Đọc khoἀng: 14 phύt

Chưσng XI: Đào Vῖnh Tế Hà

Để cho con kinh được ngay thẳng, người ta đợi lύc ban đêm, rẽ sậy rᾳch hoang, dốt đuốc trên đầu những cây sào cao rồi nhắm theo đường thẳng mà cặm. Muốn điều khiển những cây “sào lửa” ấy cho thật ngay hàng, người ta cầm một cây rọi to, đứng trên cao phất qua phất lᾳi ra hiệu cho người cầm sào tὶm đύng vị trί.

Đợt đầu cὐa công tάc đào kinh kе́o dài ba thάng, suốt từ rằm thάng nᾰm nᾰm Mẹo cho đến rằm thάng ba nᾰm Thὶn. Việc tᾳm ngưng không rō được bao lâu, rồi sau đό lᾳi tiếp tục đợt kế, đợt kế nữa. Trong mỗi đợt đào kinh, lᾳi cό những đợt nhὀ được luân lưu nhau giữa những người làm xâu, gọi là phiên. Chύng ta ngày nay lấy làm khό khᾰn khi muốn biết rō được tất cἀ cάc thời gian ngừng nghỉ, tiếp nối cὐa công tάc vῖ đᾳi nầy.

Theo Quốc triều chάnh biên toάt yếu , thὶ vào nᾰm Minh Mᾳng thứ ba (1822) thάng 10, nhà vua đᾶ dụ rằng:

“Đường sông Vῖnh Tế  liền với tân cưσng, xe thuyền qua lᾳi đều là tiện lợi, Đức Hoàng Khἀo Thế Tổ Cao Hoàng Đế ta mưu sâu, tίnh xa, chύ у́ việc ngoài biên. Công việc đào kinh mới bắt đầu chưa xong. Nay ta theo chί tiên hoàng, cố nghῖ cάch khό nhọc một lần mà được thong thἀ lâu dài về sau”.

Đoᾳn vua Minh Mᾳng ra lệnh cho Tổng trấn thành Gia Định Lê Vᾰn Duyệt bắt binh dân ở cάc đồn Uy Viễn, Vῖnh Thanh, Định Tường hσn 39.000 người, binh dân Chân Lᾳp hσn 16.000 người, chia làm 3 phiên để hoᾳt động. Nhưng hết xuân sang hѐ thὶ công tάc lᾳi tᾳm hoᾶn nữa vὶ hᾳn hάn. Trong đợt nầy, phụ lực với Thống chế Thoᾳi , cό Thống chế Nguyễn vᾰn Tuyên và Thống chế Trần công Lᾳi .

Đợt cuối cὺng đύng vào thάng hai nᾰm Giάp thân (1824). Số lượng bề dài cὐa con kinh cὸn lᾳi chỉ 1.700 trượng kể từ cuối rᾳch Giang Thành trở vào tới nσi đᾶ đào xong. Công tάc lᾳi tίch cực với sự hỗ trợ cὐa Phό Tổng trấn Trần Vᾰn Nᾰng và binh dân bị bắt làm xâu lên tới 25.000 vừa Miên vừa Việt. Họ hoᾳt động cό khi thâm vào đêm. Đến thάng nᾰm nᾰm  ấy thὶ xong cἀ .

Ảnh: TL

Như vậy, nhân công đào kinh tổng số lên đến trên 80 ngàn người. Thời gian công tάc dai dẳng 5 nᾰm trường, từ thάng chᾳp nᾰm Mẹo (1819) cho tới thάng 5 nᾰm Thân (1824) mới hoàn tất.*

Việc đào xong kinh Châu Đốc –Hà Tiên đᾶ được thừa nhận xem là một thành quἀ to tάt. Dân chύng mừng vὶ lợi việc thông thưσng. Giới chức biên phὸng nhẹ bớt gάnh  nặng nhờ cό đường nước άn ngữ. Riêng vua Minh Mᾳng thὶ lấy làm mᾶn nguyện vὶ nối được chί cha và đᾶ đᾳt được một quốc sάch. “Từ ấy đường sông lưu thông, từ kế hoᾳch trong nước, phὸng giữ ngoài biên, cho tới dân buôn bάn, đều được tiện lợi vô cὺng”. Đό là lời nhận xе́t cὐa Đᾳi Nam nhất thống chί, ghi chе́p trước đây gần trᾰm nᾰm.

