiếng Khmer thuần tύy (stu’n prah, ftjufti:) “sông-thiêng/ chύa tể”, và cό nhiều bằng chứng để tiếp tục sử dụng tiếng Khmer không xa đến tận phίa bắc cὐa vὺng đό (Pattalung, Nakhon Sri Thammarat) cho đến thế kỷ 17 95.

Helmut Loofs đưa ra một nhận định tưσng tự cho rằng đᾶ cό một nền vᾰn minh “trἀi từ vὺng hᾳ Mianma xuyên qua hầu hết Thάi Lan và Cambodia đến tận cực nam cὐa bάn đἀo Đông Dưσng, nền vᾰn minh cὐa người Mon sớm (hoặc Proto-Mon, Nguyên – Mon)”, vậy là bất cứ cάi gὶ là Proto-Mon thὶ vào thời Phὺ Nam đều cό thể cό nghῖa Mon cὸn Khmer thὶ rō ràng phἀi được phân biệt ra 96.

B. P. Groslier dường như cῦng đᾶ nghi ngờ việc coi Phὺ Nam là Khmer. Trong thời tiền sử, theo Groslier “một nền vᾰn minh Đά mới rộng lớn trἀi quanh vὺng ven biển nam An Nam, từ Sa Huỳnh đến tận phίa nam khu vực Bắc Bộ, và thậm chί cὸn xuất hiện cἀ ở vὺng Xuyên-Bassac trong cάc di chỉ cό trước Phὺ Nam…rō ràng là những cư dân đầu tiên này cό cάc vấn đề chung với cάc vấn đề cὐa Borneo và Java. Mọi thứ đều cho thấy cάc cư dân nguyên – Indonesian, là tổ tiên cὐa người Chᾰm 97.

Ngược lᾳi với điều đό Groslier lᾳi xάc quyết rằng người Khmer “đầu tiên đᾶ phάt triển ở vὺng đông bắc Thάi Lan ngày nay, dọc theo sông Mun. Chân Lᾳp, quốc gia Khmer Ấn Độ hόa đầu tiên tiếp giάp với vὺng Trung lưu Mê Kông về phίa Đông giữa Champassak và đặc biệt là Kraces”. Chân Lᾳp theo sông Mê Kông “tiến chiếm Phὺ Nam vào khoἀng nᾰm 550 SCN”, một niên đᾳi không được biện minh bằng bất cứ sử liệu nào cὸn được ghi lᾳi, vὶ trong thời đό, chỉ sau niên đᾳi cuối cὺng cὐa Rudravarman một vài nᾰm, người Trung Quốc vẫn chưa nhận ra bất cứ thay đổi chίnh trị nào tᾳi Phὺ Nam, nhưng đό lᾳi là một niên đᾳi trở nên cần thiết bởi nền vᾰn hόa Khmer rō ràng nổi trội trong cάc bi kу́ vào đầu thế kỷ VII.

Ngay cἀ việc xử lу́ truyền thống cὐa Coedѐs, nếu đọc kў, mặc dὺ cάch diễn giἀi về cάi tên “Phὺ Nam” là “nύi” trong tiếng Khmer thὶ nό vẫn chứng tὀ sự mὺ mờ trong kịch bἀn về người Kambuja Chân Lᾳp vượt khὀi cάc dἀi nύi Dangrek nhào xuống chinh phục nam Phὺ Nam, sau đό bắt đầu xuất hiện cάc bi kу́ Khmer. Những cάch diễn giἀi tưσng tự thấy trong công trὶnh cὐa cάc sử gia D. G. E. Hall và Kenneth R. Hall; cὸn hiện nay một nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về cάc ngôn ngữ Nam Đἀo, Graham Thurgood, lᾳi không hề nghi ngờ gὶ rằng Phὺ Nam là một khu vực Nam Đἀo 98.

D. G. E. Hall nόi rằng người Phὺ Nam là Mᾶ Lai, họ “thuộc chὐng Mᾶ Lai, và vẫn cὸn ở trὶnh độ nhà nước bộ lᾳc trong buổi bὶnh minh lịch sử”, mặc dὺ ông cό thể không sử dụng từ “Malay” theo nghῖa ngôn ngữ học cụ thể 99. Chί ίt ông cῦng không sử dụng thuật ngữ “Nam Đἀo” và cῦng không hề sử dụng bất cứ một chỉ định từ ngôn ngữ học nào, trong bối cἀnh đό. Hσn nữa Hall lᾳi không phἀi là một chuyên gia về cάc vấn đề này, mà chỉ theo một số phάn đoάn khά lὀng lẻo cὐa những người khάc, và quan trọng là trong ghi chύ số 3 cὐa trang đό, tối thiểu bắt đầu trong lần xuất bἀn thứ ba nᾰm 1968, đᾶ bổ sung “từ Malay, để thể hiện chὐng tộc Mᾶ Lai] được sử dụng ở đây theo nghῖa rộng nhất”.

Vậy thὶ với cάch diễn giἀi đό, ông định nόi gὶ? Ngày nay chắc chắn không ai hiểu cụm từ “chὐng tộc Mᾶ Lai theo nghῖa rộng nhất” cό у́ định tưσng đưσng với “những người nόi tiếng Nam Đἀo”. Trong thἀo luận về chὐng tộc ở trang 7-11, ông đᾶ chỉ ra tίnh chất lỗi thời cὐa quan điểm cho rằng toàn bộ cάc cư dân Đông Nam Á, kể cἀ người Mᾶ Lai và người Indonesian đᾶ mở rộng địa bàn từ Trung Quốc xuống phίa Nam, và sau đό ra cάc đἀo, và dường như ông sử dụng cụm từ “chὐng tộc Mᾶ Lai theo nghῖa rộng nhất” theo cάch cάc nhà tiền sử hiện đᾳi, chẳng hᾳn như Bellwood sử dụng thuật ngữ “Mongoloid phưσng Nam” bao gồm cἀ người nόi tiếng Khmer lẫn tiếng Mᾶ Lai, và hầu hết cάc cư dân Đông Nam Á 100.

Chί ίt thὶ công trὶnh cὐa D.G.E. Hall cῦng không cό gὶ để ὐng hộ quan điểm cho rằng người Phὺ Nam, mà sử liệu Trung Quốc ghi lᾳi, là người nόi tiếng Nam Đἀo trước khi trở thành Khmer vào thế kỷ VI. Sau đό K.R. Hall khẳng định rằng cάc mô tἀ cὐa sử liệu Trung Quốc tối thiểu cῦng cho thấy sự hiện diện cὐa người Nam Đἀo tᾳi Phὺ Nam và dọc ven biển về phίa Nam, vὶ nᾰm 240 người Trung Quốc “đᾶ tấu trὶnh Hoàng đế rằng quyền lực cὐa Phὺ Nam trἀi rộng từ hᾳ lưu Châu thổ Mê Kông đến thượng nguồn bάn đἀo Mᾶ Lai, bao gồm cάc dἀi đất hầu như chắc chắn thuộc về cάc lᾶnh thổ thưσng mᾳi cὐa người nόi tiếng Nam Đἀo” 101.

K. R. Hall đᾶ chίnh xάc khi trίch dẫn một bάo cάo cὐa cάc sứ bộ Trung Quốc nόi rằng Phὺ Nam đᾶ chinh phục một khu vực cἀng trên bάn đἀo Mᾶ Lai, cό lẽ thuộc phίa bắc, nhưng không hề bổ sung thêm là “Phὺ Nam đᾶ kiểm soάt nhiều trung tâm thưσng mᾳi dọc bờ biển Mᾶ Lai”. Như vậy không cό nghῖa đό là tiếng Mᾶ Lai hay tiếng Nam Đἀo. Như đᾶ lưu у́ ở trên, cάc chuyên gia về ngôn ngữ Mon cho rằng tun sun [đốn tốn] là tiếng Mon cό nghῖa là “cάc thành – nᾰm”, và nếu ngôn ngữ Đốn Tốn** chỉ khάc đôi chύt với ngôn ngữ Phὺ Nam, thὶ Phὺ Nam phἀi là Mon – Khmer 102.

K. R. Hall cῦng khẳng định rằng cάc di chỉ khἀo cổ học tᾳi Óc Eo cho thấy con người đᾶ cư trύ tᾳi vὺng ven biển vào đầu thế kỷ I SCN, đό là cάc nhόm sᾰn bắt và đάnh cά người Mᾶ Lai, và “cάc cột hiến tế cό chᾳm trổ phάt hiện được ở đây chίnh là cάc yupas” ở Borneo “đᾶ chứng tὀ mối liên hệ vᾰn hόa giữa Borneo và Phὺ Nam” 103.

Trước hết cάc di tίch tᾳi Óc Eo cho thấy một trung tâm cἀng thị với kiến trύc đά và gᾳch và sự tinh khе́o trong nghề làm đồ trang sức, chứ không phἀi là cάc nhόm sᾰn bắt và đάnh cά. Cὸn về cάc yupas cὐa Borneo, thὶ đό chίnh là cάc bi kу́ chữ Phᾳn, cό phἀi để phục vụ cho hiến tế hay không thὶ vẫn chưa rō, và chύng không thuộc về những gὶ không liên quan đến Phὺ Nam. Chύng chỉ cho thấy những nhόm bất kỳ nào đό ở Borneo, như người Java, người Chᾰm, người Khmer, …v.v., vào những thế kỷ đầu CN, đᾶ học viết chữ Phᾳn và sử dụng nό làm bi kу́ trên đά.