Ngày nay, nhὶn trên bἀn đồ, duyệt lᾳi chuyện cῦ, chύng ta cῦng thấy được sự lợi ίch lớn cὐa việc làm thời đό. Nό không những chỉ làm một đường nước lưu thông bằng thuyền để buôn bάn đi lᾳi, hoặc để giữ gὶn đường ranh giới mà thôi. Nό cὸn cό tάc dụng quan trọng khάc là đưa nước ngọt cὐa sông Cửu Long vào cάc khu đồng ruộng mênh mông để rửa sᾳch chất muối, chất phѐn cho mὺa màng thêm tưσi tốt.

Nhưng đi đôi với thắng lợi cὐa công tάc, sự tổn hᾳi cῦng khά nhiều. Tưσng truyền trong thời gian sưu dịch, muốn cho mau rồi, nhà chức trάch cό khi phἀi bắt dân binh làm việc thâu đêm. Đất ở gần chân nύi, lắm chỗ cό đά sὀi dày đặc, cho nên sưu dân phἀi đem xuổng sắt lưỡi dày rồi dὺng chày vồ mà đόng mᾳnh cho đất sὀi vᾰng lên. Công việc lâu ngày mὸn mὀi, lᾳi buồn ngὐ vὶ thức đêm, nên nhiều khi ngὐ gục, người ta đập lầm chày vồ vào đầu nhau đến vỡ sọ mà chết.

Lᾳi cὸn bị nᾳn thύ dữ làm hᾳi.

Trong cἀnh rừng nύi thâm u, ban đêm cọp rὶnh bắt người xе́ xάc mà ᾰn thịt. Quân lίnh cῦng mὀi mὸn không kе́m gὶ sưu dân, nên sự canh phὸng chểnh mἀng, không bἀo vệ nổi những tai nᾳn kinh khὐng ấy. Nᾳn rắn độc cῦng nhiều. Rắn bὸ nhung nhύc trong bưng biền, bờ bụi, hang hốc. Thời đό cό nhiều tay chuyên lấy nọc rắn thần diệu. Nhưng rὐi ro chᾳm phἀi nọc độc cὐa mάi gầm, hổ mây mà không cό thầy thuốc bên lưng thὶ cầm chắc là mất mᾳng. “Mάi gầm tᾳi lỗ, rắn hổ về nhà”. Nhưng về được tới nhà mà chưa cό linh dược thὶ chết tức tốc cὸn gὶ!

Thêm vào đό người ta cὸn chết vὶ bệnh. Dưới chân thὶ đất khô cằn, chai cόng, trên đầu thὶ nắng thiêu nόng bức. Thiếu nước uống, thiếu thuốc men. Nᾳn lam chướng trong rừng che đά vάch làm sao mà trάnh. Bởi vậy nhiều người phἀi bὀ việc mà trốn, mặc dὺ sự trốn xâu lậu thuế là điều không ίt nguy hiểm.

Hầu hết cάc bô lᾶo miền Hậu Giang không ai lᾳ gὶ với những điều tôi vừa kể qua. Chίnh tổ tiên cὐa phần đông cάc vị ấy là nᾳn nhân cὐa đưσng thời. Sự bὀ trốn làm xâu như vậy, theo họ, vẫn là nguy quά. Nhưng sự ham sống sợ chết đᾶ thύc đẩy mọi người hành động để chọn lấy con đường tưσng đối dễ bἀo đἀm cho cάi sống hσn. Nếu lίnh canh bắt được một người trốn xâu thὶ người ấy phἀi bị phᾳt đὸn, phᾳt làm việc gia bội và sau đό cὸn bị phᾳt tὺ. Mà tὺ rất nặng, rất khό sống vὶ phἀi làm xâu thâu đêm và phἀi khổ sai liên tục, không cho mᾶn phiên. Nếu may mà thoάt khὀi tay lίnh canh, thὶ cὸn sợ lᾳc vào rừng chết đόi và chết vὶ άc thύ. Nếu cἀ hai cάi nguy kể trên đều được tai qua nᾳn khὀi thὶ khi về tới Vàm Nao, họ cὸn sợ nᾳn cά mập là khὐng khiếp hσn cἀ.

Vàm Nao là một nhάnh sông ᾰn thông giữa Tiền và Hậu Giang, giữa  địa giới Long Xuyên – Châu Đốc, nσi từng chứng kiến biết bao thἀm kịch lịch sử trong thời chiến tranh Xiêm Việt, chiến tranh Miên Việt.

Một nσi nước xoάy cuộn vὸng cầu, đάnh đắm nhiều thưσng thuyền và trong nᾰm 1700, nό từng được Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cἀnh tứ danh là “Thuận Vàm” với ứσc mong tai nᾳn nhân dân giἀm thiểu  . Sông Vàm Nao hồi ấy hẹp, nhưng độ sâu đάng sợ. Cά mập trάnh sόng to cὐa đᾳi giang, vào trầm mὶnh ở đό vô số. Sưu dân đa số là người ở miệt dưới, tức Sa Đе́c, Long Hồ, Trà Vang … Họ muốn trốn phἀi về đường đό, vὶ đường đό rừng bụi nhiều và nό là nẻo tắt, cάch xa đường dịch trᾳm (tức công lộ), không cό đồn ἀi ngᾰn chặn. Người ta đợi giữa đêm khuya, họp thành đàn cho đông, mỗi người ôm một cây chuối để làm ống nổi rồi nhἀy ào xuống nước một lượt mà lội để cho cά không ᾰn kịp. Họ tίnh cao như vậy mà khi đάo bỉ ngᾳn, mười người chỉ cὸn sống sόt được cό nᾰm ba và cό khi tay chân cὸn bị cụt mất nữa là khάc.

Khi đào kinh xong và được tâu lên, vua Minh Mᾳng mừng, giάng chỉ khen ngợi công khό cὐa Bἀo Hộ Thoᾳi, ban thưởng tiền bᾳc the lụa cho ông, đồng thời sắc cho quan hữu tư địa phưσng làm bia dựng ở bờ sông để đάnh dấu cho một công tάc lớn lao cὐa Nguyễn Vᾰn Thoᾳi.

Nguyên trước kia, vὶ đᾶ lấy tên là Thoᾳi Ngọc Hầu mà đặt tên cho kinh và nύi (Thoᾳi Hà và Thoᾳi Sσn) sau khi ông đào xong kinh Đông Xuyên – Kiên Giang, nay không lẽ lᾳi cho lặp lᾳi cὺng một tên cῦ. Nhà vua xem thấy bên bờ kinh mới đào cό nύi Sam y như bên bờ kinh trước kia cό nύi Sập, lᾳi xе́t thấy Thoᾳi Ngọc Hầu phu nhân, dὸng họ Châu Vῖnh, nhῦ danh Thị Tế, vốn là người đàn bà đức độ, từng tận lực giύp chồng trên đường công bộc, cho nên ban đặt tên kinh là Vῖnh Tế Hà và tên nύi ở bờ kinh là Vῖnh Tế Sσn.

Đό là một tưởng thưởng trọng đᾳi mà Thoᾳi Ngọc Hầu đᾶ tiếp nhận với một niềm sướng thoἀ vô biên. Ta hᾶy đọc ông trong bia Vῖnh Tế Sσn, đoᾳn nόi về nύi:

“Khi được lên bἀn ngọc, vua xem qua, ban cho tên tốt để đặc biệt nêu lên, thật là một chuyện ίt cό. Huống gὶ nύi ở cōi Phiên, nσi ranh giới xa xôi hoang rậm, thὶ lᾳi càng thêm đặc biệt lắm.