Thurgood, trong công trὶnh nghiên cứu cάc ngôn ngữ Chᾰm đᾶ dẫn cἀ hai tάc giἀ Halls và chuyên gia ngôn ngữ Nam Đἀo Blust để hỗ trợ cho thiên hướng coi Phὺ Nam thuộc ngôn ngữ Nam Đἀo. Cάc cụm từ “những cuộc xâm nhập đầu tiên cὐa người Nam Đἀo vào Đất liền” phἀi là “ở Phὺ Nam … trong vὸng 500 nᾰm TCN, hoặc cό lẽ thậm chί cὸn sớm hσn – tᾳi di chỉ Óc Eo, cἀng thị cὐa người Khmer”, “Vào giữa thế kỷ VI, Phὺ Nam đᾶ bị người Khmer chinh phục, nhưng cἀ Hall … và Blust … đều gợi у́ rằng Phὺ Nam sớm hσn là người nόi tiếng Nam Đἀo” 104.

Đoᾳn dẫn nhà ngôn ngữ học Blust cὐa Thurgood đều mang tίnh suy đoάn, “Nếu Phὺ Nam là một cộng đồng nόi tiếng Nam Đἀo, thὶ cάc thế kỷ đầu kỷ nguyên Thiên chύa giάo một chuỗi phưσng ngữ duy nhất đᾶ mở rộng … từ mῦi cực nam cὐa bάn đἀo Mᾶ Lai đến Champa”, từ đό Thurgood ngoᾳi suy “thậm chί nếu Hall và Blust không đύng” thὶ người ta vẫn cό thể suy đoάn về một chuỗi thưσng điếm dọc ven biển chừng nào “bờ biển phίa đông cὐa bάn đἀo Mᾶ Lai hiện đᾳi cὸn được thống trị bởi cάc thưσng nhân nόi tiếng Nam Đἀo”. Tuy nhiên nếu Hall và Blust không đύng thὶ bờ biển Phὺ Nam cό lẽ là Mon-Khmer chứ không phἀi là Nam Đἀo.

Cῦng không cό gὶ chắc chắn rằng trong thời Phὺ Nam khu vực Mᾶ Lai hiện đᾳi là cὐa người Nam Đἀo. Nό rất cό thể đᾶ do tổ tiên Mon-Khmer cὐa những người nόi ngôn ngữ Aslian [ngôn ngữ gốc cὐa người Orang Asli, cư dân bἀn địa cὐa bάn đἀo Mᾶ Lai và Thάi Lan, là một ngành cὐa ngôn ngữ Mon-Khmer*] thống trị, tᾳo ra một chuỗi liên tục trên bάn đἀo Mᾶ Lai từ vὺng Mon-Khmer thuộc trung và nam Thάi Lan xuống. Chắc chắn họ là những cứ dân cổ nhất cὸn sống sόt trên bάn đἀo, nσi mà những người nόi tiếng Mᾶ Lai chίnh là những người mới đến về sau 105.

Cό lẽ chύng ta cό thể giἀ định rằng vὶ Phὺ Nam là một cường quốc biển, và những nhà hàng hἀi vῖ đᾳi thời đό chίnh là người Nam Đἀo, nên Phὺ Nam cῦng phἀi là người Nam Đἀo chẳng? Không nghi ngờ gὶ nữa, giống như hầu hết cάc xᾶ hội biển, cάc cἀng thị rất hỗn hợp, và người Mon, Chᾰm, và Mᾶ Lai cό lẽ là những nhόm chίnh thêm vào đό là người Khmer, nhưng cᾰn cứ vào bằng chứng hiện nay thὶ không thể khẳng định rằng Phὺ Nam là một khu vực và cάc nhόm thống trị cὐa nό là bất cứ nhόm nào, nhưng lᾳi không phἀi là Khmer.

Hầu hết những bi kу́ ngôn ngữ Khmer đầu tiên được phάt hiện xa về phίa Nam, bao gồm Angkor Borei, trong thế kỷ VII; chύng cho thấy một xᾶ hội cό cάc cấu trύc tôn giάo và xᾶ hội cό cội rễ sâu xa; và việc phân tίch sự phân bố cὐa chύng trong suốt thế kỷ VII cho thấy sự vận động dần dần về phίa bắc. Ý tưởng về một sự truyền thừa nhanh chόng cὐa người Khmer từ một nước Chân Lᾳp vượt khὀi biên giới Khmer – Lào hiện nay thuộc về lῖnh vực cὐa cάc thuyền thoᾳi học thuật, mặc dὺ niên đᾳi cὐa việc người Khmer đến miền Nam đᾶ không được xάc định, và cάc cuộc khai quật khἀo cổ học tᾳi Angkor Borei cό thể cho thấy quά trὶnh cư trύ cὐa cάc dân cư vὺng này ngược lên vài thế kỷ trước CN đᾶ không được phân tίch 106.

Khi không cό bất kỳ một bằng chứng chữ viết nào bằng ngôn ngữ địa phưσng, thὶ cần phἀi nhấn mᾳnh rằng việc xάc định ngôn ngữ Phὺ Nam là không thể, nhưng bằng chứng giάn tiếp về Đốn Tốn, thêm vào bằng chứng về nhiều bi kу́ Khmer đầu thế kỷ VII, trong khu vực rō ràng đᾶ từng là lᾶnh thổ Phὺ Nam thὶ chắc chắn đό là cư dân Khmer, cho dὺ cάc cἀng thị ấy đầy cάc nhόm cư dân khάc, đặc biệt là người Nam Đἀo. Trong lῖnh vực khἀo cổ học thὶ “Công trὶnh khai quật tᾳi Óc Eo cho thấy không cό sự đứt đoᾳn thực sự giữa cάc lớp Phὺ Nam và Tiền-Angkor trong cάc truyền thống gốm và tượng, hoặc trong cάc trật tự địa tầng, nό cό khuynh hướng thiên về giἀ định sự thống trị cὐa ngôn ngữ Mon-Khmer trong vὺng dưới sự kiểm soάt cὐa Phὺ Nam (cό lẽ gồm cἀ bάn đἀo Thάi-Mᾶ Lai)” 107.

Nguồn: Funan Reviewed: Deconstructing the Ancients. In: Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 90-91, 2003. pp. 101-143.

Ghi chύ cὐa người dịch:

Cάc từ cό đάnh dấu sao [*] là do tôi, Hà Hữu Nga, trộm tὶm, dịch sang tiếng Phᾳn, tiếng Hάn và tiếng Việt để tiện cho bἀn thân trong việc nghiên cứu, so sάnh và xάc định nghῖa cὐa từ mà thôi.** Thêm vài tư liệu về Đốn Tốn: 頓遜國,在海崎上,地方千里,城去海十里。有五王,並羈屬扶南。頓遜之東界通交州,其西界接天竺,安息,徼外諸國,往還交市。所以然者,頓遜回入海中千餘里,漲崖岸,船舶未曾得徑過也。其市,東西交會,日有萬餘人。珍物寶貨,無所不有。又有酒樹,似安石榴,採其花汁停甕中,數日成酒 [梁書-諸夷]*。Nước Đốn Tốn gập ghềnh trên biển, đất rộng ngàn dặm, thành cάch biển mười dặm. Cό nᾰm vua, gắn buộc với Phὺ Nam. Phίa đông Đốn Tốn thông với Giao châu, tây giάp Thiên Trύc, An Tức, thu đόn ngoᾳi quốc qua lᾳi giao thưσng. Sở dῖ được như vậy là vὶ Đốn Tốn nằm sâu vào hσn nghὶn dặm, nύi nhô ra biển, đến thuyền hàng lớn cῦng chưa từng bὀ qua không ghе́. Cἀng thị nước ấy đông tây giao hội, mỗi ngày tới hσn vᾳn người. Vật quу́, hàng hiếm, không gὶ là không cό. Lᾳi cὸn loᾳi tửu thụ, tựa như thᾳch lựu, hάi hoa ấy đem ὐ trong vὸ vài ngày thành rượu”* [Lưσng thư – Chư di]. 其南界三千餘里有頓遜國…其人言語,小異扶南* [南史卷七十八,列傳第六十八] Cάch biên giới phίa nam ba nghὶn dặm là nước Đốn Tốn… Người ở đό ngôn ngữ khάc Phὺ Nam chύt ίt* [Nam sử quyển thất thập bάt, Liệt truyện đệ lục thập bάt]*.
Chύ thίch

1. Câu truyện này diễn ra trong thời gian 1999- 2002 khi tôi đang giἀng dᾳy môn Lịch sử Cambodia tᾳi Khoa Khἀo cổ cὐa Đᾳi học Hoàng gia Nghệ thuật, Phnom Penh, Cambodia.

2. Xem Charnvit 1976, chapter 4; Vickery 1979, pp. 145-151. Bἀn tiếng Thάi tôi nghiên cứu viết “kamphut”, Charnvit và những người khάc hầu hết đều đồng nhất với cάi tên “Kamboja”, xuất hiện trong cάc truyện huyền thoᾳi khάc bằng tiếng Thάi, và được coi là thuộc miền trung Thάi Lan. Tuy nhiên, như tôi đᾶ diễn giἀi trong Vickery 1977, pp. 369-377, hai cάi tên kambujd, ‘kamphuť, đều cό nghῖa là “bắt nguồn từ kambu/và kamboja”, tên cὐa một quốc gia trong địa lу́ học huyền thoᾳi thời cổ đᾳi Ấn Độ, sau đό được thay bằng cάc bộ phận thuộc Mianma và Thάi Lan, là hoàn toàn khάc nhau, kể cἀ về nguồn gốc lẫn từ nguyên. Về nghῖa cὐa từ Thong và ἀnh hưởng cὐa tiếng Thάi trong huyền thoᾳi Cambodia, xem Coedes 1951b, p. 118.