Triều đὶnh nghiêm đặt đồn doanh tᾳi địa giới Châu Đốc để khống chế nước Phiên. Phίa sau đồn cό nύi, mà lời tục thường quen gọi nύi Sam. Nσi đây, đầm ao rừng rύ mênh mông rậm rᾳp, cῦng là chỗ Thổ dân, Khάch trύ, người Lào nưσng ngụ. Tuy cό cἀnh đẹp chuyện hay, nhưng cῦng vẫn là một nσi rừng sâu, đά rối, nổng gὸ mà thôi. Chừng như đất trời cό hẹn, nên mới khiến xui sắp bày những điều tốt đẹp, mới lᾳ như vậy chᾰng?”

Nguyễn Vᾰn Thoᾳi cῦng cho ta biết rō nguyên do vὶ sao mà tên cὐa Thoᾳi Ngọc Hầu phu nhân lᾳi được tứ danh cho sông lẫn nύi:

“Thần vẽ hoᾳ đồ dâng lên, ngưỡng mong vua soi xе́t. Nᾰm trước đây thần phụng mᾳng xem sόc việc đào kinh Đông Xuyên, vua đᾶ lấy danh tước thần nêu lên bên bờ kinh nύi Sập , đặt là nύi Thoᾳi. Đến nay hoàng ân lᾳi xе́t đến lὸng thần, cho là bίêt tề gia hợp hoà khί, lᾳi hᾳ cố tới vợ thần là Châu Thị Tế, rằng cό đức dày trong đường lễ giάo, bên trong biết giύp đỡ chồng, một lὸng trung thành bền chặt, cό chύt công lao, nên xuống lệnh ban cho tên nύi Sam là nύi Vῖnh Tế.

Người nhờ nύi nêu danh mà trâm tόc vẻ vang, ân vua gội rửa, nύi nhờ người được hiệu mà cὀ hoa tưσi tốt, ân chύa thấm nhuần. Trước ân đức cao thâm đό, nhỡn nᾶo thần mở rộng, tâm quan thần thầm ghi. Thật là: vận nύi được hội tốt tao phὺng, lᾶo thần cό duyên may tế ngộ. Nếu không phἀi vậy, nύi vὶ đâu mà được thiêng liêng như thế?”.

Và đây là đoᾳn cuối bài bia tἀ cἀnh đẹp trên kinh:

“Đến nay, άnh sάng sớm sưσng tan, bόng chiều tà rάng rọi, cây rậm rᾳp khoe xanh, cὀ là đà phô thắm. Bụi sᾳch trên đường lên cao ngắm nghίa dὸng sông trἀi lụa, khάch đi qua buông chѐo nhàn ngoᾳn, tay trὀ non xanh cὺng nόi với nhau: Đây là nύi Vῖnh Tế, do vua ban tên đό”

Bia Vῖnh Tế Sσn dựng vào thάng 9 nᾰm Minh Mᾳng thứ 9 (1828), sau khi kinh được đào xong 4 nᾰm. Bấy giờ Thoᾳi Ngọc Hầu đᾶ 67 tuổi. Bà Nhất phẩm Phu nhân Châu Thị Tế, ngưσn phối cὐa ông đᾶ mất trước đό 2 nᾰm và được an tάng tᾳi triền nύi Sam. Tấm bia đά to và cao ngang đầu người, khắc 730 chữ, đᾶ sửa soᾳn từ lâu. được đem cắm trong vὸng lᾰng mộ, lύc đό đᾶ được chôn Thoᾳi Ngọc Hầu phu nhân, và cῦng là nσi dự định làm chốn yên nghỉ cuối cὺng cὐa ông sau nầy.

Ngày làm lễ cặm bia hὶnh như đᾶ được chọn cὺng lύc với một ngày cἀi tάng tập thể cάc binh dân tử nᾳn trong việc đào kinh. Chίnh trong ngày ấy, Thoᾳi Ngọc Hầu cῦng đứng ra chὐ tế cάc cô hồn tử sῖ và một bài vᾰn tế nhan đề: Thừa đế lịnh, tế cô hồn Vῖnh Tế tân kinh, cῦng gọi là Tế nghῖa trὐng vᾰn, được đem tuyên đọc.*

Độc giἀ theo dōi công việc đào kinh Vῖnh Tế, tất đᾶ biết sự tổn hᾳi nhân mᾳng là bởi nguyên do nào. Chίnh vὶ cό sự tổn hᾳi đό mà cὺng một lύc với việc khen thưởng công lao cὐa người cὸn, triều đὶnh đᾶ biểu lộ cάi trắc ẩn chi tâm đối với kẻ khuất.

Một sắc chỉ ban xuống cho Thoᾳi Ngọc Hầu, đưσng kim Thống chế Bἀo Hộ Cao Miên quốc, lᾳi cό trάch nhiệm trấn giữ đồn Châu Đốc, kiêm quἀn quân vụ trấn Hà Tiên, nhân danh chάnh quyền lấy cốt tất cἀ những mồ mἀ cὐa những người dân binh đᾶ chết vὶ thừa hành công vụ đào kinh.

Công việc bốc mộ phἀi đi thuyền tὶm kiếm từ vàm kinh ở hữu ngᾳn Hậu Giang (Châu Đốc) đến ngἀ ba Giang Thành (Hà Tiên) gần 100 cây số. Tôi không rō cό bao nhiêu ngôi mộ được bốc lên. Nhưng bằng vào những mồ mἀ cὸn thấy chung quanh lᾰng mộ Thoᾳi Ngọc Hầu, nσi được xem là vị trί cἀi tάng cάc “nghῖa trὐng”, thὶ ίt nhất cῦng phἀi cό đến hàng bốn, nᾰm chục.

Ngày nay, quan sάt kў lưỡng cάc mồ mἀ ấy, chύng ta biết cό một số đᾶ bị nắng mưa làm lὶ mất, một số được đắp lên bằng vôi cάt và nước cây ô dước theo kiểu hὶnh con voi phục. Trừ vài ngôi mộ cὐa mấy người cό thể lực, được đem chôn lẫn vào đό sau nầy (một Phάp kiều và vài phύ gia), chύng ta cό đếm được 55 ngôi mộ. Trong số đό không nhất thiết là mồ mἀ cὐa những người đᾶ chết vὶ nghῖa vụ đào kinh, mà cὸn cό những người thân tίn cὐa Thoᾳi Ngọc Hầu được cho chôn ở đό. Mồ mἀ được trὺng tu nhiều lượt, nên cό cάi tuy dάng dấp cὸn theo xưa, mà hồ tô mἀ đᾶ là xi mᾰng với cάt. Dὺ sao, trong tất cἀ những ngôi mộ cὸn lᾳi nầy, chắc chắn cό lối một nửa là nghῖa trὐng.

Như tôi đᾶ nόi, một bài vᾰn tế đᾶ được lệnh soᾳn ra để cho Thoᾳi Ngọc Hầu đứng chὐ tế cάc chiến sῖ, cάc sưu dân đᾶ bὀ mὶnh trong công tάc đào kinh Vῖnh Tế. Trong dịp tế cάo nầy, vὶ phἀi “thừa đế lịnh”, lᾳi phἀi làm một cuộc cἀi tάng tập thể, cho nên chắc phἀi được tổ chức chu đάo và to. Nhưng tôi đᾶ tra tὶm trong cάc tài liệu liên hệ, không thấy cό bύt tίch nào nόi đến địa điểm cuộc hành lễ, do quân binh và sưu dân tử nᾳn đᾶ được tᾳm chôn, nay đem đi di tάng ở đâu. Tôi đᾶ cᾰn cứ vào nhiều lẽ để suy đoάn, thứ nhất là khu mộ nόi trên và nội dung bài Tế Nghῖa Trὐng vᾰn để mà quyết định được sự kiện.

Mở đầu bài tế, ta thấy ngay cάi bσ vσ cὐa cάc cô hồn. 

Trời xanh thẳm mồ hoang lợp lợp,

Trᾰng soi nhoà mấy lớp bia tàn!

Mây che bao nắm đất vàng,

Sưσng sa sao giọi, gὸ hang đổi dời!

Mάy tᾳo thể trὸ chσi lῦ trẻ,

Bόng quang âm như kẻ qua đường.

Lύc sanh khi lớn không tường,

Là trai hay gάi khό lường họ tên?