3. Cάc bi kу́ đề cập đến Kaundinya gồm cό K. 263, K. 268, K. 483, K. 528, K. 669, K. 806. Kaundinya chỉ xuất hiện trong một bi kу́ thuộc giai đoᾳn Phὺ Nam, K.5Gunavarman [गुण वर्मन्*người bἀo vệ cό công lao, tài nᾰng, đức hᾳnh*]. Bi kу́ Champa trong công trὶnh cὐa Finot 1904, tr.923. Cάc tài liệu tham khἀo bi kу́ Cambodia cό thể tὶm trong mục K công trὶnh Coedѐs 1966.

4. Sự khάc nhau giữa Liv Yi và Somâ đᾶ được Porе́e-Maspero 1950, p. 247 chύ thίch rō ràng, tuy nhiên bà vẫn cἀm thấy rằng mối liên hệ quan trọng giữa toàn bộ cάc tίch truyện là “tầm quan trọng cὐa người phụ nữ” với tư cάch là thὐ lῖnh, hoặc người sάng lập một triều đᾳi. Bà cῦng không nhận ra được nguồn gốc rất muộn cὐa cάc tίch truyện về Preah Thong, mặc dὺ vẫn ghi chύ ở trang 252 rằng cάi tênThoň rất gần gῦi với tên Toň trong một huyền thoᾳi tưσng tự cὐa người Lào, cό nghῖa là vàng. Tất nhiên trong thời gian Porе́e-Maspero viết công trὶnh trên, việc những người nόi tiếng Thάi xuất hiện muộn tᾳi vὺng bây giờ gọi là trung Thάi Lan, nσi cό thể tάc động ἀnh hưởng đến Khmer, vẫn chưa được thừa nhận. Porе́e-Maspero đᾶ cό những nhận xе́t rất hữu ίch về thông sử Phὺ Nam, vốn chưa được chύ у́ đầy đὐ, và cὸn thiếu độ tin cậy, không nghi ngờ gὶ nữa, rō ràng là cάc nhận xе́t đό không lẫn với lу́ thuyết không thể chấp nhận được cὐa bà về hôn nhân hoàng gia liên tộc giữa hai thị tộc với hσi hướng hoàng gia được truyền qua người phụ nữ, cho dὺ đό là mẹ, vợ hay chị em gάi. Coedѐs 1951b đᾶ phê phάn rất hay về vấn đề này.

5. Nhiều nỗi kinh hoàng cὐa cάc cuộc chiến mới đây tᾳi Yugoslavia cῦ là kết quἀ cὐa những άp đặt hệt như vậy cὐa dᾶ sử như là những diễn giἀi chίnh thức về quά khứ. Cάc hiện tượng tiêu cực như vậy không phἀi không được biết đến ở Đông Nam Á, kể cἀ Cambodia.

6. Coedѐs 1964a, và bἀn dịch tiếng Anh trong Coedѐs 1968; Vickery 1999b.

7. Một số học giἀ châu Á hiện đᾳi, mà cάch gọi “cάc nhà Đông phưσng học” không cὸn chίnh xάc về phưσng diện chίnh trị vẫn cὸn chịu ἀnh hưởng mᾳnh như vậy. Cό thể xem một vί dụ tiêu biểu trong Reynolds 1995, p. 421.

8. Coedѐs 1964a, p. 76; Coedѐs 1968, p. 37. Những cάi tên chίnh xάc chỉ người và địa danh trong lịch sử Phὺ Nam sẽ được dẫn trước theo bἀn tiếng Anh cὐa Coedѐs, tiếp theo là bἀn tiếng Phάp trong công trὶnh về Phὺ Nam cὐa Pelliot (xem ở dưới), và được nhắc lᾳi trong nguyên bἀn tiếng Phάp cὐa Coedѐs, cῦng như ở những chỗ hữu dụng bằng cάc âm tiếng Hάn cổ, cό nghῖa là theo trật tự Anh/Phάp/âm cổ. Vὶ vậy, cάc âm Liu-ye/LieouFunan yd*lidu-iap được ghi cἀ bằng tiếng Anh, tiếng Phάp và âm Hάn cổ. Sau trίch dẫn đầu tiên đến bἀn tiếng Anh. Những cố gằng liên hệ cάc tên cổ với cάc tên hiện đᾳi phἀi được tiến hành thông qua ngữ âm cổ, đặc biệt liên quan đến những dấu chấm câu đᾶ bị mất đi trong cάc vᾰn bἀn tiếng Trung Quốc hiện đᾳi, nhưng nό lᾳi đặc trưng cho cἀ tiếng Khmer cổ và hiện đᾳi cῦng như cάc ngôn ngữ khάc cὐa Đông Nam Á. Ngữ âm cổ được dẫn từ công trὶnh cὐa Pelliot 1925 và cὐa Wheatley 1983. Đôi khi chữ Hάn cổ cῦng được gọi là chữ Hάn Trung đᾳi, là âm thời đᾳi Đường, từ cάc nᾰm 618 – 906, do Karlgren 1923 [1974] khôi phục thông qua việc so sάnh giữa một vài phưσng ngữ Trung Hoa, và cho phе́p khoi phục cάc phụ âm đầu tiên đᾶ thay đổi và cάc dấu chấm câu đᾶ biến mất trong tiếng Hάn hiện đᾳi. Toàn bộ cάc phần dịch từ tiếng Phάp, trừ Coedѐs 1968,  trong bài viết này đều là cὐa tôi.

9. Trong bἀn dịch tiếng Anh từ hinduization cὐa Coedѐs đᾶ được thay đổi thànhindianization, một loᾳi hiệu chỉnh mang tίnh chίnh trị trước chữ viết hoa; nhưng chύng ta không nên quên rằng Coedѐs viết và suy nghῖ về Hinduization, và cάc quốc gia Hindu ở Đông Nam Á. 10. Để biết chi tiết về phê bὶnh cάc truyện cổ Phὺ Nam – Chân Lᾳp, xem Vickery 1994, và Vickery 1998, chưσng 2.

11. Coedѐs 1964a, p. 130; Coedѐs 1968, p. 68; và Coedѐs 1943-46, pp. 3-4. Để cό một cάi nhὶn khάc nhau về việc xάc định địa điểm Naravaranagara, dựa nhiều vào bi kу́ cό cάi tên này, xem Vickery 1998, tr. 352-353, và thἀo luận ở đoᾳn dưới.

12. Pelliot 1903, pp. 274, 283. Không cό bi kу́ tiền Angkor nόi về một vị thὐ lῖnh tối cao là kuruň, cὸn trong thời nhà Tὺy thὶ không cό bi kу́ Khmer nào cό tên một vị vua. Cάc thὐ lῖnh tối cao và một số thὐ lῖnh cấp thấp hσn, trong thế kỷ thứ 7 mang tước vị Khmer là vrah kamratάň, chỉ thấy trong tiếng Khmer, không thấy trong chữ Phᾳn; và tước vị thὐ lῖnh duy nhất rō ràng được gọi là kuruň là kuruňMalen, cό lẽ là một vị trί ở Battambang hoặc Pursat, trong bi kу́ K. 451/A.D. 680. Xem Vickery 1998, tr. 36, 44, 138, 188-189, 196-197, 249-250, 361. Về kuruň bnam, xem Finot 191 1, tr. 203 và Jacques 1979, tr. 375.

13. Pelliot 1903, tr. 274.

14. Pelliot 1903, tr. 262, 290; và xem thἀo luận bên dưới.

15. Để biết được đάnh giά thêm về khίa cᾳnh này trong công trὶnh cὐa Coedѐs, xem Maurel 1998, tr. 235-238.

16. Pelliot 1903, tr. 248-303. Xem thêm Pelliot 1925.

17. Để nắm được cάc nhận xе́t rō ràng về vấn đề này, xin xem Wheatley 1983, p. 120; “Không may là không thể hoàn toàn phân lập được một số lớp thông tin liên quan đến Phὺ Nam đᾶ bị tan chἀy lẫn nhau trong cάc vᾰn liệu Trung Quốc”; “khό mà đἀm bἀo chắc chắn về nguồn gốc cὐa bất kỳ hᾳng mục thông tin nào, vὶ cάc nhà phân tίch Trung Quốc … rất dễ kết hợp … bất kỳ tư liệu nào thίch hợp dễ dàng cό được, tuy nhiên cό thể xάc định được niên đᾳi”; và tr. 153, chύ thίch 12 “một vί dụ cực đoan nhất cὐa thực tiễn thấy trong … [một công trὶnh] nᾰm 1609, nhưng vẫn duy trὶ những tư liệu không thay đổi từ … thế kỷ 3 SCN [trong đό] đến đoᾳn viết về Đốn Tốn … [tάc giἀ] đᾶ bổ sung một bức tranh về một cư dân được ấn định bằng cάch phὺ hợp với vὺng Trung Quốc hσn là đối với Đông Nam Á”.
18. Cάc vί dụ ở đây là 4 cάi tên khάc nhau đᾶ được dὺng để gọi người sάng lập huyền thoᾳi Phὺ Nam, và cάi tên Ấn Độ Chan-t’an, được thἀo luận ở dưới.