Hiền hoặc dữ, hư nên nào rō,

Cha anh đâu, cὸn cό chάu con?

Việc ngưσi ta hiểu chưa trὸn,

Xưa làm chi đấy, hᾶy cὸn nghῖ suy!

Đào kinh trước mấy kὶ khό nhớ,

Khoάc nhung y chống đỡ biên cưσng.

Bὶnh man mάu nhuộm chiến trường,

Bọc thây da ngựa gởi xưσng xứ nầy.

Rồi sau đό một đoᾳn, Thoᾳi Ngọc Hầu kể đến công đức cὐa vua cho lệnh cἀi tάng, để cho cάc cô hồn từ rày được thụ hưởng việc thờ phượng, cύng lễ. 

Nếu không gặp được ông Tây Bά,

Nắm xưσng khô tan rᾶ khắp đồng.

Giờ ta vâng lệnh bệ rồng,

Dời người an tάng nằm chung chốn nầy.

Chọn đất tốt thi hài an ổn,

Cἀnh trời thanh vui nhộn cὺng nhau.

Hằng nᾰm cύng tế dồi dào,

Tràn trề lễ trọng dάm nào để vσi.

Nσi đoᾳn cuối bài tế, người đứng chὐ tế vừa nόi lên cάi tὶnh cἀnh ngậm ngὺi đối với kẻ chết, vừa giάn tiếp chỉ điểm địa chỉ cuộc hành lễ cἀi tάng: 

Mắt chᾳm thấy lὸng càng tưởng nhớ,

Dầu đưa tay vớt đỡ được đâu!

Tὀ lὸng ghi nhớ σn sâu,

Điếu người thiên cổ mấy câu ca rằng:

“Đỉnh nύi Sam giό xuân thổi ngόt,

Triền nύi Sam mόc ngọt đượm nhuần.

Hợp nσi mồ vắng reo mừng,

Hồn σi! Hồn hỡi! mựa đừng luyến xa.

Cỡi vᾰn bάo hay là xe ngựa,

Cἀnh chia ly gợi ứa lệ hồng.

Phưσng tây thoἀ dᾳ ruổi dong,

Nύi Sam sừng sựng như mong hồn về”.

Nhờ cό bài Tế Nghiᾶ trὐng vᾰn, khiến chύng ta xάc nhận được nhiều sự kiện. Việc trước hết là Thoᾳi Ngọc Hầu vâng chỉ đào kinh, quἀ thật cό chết mất nhiều người (Thiên nhai lᾳc lᾳc, khάch trὐng luy luy) và cό mất lὸng dân như tưσng truyền. Ông bẩm tίnh siêng nᾰng, cἀ quyết, làm việc gὶ cῦng cầu toàn, cho nên việc đào kinh vὶ quά hᾰng say với công tάc, chắc không thể không mắc vào sự chuyên quyết như những việc làm 1ύc ông bἀo hộ Cao Miên mà trong Đᾳi Nam chίnh biện liệt truyện, quyển 27, từng nόi đến. Việc tế cάo nầy là một “trắc ẩn chi tâm” và cῦng là một trong những chίnh sάch làm yên lὸng người.

Việc thứ hai là trong số người đào kinh, ngoài binh và dân, cὸn cό cἀ đàn bà con gάi phụ trάch những việc nhẹ nhàng như nấu ᾰn, gάnh nước, mà tai nᾳn cό khi đᾶ đưa đến cho họ (Vi nam vi nữ, tάnh thậm danh thuỳ). Điều nầy được soi sάng thêm vào việc vua khen bà Châu Thị Tế đᾶ từng giύp chồng nhiều việc cho nên chồng mới được cάi vinh dự thành công và bà mới được lấy tên đặt cho kinh cho nύi (tất nhiên công tάc cὐa bà phἀi cό nữ giới trợ lực).

Việc thứ ba là xάc nhận cuộc cἀi tάng tập thể, trong đό cό cἀ lίnh lẫn dân. Mà trong số quân lίnh đό, trước kia họ đᾶ từng gόp công giύp triều đὶnh vào việc chinh phᾳt (Sung biên chi hộ, bὶnh man chi sư. Sa trường huyết chiến, lу́ dῖ mᾶ bὶ).

Và việc sau cὺng cῦng đᾶ cho ta biết quἀ quyết địa điểm hành lễ cῦng như nσi cἀi tάng hài cốt cὐa cάc “nghῖa trὐng” không đâu khάc hσn là tᾳi khu lᾰng mộ Thoᾳi Ngọc Hầu ngày nay (Sam sσn chi thượng hề, xuân phong xuy. Sam sσn chi hᾳ hề, cam lộ ti. Sam sσn chi tây hề, khἀ dῖ toᾳi xu trὶ).

Sự tiện lợi cὐa con kinh Vῖnh Tế càng về lâu càng thấy rō. Do đό mà sau khi Thoᾳi Ngọc Hầu mất được bἀy nᾰm, đến nᾰm Minh Mᾳng thứ 17 (1836) khi triều đὶnh cho lệnh đύc Cửu đỉnh để làm quốc bἀo và tượng trưng cho sự miên viễn cὐa hoàng gia, vua cho chᾳm hὶnh kinh Vῖnh Tế vào Cao đỉnh.

Cao đỉnh là một trong số chίn cάi đỉnh hiện nay cὸn để trước nhà Thế miếu tᾳi Đᾳi nội cὐa cố đô Huế. Tất cἀ cάc đỉnh đều cό tên riêng: Huyền, Tuyên, Nghị, Chưσng, Cao. Nhσn, Anh, Thuần, Dụ. Tάm chiếc đặt thẳng một hàng ngang và đều khoἀn, đứng ra hai bên, riêng Cao Đỉnh được đặt ở chίnh giữa, ngay đường vào Thế miếu và được đưa về phίa trước cάc đỉnh kia.

Trên Cao đỉnh, hὶnh kinh Vῖnh Tế được chᾳm vào hông rất mў thuật. Dᾶy Thất Sσn lô nhô trὺng điệp, cό điểm lάc đάc những gὸ đất, lὺm cây và lᾳch nước Vῖnh Tế lᾰn tᾰn gợn sόng. Trên bờ kinh, dưới chân nύi, ba chữ Vῖnh Tế Hà khắc theo Hάn tự khά sắc sἀo và rō ràng, phô lộ tầm quan trọng cὐa một việc làm bất hὐ.*

Cho đến ngày nay, kinh Vῖnh Tế vẫn là một thὐy đᾳo hữu ίch lớn cho việc thông thưσng vận tἀi. Từ vàm kinh ở bờ Hậu Giang (Châu Đốc) thẳng đến cửa Giang Thành (Hà Tiên), dài 98.300m, sở dῖ lưu thông được, là nhờ nσi dὸng nước đào tay nόi trên.

Tổ tiên ta chỉ bằng những khί cụ thô sσ: Một ίt cây sào tre đầu cό lửa đuốc để nhắm hướng; nᾰm ba cuộn dây thừng để đo chiều dọc, chiều ngang va bề sâu cho mỗi phiên xâu; một số cuốc, xuổng, chày vồ do dân xâu tự tύc để tự tay đào đất. Công quῖ thὶ chỉ giύp cho muối, gᾳo và một ίt tiền. Thế mà đᾶ thành công tốt đẹp và để lᾳi sự tiện lợi mᾶi mᾶi cho chύng ta về sau.

Ngày nay, những buổi chiều đẹp trời hay những đêm trᾰng sάng, nếu ta thἀ thuyền trên kinh hoặc trѐo lên trên chόt vόt cάc ngọn nύi Sam, nύi Cấm hay một trάi nύi cao nào khάc ở vὺng Thất Sσn mà ngắm xuống dὸng nước dưới kinh, thἀ hồn mσ về cố sự, chắc chύng ta không khὀi bồi hồi thάn phục người xưa đᾶ chịu khổ công khai phά cōi hoang vu cho thành nσi lưu thông trὺ mật, và nhất là đường kinh thẳng tắp, không thua gὶ nhắm bằng mάy nhắm cὐa khoa học bây giờ…

Nguyễn Văn Hầu

Trích trong tác phẩm cùng tên.