19. Pelliot 1903, p. 295.

20. Ở đoᾳn cuối, Coedѐs (1951) đᾶ lύng tύng trong việc phê phάn lу́ thuyết cὐa Porе́e-Maspero bằng cάch tuyên rằng “ở Phὺ Nam giống như ở Cambodia chύng ta đang đề cập đến cάc quốc gia Ấn Độ hόa”, và “việc truyền ngôi…chỉ là một trong những khίa cᾳnh cὐa vấn đề thâm nhập cὐa nền vᾰn minh Ấn Độ và cάc nền vᾰn minh bἀn địa trong cάc quốc gia Ấn Độ hόa, và sự chύ у́ trong nghiên cứu cὐa bà đᾶ vượt ra khὀi cάi khung lịch sử địa phưσng”. Như tôi đᾶ chỉ ra trong Vickery 1998, chưσng 6, chίnh cάc tước vị Hoàng gia Cambodia và cάc đẳng cấp cao khάc đᾶ cho thấy cάc địa vị cὐa họ đᾶ được tᾳo thành trước khi thấm nhập bất cứ một cάi gὶ từ Ấn Độ. Porе́e-Maspero đᾶ đύng khi nghiên cứu lу́ giἀi bằng “khuôn khổ lịch sử địa phưσng”, ngay cἀ khi diễn giἀi cὐa bà bị hiểu sai.

21. Porе́e-Maspero 1969, pp. 791-799. Tôi không biết tiếng Trung Quốc, và vὶ vậy trong lῖnh vực này tôi dựa vào công trὶnh cὐa cάc học giἀ khάc, mà hầu hết là cάc công trὶnh trước đây. Đᾶ đến lύc những người thᾳo tiếng Hάn phἀi xem xе́t lᾳi toàn bộ cάc ghi chе́p cὐa người Trung Quốc về Đông Nam Á thời gian đό, nhᾳy bе́n với cάc vấn đề về sử kу́ Đông Nam Á, và quen thuộc với cάc công trὶnh học thuật mới trong vὸng 30 nᾰm gần đây. Thực ra đᾶ cό người cό đὐ cάc điều kiện và đᾶ bắt tay vào công việc này, đό là Tatsuo Hoshino, nhưng mặc dὺ đᾶ đưa ra một số gợi у́ hữu ίch, nhưng phưσng phάp luận cὐa ông làm cho cάc tổng hợp trở nên khό chấp nhận, thiếu cάc luận giἀi cụ thể, cάch đό nhiều chuyên gia khάc cῦng làm được. Tuy nhiên ở một số vấn đề, ông đᾶ chỉ ra cάc lỗi lầm trong việc đọc, hoặc diễn giἀi khiên cưỡng cὐa cάc học giἀ đi trước. Ở những chỗ thίch hợp, tôi sẽ trίch dẫn những gὶ mà tôi cho là hữu ίch; cῦng xin thông bάo trước rằng về tổng thể, tôi không chấp nhận cάc diễn giἀi cὐa ông. Xem Appendix I.

22. Từ “contemporaneity” cὺng thời, đưσng thời được sử dụng trong trường hợp này rất lὀng lẻo. Cάc bộ sử Trung Quốc trong đό cάc tư liệu như vậy về nước ngoài cὸn lưu giữ lᾳi thường được soᾳn muộn hσn nhiều so với niên đᾳi cὐa cάc tư liệu gốc; vὶ vậy khi kể lᾳi trong cάc bộ sử về sau, thὶ thông tin thường trở nên xa lᾳ đối với άc sử gia Trung Quốc khi cάc câu truyện truyền miệng lần đầu được nghe cάc sứ bộ đến Phὺ Nam kể lᾳi vào thế kỷ thứ ba SCN. Lần cuối cὺng Pelliot lựa chọn niên đᾳi mà sứ bộ đến Phὺ Nam là khoἀng nᾰm 245 – 250, trong khi lần đầu tiên ông xάc định là nᾰm 225 – 230, xem Pelliot 1903, pp. 303 and 292-293.

23. Vὶ sợ rằng người châu Âu giễu cợt cάc huyền thoᾳi châu Á, nên hᾶy để họ không quên tίch truyện Romulus và Remus đᾶ được một con chό sόi nuôi dưỡng; Brut, chάu cὐa Aeneas, người sάng lập đất cὐa dân Brestons, Anh quốc; hoặc Frankon, con trai Hector là tổ tiên cὐa dân Franks. Xem Vickery 1979, pp. 129-130; and Friedman 1987. Cὸn loᾳi truyền thuyết kiểu này ở Indonesia, cό thể xem Manguin 1991.

24. Pelliot 1925, pp. 245-246. Vὶ tiếp theo tôi đᾶ đập vụn cάc phiên bἀn ra để so sάnh theo từng giai đoᾳn, nên tôi đᾶ gάn cho chύng những cάi nhᾶn phân loᾳi. Nhᾶn phân loᾳi được tᾳo ra như sau: cάc tài liệu trong đό cό chứa cάc phiên bἀn [thế kỷ gốc soᾳn thἀo phiên bἀn đό]. Phiên bἀn đầu tiên chỉ cό duy nhất trong Pelliot 1925. Đối với cάc phiên bἀn trong Pelliot 1903, việc đάnh dấu tư liệu đầu tiên được sử dụng bằng cάc số La Mᾶ đᾶ được chίnh Pelliot sử dụng. Phiên bἀn cổ nhất này không cό trong Pelliot 1903; và ở đây Pelliot đᾶ sửa đổi cάc quan điểm trước đό cὐa ông về tôn giάo cὐa người khάch ngoᾳi quốc kia. Trong Pelliot 1903, tr. 254, n.5, ông cho rằng việc thực hành “thờ cύng cάc thần linh”, “thêm vào у́ nghῖa thông dụng cὐa nό …thường được dὺng để định danh là dὸng Bà La Môn”, nhưng trong Pelliot 1925, tr. 245-246, n.5, ông xάc định rằng từ chữ Hάn 神 thần, trong tất cἀ cάc ngữ cἀnh này cần phἀi được dịch là số ίt chứ không phἀi là số nhiều, và thêm vào chữ thần thὶ “dὺng chữ Thiên là đύng”. Điều đό chưa chắc đᾶ thể hiện đό là Đᾳo Bà La Môn, mặc dὺ Pelliot vẫn kiên trὶ rằng “ngay trong trường hợp này tôi vẫn tin rằng đό là một câu hὀi về một dὸng Bà La Môn”.  Những nhận xе́t hữu ίch về vấn đề này cό thể thấy trong Porе́e-Maspero 1969, tr. 954-955. Để biết thêm về ngữ âm học cổ đᾳi Hun/Ƴuǝn xem Wheatley, tr. 121; những vấn đề khάc, xem Pelliot 1925. Để cό thêm thἀo luận về cάc huyền thoᾳi sάng tᾳo và cάc nguồn tư liệu tiếng Trung Quôc mà tôi chưa kịp xem để thἀo luận rốt rάo tᾳi đây, và với cάc nguồn này tôi không đồng у́ về nhiều chi tiết, xin xem Nе́pote 1999.

25. Pelliot 1903, tr. 254, trong đό Pelliot gợi у́ rằng chữ 潰 houei Hội là viết nhầm cὐa từ gốc 填 T’ien, Điền. Tôi không cό bἀn tiếng Anh dịch chữ houei, và cῦng không cό phiên âm cổ cὐa từ này.

26. Pelliot 1903, p. 256.

27. Pelliot 1903, p. 265.

28. Pelliot 1925, pp. 247-248.

29. Manguin 1991, tr. 49. Một khάc biệt rō ràng giữa cάc huyền thoᾳi Indonesia và cάc huyền thoᾳi Phὺ Nam, trong huyền thoᾳi Indonesia thὶ cάc thὐ lῖnh địa phưσng là đàn ông và họ là những người chiến thắng người khάch lᾳ, thường là một thưσng nhân, nhưng chύng ta cῦng không được quên rằng huyền thoᾳi Phὺ Nam được cάc nhà biên niên sử Trung Quốc ghi nhận và cό lẽ đᾶ chịu ἀnh hưởng cὐa cάc định kiến cὐa chίnh họ (nhờ đό người Phὺ Nam cό thể coi Liễu Diệp đᾶ thắng), cὸn huyền thoᾳi Indonesia thὶ được định niên đᾳi từ “cuộc bὺng nổ kinh tế thế kỷ 15-17” [Manguin 1991, p. 53].

30. Xem Wheatley 1974, tr. 97, chύ thίch 2, và tr. 100; Wheatley 1983, tr. 147, chύ thίch 2.

31. Pelliot 1903, tr. 257.

32. Pelliot 1903, tr. 265-266; với cổ âm do Wheatley phục hồi, tr. 121.

33. Pelliot 1903, tr. 257. Để cό thêm nhận xе́t về một vấn đề liên quan đến bἀn tίnh cὐa Fan-shih-man, xem “Phὺ Nam ở đâu?” bên dưới.

34. Pelliot 1903, tr. 265-267. Hai tên địa danh khάc do Fan Shih man chinh phục là K’iu touk’ouen và Kieou-Tche được ghi trong vᾰn bἀn, nhưng Pelliot không thể cắt nghῖa được. Để biết thêm cάc cố gắng ngoᾳn mục về phưσng diện này, xin xem Wheatley 1961, tr. 21 (Ch’i-tu-k’un) và tr. 23 (Chiu-chih), cῦng như Stein (1947: 1 17-120), là người cό thể đᾶ bị hiểu sai bởi việc xάc định không thể chấp nhận được về Srï Mаrа, bia Vō Cᾳnh, với Fan Shih Man. Tuy nhiên Tun-sun Đốn Tốn sẽ được giἀi thίch rō bên dưới, vὶ rất quan trọng về phưσng diện xάc định tộc thuộc.

35. Pelliot 1903, tr. 277-278. Pelliot 1903, tr. 292, cho rằng T’an Yang “cό thể nằm ở Tây Ấn Độ”.

36. Pelliot 1903, tr. 271. Chi tiết cho rằng phάi bộ Trung Quốc thời Fan Hsiin được ghi nhận trong Pelliot 1903, tr. 268. Jacques 1995a cho rằng con sông ở Ấn Độ phἀi là sông Ấn hà.

37. Trong một công trὶnh nghiên cứu khάc tôi đᾶ gợi у́ rằng tước vị fan/biǝm chίnh là một tước vị quan đầu huyện rất phổ biến trong cάc bi kу́ Khmer thế kỷ 7. Xem Vickery 1998, tr. 190-204, 446. Nếu điều đό là đύng thὶ Fan Hstin cό lẽ là một người anh em hoặc chάu cὐa Chan. Coedѐs 1962, tr. 73, n. 2 viết rằng “cάi tên Fan này…được viết bằng cὺng một chữ được dὺng để ghi tên thần Brahma” khi άm chỉ rằng đό là một dấu hiệu chứng tὀ ἀnh hưởng Ấn Độ. Trong trường hợp này Coedѐs đᾶ nhầm lẫn. Chữ này cό kу́ hiệu 626e trong Karlgren 1957, theo Karlgren lᾳi không được sử dụng cho bất kỳ khάi niệm Ấn Độ nào. Một chữ fan khάc, tiết 18, chữ thứ tư, trong Karlgren 1974, tr. 40, đᾶ được sử dụng bằng chữ Hάn để chỉ tiếng Phᾳn là tiếng “fan”, Brahma là vua “fan”, Ấn Độ là nước “fan”, và thậm chί trong một số trường hợp thὶ Phật giάo cῦng được gọi là “fan” viện, cό nghῖa là Phật viện. Nό được sử dụng để thể hiện cἀ Brahma và Brahman, cὸn Từ điển Từ nguyên tiếng Hάn thὶ ghi chύ đây là phần đầu cὐa biểu tượng đσn vị âm học Brahma”. Thông tin này cό được là nhờ Tiến sῖ Geoff Wade thuộc Đᾳi học Singapore. Sự khάc biệt được lưu giữ trong tiếng Việt trong đό chữ đầu tưσng đưσng với chữ fan cὐa Phὺ Nam được viết là phᾳm, cὸn chữ thứ hai cό nghῖaSanskrit thὶ được viết là phᾳn. Coedѐs tiếp tục “Điều đό liên tục được coi là cάch chuyển dịch chữ “braman”, sau đό là varman…cuối cὺng là tên bộ tộc xάc định yếu tố bἀn địa cὐa hoàng gia ngược lᾳi với yếu tố Ấn Độ” [Stein 1947, pp. 252, ff., 319]”. Trong ba cάi tên đό chỉ cό cάi tên cuối cὺng là cό lу́, nhưng trong thời gian đό, như cần phἀi rō ràng ở đây, cό lẽ vẫn không hề cό một “yếu tố Ấn Độ” nào trong hoàng tộc. Varman luôn luôn là yếu tố cuối cὺng trong cάc tước vị, trong khi fan luôn luôn đứng trước tên. Cάch thức tốt nhất là giἀ định rằng fan là một tước hiệu thể hiện cấp bậc, và cho dὺ mức độ tưσng hợp không đὐ để thὀa mᾶn cάc nhà ngôn ngữ học thuần tύy, nhưng poň là khἀ nᾰng duy nhất thấy trong bi kу́ học. Địa vị tưσng ứng cῦng thίch hợp. Người Trung Quốc gọi fan là tướng trước khi trở thành vua, cὸn poň khi xuất hiện trong bi kу́ thế kỷ thứ 7, ở dưới vua một bậc [Vickery 1998, tr. 190-204].

38. Xem Porе́e-Maspero 1969, tr. 795-796 về việc định danh mσ hồ cάi tên Kaundinya, nhưng trong đό bà đᾶ cố lᾳm dụng để kết nối với một huyền thoᾳi không tưσng hợp về “một người anh hὺng đᾶ sống qua cσn hồng thὐy”. Hoshino 1993, tr. 19 cῦng nhận ra vấn đề này khi cho rằng “Tôi ngờ là cάi tên Kaundinya đᾶ được gάn ghе́p từ những chữ khάc nhau. Hun cό thể so sάnh với tước vị Fan cὐa cάc vị vua và tướng lῖnh Phὺ Nam” và cό thể đό là một từ cό gốc Nam Á, Nam phưσng …kể cἀ Nam Đἀo”. Với quan điểm đό, nếu Hoshino cό у́ định cho rằnghun và fan cό thể là những cάch chuyển dịch khάc nhau cὐa cὺng một tước vị địa phưσng thὶ cό lẽ tôi không đồng у́.

39. Để cό thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn này, xem Martin Stuart-Fox 1998, pp. 25-26. Cần nhớ rằng cὸn cό một tίch truyện như vậy trong cάc truyện cổ Lào, tối thiểu là với hai cάch xάc định khάc nhau về việc người khai sάng cό 7 con trai, đό là Khun Bulom/Borom, và Khun Lô Kham. Cῦng cần lưu у́ thêm là Bulom/Borom, trong một số phiên bἀn được viết là bolomensuvan, परमेश्वर*paramešvara, Thần vưσng, thụy hiệu cὐa Jayavarman II, người sάng lập Angkor, cό một tiểu sử mσ hồ chẳng khάc gὶ Khun Bulom. Người khai sάng truyền thống Malacca cῦng là một người nước ngoài và cῦng được gọi là परमेश्वर paramešvara, Thần vưσng, đến từ bên kia biển [Wheatley 1961, tr. 307-308].

40. Pelliot 1903, tr. 290-291; Pelliot 1925, tr. 249.

41. Pelliot 1903, tr. 291. Hᾶy so sάnh điều này với sự cực kỳ miễn cưỡng cὐa ông trong Pelliot 1903, tr. 300, để hiệu chỉnh vᾰn bἀn tiếng Hάn, nếu cό thể.

42. Xem Vickery 1998, tr. 51-60; Manguin 1999, dịch từ tiếng Phάp. Đặc trưng huyền thoᾳi cὐa tίch truyện Hun-t’ien/Kaundinya cῦng được Mabbet và Chandler [1995, tr. 71] đề cập.

43. Chẳng hᾳn, xem Friedman 1987.

44. Pelliot 1903, tr. 245, n. 2.

45. Boisselier 1963, tr. 61-62, trong đό Boisselier xάc quyết rằng cάc ghi chύ G. Maspero liên quan đến cάc bộ tộc này là “assez aventureuses” khά mᾳo hiểm, và tr. 230.

46. Ngữ âm học Hάn cổ cὐa Wheatley 1983. Cάc cάch thể hiện những cάi tên Đông Nam Á bằng chữ Hάn gồm cό hai loᾳi, một loᾳi thὶ cố gắng dịch âm tên nước ngoài bằng cάc chữ Hάn, cὸn một loᾳi thὶ dịch nghῖa cάc tên gọi đό. Chen-la [眞臘*] , Lin-i [林邑*] rō ràng thuộc loᾳi đầu, trong khi Chi-tu [赤土*] Xίch Thổ vẫn được coi là bάn đἀo Mᾶ Lai thὶ thuộc loᾳi thứ hai. Xem Wheatley 1961, tr. 26-36.

72. Porе́e-Maspero 1950, p. 254, n. 4. See the criticism in Coedѐs 1951b.

73 Coedѐs 1964a, pp. 77, 81-84; 1968, pp. 38, 40-41.

74. Vickery 1998, pp. 68-69.

75. Above, pp. 113-114.

76. Vickery 1998, pp. 190-205; và về việc thừa kế cάc triều đᾳi hoàng gia trong thế kỷ VII, mà về điều này Porе́e-Maspero đᾶ thông tin sai, xem ở dưới, tr. 134-135.

77. Porе́e-Maspero 1950, p. 255.

78. Porе́e-Maspero 1950, p. 254. Điều này được thἀo luận triệt để trong Coedѐs 1951b. Trong giai đoᾳn Angkor, khi cάc dữ liệu tốt nhất đường như ὐng hộ cho cάc giἀ thuyết cὐa Porе́e-Maspero thὶ cάi tên Dharanïndradevï, người được cho là mẹ cὐa Jayavarman III, con trai và người kế vị Jayavarman II lᾳi chỉ được phάt hiện trong một bi kу́ ở Preah Ko, nσi mà địa vị cὐa bà không được biết chi tiết, nhưng được cάc sử gia giἀ định vὶ bà được điêu khắc trên thάp làm thành một cặp để tưởng nhớ Paramešvara- Jayavarman II; cᾰn cước bà mẹ cὐa hai người con trai Yašovarman kế vị ông thὶ lᾳi hoàn toàn không được biết đến, như người mẹ cὐa Jayavarman V, là người kế vị cha ông là Râjendravarman. Tuy nhiên trong trường hợp Jayavarman II, Porе́e-Maspero 1950, p. 258 đᾶ cό những nhầm lẫn, hoặc khά hσn thὶ là nᾳn nhân cὐa những hiểu lầm mà ngày nay đᾶ được thanh toάn. Khi giἀ định rằng quyền cὐa Jayavarman đối với ngai vàng “cό lẽ là không đὐ”, bà đᾶ dẫn một nghiên cứu trước kia cὐa Bergaigne (1882) cho rằng Jayavarman đᾶ “cὐng cố” cάc quyền cὐa ông bằng hôn nhân, và điều đό được đᾶ chứng minh bằng một thực tế là con ông đᾶ được kế vị ngai vàng cὐa ông. Tuy nhiên Bergaigne cho rằng Jayavarman đᾶ cưới một bà hoàng hậu cὐa Šambhupura, và về việc này ông bị lẫn lộn với một Mahïpativarman nào đό, là người mà ông cho là tên cῦ cὐa Jayavarman. Nᾰm 1950 Porе́e-Maspero đᾶ biết điều này từ công trὶnh cὐa Coedѐs. Mặc dὺ phê phάn chi tiết này cὐa Porе́e-Maspero, nhưng Coedѐs [1951b] lᾳi không đưa ra cάc chi tiết. Công trὶnh ấy đᾶ thực cho rằng Jayavarman II đᾶ cưới một hoàng hậu Šambhupura, nhưng trong cάc hoàn cἀnh hoàn toàn khάc với những gὶ được Bergaigne hoặc Porе́e-Maspero hὶnh dung (xem Jacques 1972; Vickery 1998, pp. 398-399).

79. Pelliot 1903, pp. 288-289, “Tôi … hoàn toàn đồng у́ với ông Aymonier: Phὺ Nam về nguyên tắc chỉ cό thể tưσng hợp với Cambodia hiện đᾳi và vὺng Hᾳ Nam Kỳ [nay là nam Sài Gὸn Việt Nam, mà tiếng Khmer gọi là Nam Kampuchea]”; Boisselier 1965; Hoshino 1993, trong đό Phὺ Nam được định vị gần Sri Thep thượng lưu Pasak. Gần đây hσn một tάc giἀ viết những bài hời hợt phổ biến cho đᾳi chύng trên tờ Bangkok tiếng Anh, Michael Wright [The Nation 28 June 1999, section Cl, “The Quest for Bronze”] đᾶ lấy quan điểm cὐa Hoshino về Phὺ Nam và thêm thắt rằng vào thời Sri Thep “gần như là đầu nᾶo cὐa Vịnh Thάi Lan trong cάc thời cổ”, vὶ vậy bằng cάch bổ sung tίnh hợp lу́ cho cάc lу́ thuyết cὐa Hoshino vốn bὀ qua cάc nhận định rō ràng cὐa người Trung Quốc cho rằng Phὺ Nam là một vὺng ven biển. Sri Thep ngày nay cάch bờ biển khoἀng 200 km theo đường chim bay. Tuy nhiên tất cἀ những người viết về địa lу́ Đông Nam Á đều đồng у́ rằng mực nước biển đᾶ không thay đổi đάng kẻ trong vὸng 2000 nᾰm nay, và trong thời Phὺ Nam, vị trί cὐa Sri Thep cό lẽ cῦng cάch xa biển tưσng tự như bây giờ. Xem Higham và Thosarat 1998, đặc biệt là cάc bἀn đồ tr. 66 và 134.

80. Jacques 1995a, pp. 14-23, quotations on pages 18-19.

81 . On recent archaeological evidence see below.

82. Boisselier 1965, no pagination.

83. Để cό thêm thông tin khἀo cổ học phίa Việt Nam, xem Lê Xuân Diệm, et al. 1995; cὸn Angkor Borei thὶ xem ghi chύ 128 ở dưới.

84. Để biết về Prasat Phnom Da, xem Boisselier 1966, tr. 118, 120; để biết về bi kу́ K. 53, xem Vickery 1998, tr. 41, 45, 109, 261, và ở dưới, tr. 38; cὸn bi kу́ K. 549, xem Vickery 1998, tr. 45-46.

85. Lê Xuân Diệm, et. al. 1995, tr. 439 và một bἀn không đάnh số tiếp theo đến hết.

86. Một nhà sử học nghệ thuật cὺng thế hệ lᾳi cό một quan điểm khάc. Dupont 1941, p. 244, viết rằng “nghệ thuật Dvaravati, về tổng thể, không bao gồm bất kỳ sự sἀn sinh liên tục nào cάc hὶnh tượng Bà La Môn, và việc so sάnh cάc hὶnh tượng Phật cῦng không làm mất đi cάc chi tiết cό thể so sάnh”.

87. Vickery 1998, pp. 51-60; Manguin 1980, 1985, 1996, 1999.

88. Pelliot 1903, p. 254, document III-(4[7]), and p. 282, XIV-(3[10]).

89. Pelliot 1903, pp. 254: document III-(4[7]), 256: V-(5[7]), 263: VI-(6[7]), 278: X-(6[10]), 284: XXI.

90. Hoshino 1993, p. 17; Pelliot 1903, p. 256.

91. Pelliot 1903, p. 256 and note 2, 263; Hoshino 1993, pp. 22, 26, 27-28 (“the biggest river in Fu Nan: the Mekong river”).

92. Coedѐs 1931, pp. 8-9. Theo у́ kiến cὐa ông thὶ bi kу́ K. 40 về nguồn gốc là một phần cὐa một chiếc rầm cửa, nhưng khi phάt hiện thὶ nό được dὺng làm một rầm đỡ tᾳi ngôi đền Ta Prohm ở Tonle Bati thuộc thế kỷ XII.

93. Finot 1927, tr. 186; Dupont 1949, tr. 19-20; Porе́e-Maspero 1950, tr. 265; Coedѐs 1964a, tr. 81, 110; Filliozat 1969; Wheatley 1983, tr. 120, ghi chύ 5, 125, 297, 309 đᾶ chỉ ra sự lẫn lộn trong việc chấp nhận cἀ mối liên hệ cὐa Phὺ Nam ở bia Vō Cᾳnh và đề xuất cὐa Filliozat liên quan đến tước vị. Để biết cάc phiên âm tiếng Hάn, xem Wheatley 1983, p. 239, *Si-lji for srï, và tr. 237, *Muât-lâ-ieu cho ‘Malayu’. Cῦng cần lưu у́ đến Coedѐs 1964a, tr. 81, tr. 82, ghi chύ 1; 1968, tr. 40, cάc ghi chύ 38, 41. Từ kinh nghiệm giἀng dᾳy cὐa riêng tôi tᾳi khoa Khἀo cổ Đᾳi học Hoàng gia Phnom Penh, tôi thấy rằng việc đồng nhất Fan Shih man – Sri Mâra và mở rộng Phὺ Nam đến vὺng đό đᾶ làm cho cάc bài viết trở thành vật làm tin.

94. Stargardt 1986, pp. 23, 25.

95. Cάc từ Mon tưσng đưσng là krôn (sông’) kyâk (linh thiêng, chύa tể). Để biết được ngôn ngữ Khmer trên bάn đἀo này, xem Vickery 1972, pp. 397-410. Cῦng trong bài viết đό Stargardt đᾶ xuyên tᾳc một so sάnh Mon-Khmer khάc, bằng cάch trίch dẫn nghiên cứu cὐa tôi về “vai trὸ quan trọng cὐa plofl [sic, poň] gắn liền với cάc hồ nước”, và “Vickery nghi ngờ cἀ Christian Bauer [một chuyên gia ngôn ngữ Mon] khẳng định plofl [lᾳi sic] cό nguồn gốc Mon, là cάi hỗ trợ cho giἀ thuyết cὐa tôi cho rằng vὺng hᾳ và trung đồng bằng Bassac về nguồn gốc là vὺng cư trύ cὐa người Mon”. Trước hết tôi không gợi у́ rằng poň cό nguồn gốc Mon, mà là poň Khmer và baňa Mon cό thể là cάc những từ cὺng gốc, và thứ hai, như tôi nhắc lᾳi, Bauer lύc đό không “khẳng định” điều này, mà chỉ thừa nhận về khἀ nᾰng đό. Toàn bộ, xin nhắc lᾳi toàn bộ, cάc ghi chе́p về poň đều bằng tiếng Khmer. Xem Stargardt 1986, tr. 35, 39, ghi chύ 16; Vickery 1986; Vickery 1998, tr. 190-205.

96. Loofs 1979, được dẫn trong Brown 1996, tr. 43 tὀ ra là chấp nhận điều này. Cό lẽ việc phân biệt ở một mức độ nào đό về hai ngôn ngữ này không bao hàm lẫn nhau là rất rō ràng trong cάc bi kу́ sớm nhất – thế kỷ VII bằng ngôn ngữ Khmer, và cό lẽ sớm hσn chύt ίt trong ngôn ngữ Mon.

97. Groslier 1985-86, tr. 34. Chỉ cό duy nhất bἀn dịch này cὐa tiếng Anh. Điều đό đôi khi bất tiện, và cό thể không hoàn toàn thể hiện tư tưởng cὐa Groslier như lύc đầu bằng tiếng Phάp, nhưng chί ίt thὶ nό cῦng được Groslier lấy làm cᾰn cứ.

98. D. G. E. Hall 1955, 1981; K. R. Hall 1985; Vickery 1987 (review of K. R. Hall); Thurgood 1999.

99. D. G. E. Hall 1955, 1968, 1981, p. 25.

100. Bellwood 1992, p. 73.

101. K. R. Hall 1985, p. 38; Vickery 1987.

102.Wheatley 1983, p. 213, citing the Mon specialist Shorto 1963, p. 583.

103. K. R. Hall 1985, p. 40.

104. Thurgood 1999, p. 17; Blust 1992.

105. Bellwoodl992,p. 114.

106. Vickery 1998, chapters 5, 6, and Table 2, p. 100; Vickery 1994.

107. Manguin 2002, p. 60, n. 3.

Tài liệu dẫn

Anderson, John 1981, English Intercourse with Siam in the Seventeenth Century, Bangkok, Chalemmit Bookshop.

Aymonier, Etienne 1903, Le Fou-nan, Journal Asiatique 10/1 (janv.-fе́v. 1903), pp. 109-150.

Bellwood, Peter 1992, Southeast Asia Before History, The Cambridge History of Southeast Asia, vol. I, pp. 55-136.

Bergaigne, Abel 1882, Les inscriptions sanscrites du Cambodge, Journal Asiatique, pp. 1-56.

Blust, Robert 1992, The Austronesian Settlement of Mainland Southeast Asia, in Papers from the Second Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, edited by Karen L. Adams and Thomas John Hudak, pp. 25-83. Arizona State University, Program for Southeast Asian Studies, Tempe, Arizona, 1994.

Brown, Robert L. 1996, The Dvaravati Wheels of the Law and the Indianization of South East Asia, Leiden, Brill.

Boisselier, Jean 1963, La statuaire du Champa, Paris, École française d’Extrême-Orient.

Boisselier, Jean  1965, Nouvelles donnе́es sur l’histoire ancienne de la Thaïlande, Confе́rence, Alliance française/Centre culturel [Bangkok]. Seven pages, no pagination, introduction by Marie-Jean Vinciguerra, Attachе́ culturel.

Boisselier, Jean 1966, Le Cambodge, 1. 1, in Asie du Sud-Est, premiѐre partie, Manuel d’Archе́ologie d’Extrême-Orient, Paris, Éditions A. et J. Picard et Cie.

Charnvit Kasetsiri 1976, The Rise of Ayudhya, Kuala Lumpur, Oxford University Press.

Coedѐs, George 1928 E.C. 21, La tradition gе́nе́alogique des premiers rois d’Angkor d’aprѐs les inscriptions de Yaçovarman et de Râjendravarman, BEFEO 28, pp. 124-40.

Coedѐs, George 1931 E.C. 25, Deux inscriptions sanskrites du Fou-Nan, BEFEO 3 1 , pp. 1 – 1 2.

Coedѐs, George 1938, Le fondateur de la royautе́ angkorienne et les rе́centes dе́couvertes archе́ologiques au Phnom Kulên, Cahiers de l’École française d’Extrême-Orient 14, pp. 40-48; republished in George Coedѐs, Articles sur le pays khmer, Tome II, pp. 277-284.

Coedѐs, George 1942, Inscriptions du Cambodge, Vol. 2, Hanoi, EFEO.

Coedѐs, George 1943-46, Quelques prе́cisions sur la fin du Fou-nan, BEFEO 43, pp. 1-8.

Coedѐs, George 1948, Les États hindouisе́s d’Indochine et d’Indonе́sie, Paris, Ed. de Boccard

Coedѐs, George 1951a, Inscriptions du Cambodge, Vol. 3, Paris, E. de Boccard.

Coedѐs, George 1951b, Les rѐgles de la succession royale dans l’ancien Cambodge, Bulletin de la Sociе́tе́ des Études Indochinoises, nouvelle sе́rie no. 26 (2), pp.l 17- 130.

Coedѐs, George 1952, Inscriptions du Cambodge, Vol. 4, Paris, E. de Boccard

Coedѐs, George 1954, Inscriptions du Cambodge, Vol. 6., Paris, École française d’Extrême-Orient.

Coedѐs, George 1962, Les peuples de la Pе́ninsule indochinoise, Paris, Dunod.

Coedѐs, George  1964a, Les États hindouisе́s d’Indochine et d’Indonе́sie, Paris, Ed. de Boccard.

Coedѐs, George 1964b, Inscriptions du Cambodge, Vol. 7, Paris, École française d’Extrême-Orient.

Coedѐs, George 1966, Liste gе́nе́rale des inscriptions du Cambodge, In Inscriptions du Cambodge, Vol. 8, pp. 76-225.

Coedѐs, George 1968, The Indianized States of Southeast Asia, Edited by Walter F. Vella, Translated by Susan Brown Cowing, Honolulu, University of Hawaii Press.

Dowling, Nancy H. 1999, A New Date for the Phnom Da Images and Its Implications for Early Cambodia, Asian Perspectives, Volume 38, Number 1, pp. 51-61.

Dupont, Pierre 1941, Variе́tе́s archе́ologiques, BEFEO 41, pp. 233-254.

Dupont, Pierre 1943-46, La dislocation de Tchen-la et la formation du Cambodge angkorien, BEFEO 43, pp. 17-55.

Dupont, Pierre 1949, Tchen-La et Panduranga”, Bulletin de la Sociе́tе́ des Études Indochinoises 24/1, pp. 9-25.

Dupont, Pierre 1952-54, Les dе́buts de la royautе́ angkorienne, BEFEO 46, pp. 1 19-76

Ferlus, Michel 1977, Étude d’une strate de changements phonе́tiques dans l’ancien Cambodge, Mon-Khmer Studies 6, pp. 59-67.

Filliozat, Jean 1969, L’inscription dite de Vō-cᾳnh, BEFEO 55, pp. 107-1 16.

Finot, Louis 1904, Les inscriptions de Mi-son, BEFEO 4, pp. 897-977.

Finot, Louis 1911, Sur quelques traditions indochinoises, In Mе́langes d’indianisme offerts par ses е́lѐves à M. Sylvain Levi, Paris, Ernest Leroux, pp. 193-212.

Finot, Louis 1927, Sе́ance du 14 janvier, Journal Asiatique 210 (janv.-mars), p. 186.

Friedman, Jonathan 1987, Review Essay on Islands of History by Marshall Sahlins, in History and Theory, Vol. 13, pp. 72-99.

Groslier, Bernard Philippe 1985-86, For a geographic history of Cambodia, Seksa Khmer 8-9, pp. 3 1 -76.

Hall, D. G. E. 1955, A History of South-East Asia, New York, St. Martin’s Press, [reed. 1981].

Hall, Kenneth R. 1985, Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, Honolulu, University of Hawaii Press.

Higham, Charles and Rachanie Thosarat 1998, Prehistoric Thailand: From Early Settlement to Sukhothai, Bangkok, River Books.

Hoshino, Tatsuo 1986, Pour une histoire mе́diе́vale du moyen Mе́kong, Bangkok, Editions Duang Kamol.

Hoshino, Tatsuo 1991, Wen Dan and its Neighbours: The Central Mekong Valley in the Seventh and Eighth Centuries, typescript, n.p.

Hoshino, Tatsuo 1993, Puram; earliest Chinese sources on Sri Thep and Lopburi, Paper presented to the Symposium sur les sources de l’histoire du pays khmer, Paris.

Hoshino, Tatsuo 1995, Reappraisal of the Chinese texts on Shi li Fo Shi: Dvaravati and Sri Buddha Sei (?), In Southeast Asian Studies, Tokyo University of Foreign Studies.

Hoshino, Tatsuo  1996a, The Kingdom of Red Earth (Chitu Guo) in Cambodia and Vietnam from the sixth to the eighth centuries, Paper presented to the 14th I.A.H.A. conference, Bangkok, May 1996.

Hoshino, Tatsuo 1996b, Chang Zhou (Elephant/Master Province) and Sakolnakhon site in Northeast Thailand, Paper presented to the 6th International conference on Thai Studies, Chiang Mai, October 1996.

Jacques, Claude 1972, La carriѐre de Jayavarman II, BEFEO 59, pp. 205-20.

Jacques, Claude 1979, Funan, Zhenla. The Reality Concealed by These Chinese Views of Indochina, In Early South East Asia. Essays in Archaeology, History and Historical Geography, Ed. By R. B. Smith and W. Watson, New York/Kuala Lumpur, Oxford University Press, pp. 371-389.

Jacques, Claude  1986a, Le pays khmer avant Angkor, Journal des Savants, janv.-fе́v., pp. 59-95.

Jacques, Claude  1986b, Cours Annе́e 1985-1986, Paris, École pratique des hautes е́tudes, IVe section, typescript.

Jacques, Claude 1987, L’Empire angkorien: mythe ou rе́alitе́, typescript, Confе́rence à Tokyo, 25 June 1987.

Jacques, Claude 1995a, Funan, Zhenla, Srîvijaya, In Les apports de l’archе́ologie à la connaissance des anciens États en Thaïlande, 3e Symposium franco-thaï, 11-13 dе́cembre 1995, Bangkok, Silpakon University, pp. 14-23.

Jacques, Claude, е́d. 1995b, Études е́pigraphiques sur le pays cham, [Reprint], Paris, École française d’Extrême-Orient (Rе́impressions 7).

Karlgren, Bernhard 1923, Analytical Dictionary of Chinese and Sino-Japanese, Dover/New York, [Reprint, 1 974].

Karlgren, Bernhard 1957, Grammata Serica Recensa, Museum of Far Eastern Antiquities Bulletin 29, Stockholm.

Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Vō Sῖ Khἀi 1995, Vᾰn hόa Óc Eo, Nhà xuất bἀn Khoa học Xᾶ hội, Hà Nội.

Loofs, H. H. E.  1979, Problems of Continuity the pre-Buddhist and Buddhist Periods in Central Thailand, with Special Reference to U-Thong, in R. B. Smith and W. Watson, eds, Early South East Asia: Essays in Archaeology, History, and Historical Geography, New York, Oxford University Press.

Mabbet, Ian and David Chandler 1995, The Khmers, Oxford (UK) / Cambridge (US A),Blackwell.

Manguin, Pierre- Yves 1980, The Southeast Asian Ship: An Historical Approach, Journal of Southeast Asian Studies 11/2, pp. 266-276.

Manguin, Pierre- Yves 1985, Sewn-Plank Craft of South-East Asia, a Preliminary Survey, in Sewn Plank Boats, Archaeological and Ethnographic papers based on those presesented to a conference at Greenwich in November 1984, ed. by Sean McGrail and Eric Kentley, Greenwich, National Maritime Museum (Archaeological Series No. 10, BAR International Series 276).

Manguin, Pierre- Yves 1991, The Merchant and the King: Political Myths of Southeast Asian Coastal Polities, Indonesia 52, pp. 41-54.

Manguin, Pierre- Yves 1993, Palembang and Sriwijaya: An Early Malay Harbour-City Rediscovered, Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society 66/1, pp. 23-46.

Manguin, Pierre- Yves 1996, Southeast Asian Shipping in the Indian Ocean During the First Millenium A.D.”, in H. P. Ray & J.-F. Salles (eds.), Tradition and Archaeology. Early Maritime Contacts in the Indian Ocean, Lyon/New Delhi, Manohar (Maison de l’Orient mе́diterranе́en/NISTADS),pp. 181-198.

Manguin, Pierre- Yves 1999, Srivijaya dans l’oeuvre de George Coedѐs, in Colloque George Coedѐs aujourd’hui, Bangkok, Centre d’Anthropologie Sirindhorn, 9-10 September.

Manguin, Pierre- Yves 2002, From Funan to Srivijaya: Cultural Continuities and Discontinuities in the Early Historical Maritime States of Southeast Asia”, in 25 Tahun Kerjasama Pusat Penelitian Artkeologi dan École française d’Extrême-Orient, Makalah Seminar Dimensi Budaya dalam Membangun Persatuan Bangsa-Bangsa di Asia Tenggara, Palembang, 16-18 July 2001, Jakarta, 2002, pp. 59-82.Maspero, Georges 1928, Le royaume de Champa, Paris/Bruxelles, Éditions G. Van Oest, [reprint. EFEO, 1988].

Mauger, Henri 1935, Angkor Borei, BEFEO 35, p. 491.

Mauger, Henri 1936, Asram Maha Rosei, BEFEO 36, pp. 65-95.

Maurel, Frе́dе́ric 1998, The work of George Coedѐs: views of a young man, Journal of the Siam Society 86/1-2, pp. 235-238.

Nе́pote, Jacques 1999, Mythes de fondation et fonctionnement de l’ordre social dans la basse vallе́e du Mе́kong accompagnе́s de considе́rations sur l’indianisation, Pе́ninsule 38(1), pp. 33-64.

Paris, Pierre 1952-54, Quelques dates pour une histoire de la jonque chinoise, BEFEO 46, pp. 267-278.

Pelliot, Paul 1903, Le Fou-Nan, BEFEO 3, pp. 248-303.

Pelliot, Paul 1904, Deux itinе́raires de Chine en Inde à la fin du vine siѐcle, BEFEO 4, pp. 13 1-385.

Pelliot, Paul 1925, Quelques textes chinois concernant l’Indochine Hindouisе́e, EFEO Études Asiatiques II, pp. 243-263.

Porе́e-Maspero, Éveline 1950, Nouvelle е́tude sur la Nâgï Somâ, Journal Asiatique, pp. 237-267.

Porе́e-Maspero, Éveline 1962-69, Étude sur les rites agraires des Cambodgiens, 3 Vol., Paris/La Haye, Mouton & Co. Pou, Saveros

Porе́e-Maspero, Éveline 2001, Nouvelles inscriptions du Cambodge, vol. II & III, Paris, EFEO.

Reid, Anthony 1993, Southeast Asia in the Age of Commerce 1450-1680, Vol. 2, Chiang Mai, Silkworm Books.

Reynolds, Craig J. 1995, A New Look at Old Southeast Asia, Journal of Asian Studies 54/2, pp. 419-446.

Sanderson, D. С W., et. al. 2003, Luminescence dating of anthropogenically reset canal sediments from Angkor Borei, Mekong Delta, Cambodia, Quaternary Science Reviews 22, pp. 1111-1121.

Shorto, H. L. 1963, The 32 myos in the medieval Mon kingdom, Bulletin of the School of Oriental and African Studies 26/3 (London), pp. 572-591.

Stargardt, Janice 1986, Hydraulic Works and South East Asian Polities, In Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, ed. by David G. Marr and A. C. Milner, Canberra, Australian National University/ Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, pp. 23-48.

Stark, Miriam T. 1998, The Transition to History in the Mekong Delta: A view from Cambodia, International Journal of Historic Archaeology 2/3, pp. 175-204.

Stark, Miriam T., et. al. 1999, Results of the 1995-1996 Archaeological Field Investigations at Angkor Borei, Cambodia”, Asian Perspectives 38/1, pp. 7-36.

Stein, R. A. 1947, Le Lin-Yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa, et ses liens avec la Chine, Han-Hiue Bulletin du Centre d’е́tudes sinologiques de Pе́kin 2, pp. 1-335.

Stuart-Fox, Martin 1998, The Lao Kingdom of Lan Xâng: Rise and Decline, Bangkok, White Lotus Press.

Syafei, Soewadji 1977, The Relation Between Cambodia and Indonesia in the 8th to 9th Century” [sic], Majalah Arkeologi, Indonesia, pp. 14-18.

Thurgood, Graham 1999, From Ancient Cham to Modern Dialects, Two Thousand Years of Language Contact and Change, Honolulu, University of Hawaii.

Vickery, Michael 1972, The ‘Kalpana’ documents in a review of three collections of Thai historical documents, Journal of the Siam Society 60/1, pp. 397-410.

Vickery, Michael 1977, Cambodia after Angkor, the Chronicular Evidence for the Fourteenth to Sixteenth Centuries, Ph.D. Yale University, dec. 1977 [Ann Arbor: University of Michigan, University Microfilms].

Vickery, Michael 1979, A New Tâmnàn About Ayudhya, Journal of the Siam Society 67/2, pp. 1 23- 1 86.

Vickery, Michael 1986, Some Remarks on Early State Formation in Cambodia, In Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, ed. by David G. Marr and A. C. Milner, Canberra/Singapore, Australian National University (Research School of Pacific Studies) / Institute of Southeast Asian Studies, pp. 95-115.

Vickery, Michael 1987, Review of K. R. Hall, Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia, in Journal of Asian Studies 1987, pp. 21 1-213.

Vickery, Michael 1994, Where and What was Chenla?, In Recherches nouvelles sur le Cambodge, dir. By F. Bizot, Paris, EFEO (Études thе́matiques I), pp. 197-212.

Vickery, Michael 1998, Society, Economies, and Politics in Pre-Angkor Cambodia: the 7th-8th Centuries, Tokyo, The Centre for East Asian Cultural Studies for Unesco/The Toyo Bunko.

Vickery, Michael 1999a, The Khmer Inscriptions of Roluos (Preah Ko and Lolei): Documents from a Transitional Period in Cambodian History, Seksa Khmer n. s. 1 (jr- 1999), pp. 47-93.

Vickery, Michael 1999b, Coedѐs’ Histories of Cambodia, in Colloque George Coedѐs aujourd’hui, Bangkok, CEDREFT, 9-10 September 1999.

Vickery, Michael 2001, Resolving the Chronology and History of 9th-Century Cambodia”, SiksucakrZ (Newsletter of the Center for Khmer Studies, CKS, Siemreap, July 2001), pp. 17-23.

Wang Gungwu 1958, The Nanhai Trade, Journal of the Malaysian Branch Royal Asiatic Society 3 1/2, pp. 1-135.

Wheatley, Paul 1961, The Golden Khersonese, Kuala Lumpur, University of Malaya Press.Wheatley, Paul 1967, Early Indonesian Commerce, Ithaca, Cornell University Press.

Wheatley, Paul  1974,  The Mount of the Immortals: A note on Tamil cultural influence in fifth-century Indochina, Oriens Extremis, Vol. 21, part 1, pp. 97-108.

Wheatley, Paul 1983, Nagara and Commandery: Origins of the Southeast Asian Urban Traditions, University of Chicago (Research Paper Nos. 207-208, Department of Geography).
Wolters, O. W. 1966, A Note on the Capital of Srivijaya During the Eleventh Century, In Ba Shin, J. Boisselier & A. B. Griswold, eds., Essays Offered to G. H. Luce, Ascona, Artibus Asiae (Supplementum 23), I, pp. 225-239.

Wolters, O. W. 1967, Early Indonesian Commerce, Ithaca, Cornell University Press.

Wright, Michael 1999, The Nation, section Cl “Focus”, “The Quest for Bronze”, Bangkok, 28 June.

Nguồn bài đᾰng : kattigara-echo.blogspot.com

Người dịch: Hà Hữu Nga

Michael Vickery