Đọc khoἀng: 11 phύt

Nᾰm 2004, tin tức bάo chί Việt Nam cho biết khi một số ngόi bị hư thάo xuống ở Nhà thờ Đức Bà (thành phố Hồ Chί Minh), thὶ thấy cό chữ đề xuất xứ “Wang-Tai Saigon” trên mặt cάc viên ngόi [Trần Nhật Vy 2004]. Tάc giἀ cάc bài bάo cho rằng cό thể cάc viên ngόi này được sἀn xuất sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Sài Gὸn để thay thế cάc viên ngόi đưa từ Phάp sang đᾶ bị hư hᾳi.

Thật ra không phἀi như vậy, mà là cάc viên ngόi này đᾶ được sἀn xuất ở Sài Gὸn trong khi xây dựng nhà thờ từ nᾰm 1877 đến 1880. Kί hiệu Wang-Tai nghῖa là gὶ? Để hiểu được điều này, ta hᾶy đi về quά khứ để tὶm hiểu một phần cὐa lịch sử Sài Gὸn.

——-0——

Qua cάc tài liệu cuối thế kỷ 19 cό ở Thư viện quốc gia Phάp (Bibliotheque national) thὶ ta biết được Wang-Tai là một nhân vật người Hoa kiều sống ở Sài Gὸn trong những nᾰm đầu Phάp chiếm cάc tỉnh miền Nam sau khi đάnh thành Sài Gὸn vào nᾰm 1859. Wang-Tai (Vưσng Đᾳi) nổi tiếng trong cάc tάc phẩm viết về Sài Gὸn trong cάc thập niên 1880-1890 cὐa cάc tάc giἀ người Phάp qua ngôi nhà lớn và đẹp nhất Sài Gὸn nằm ngay tᾳi bờ sông ở cἀng Sài Gὸn (nay là bến Bᾳch Đằng). Maison Wang-Tai đồ sộ xây bằng gᾳch lớn hσn cἀ dinh thống đốc lύc bấy giờ vốn chỉ là một ngôi nhà gỗ (cây) mua ở Singapore chở sang Sài Gὸn rồi rάp lᾳi.

Từ nhà cὐa ông Vưσng Đᾳi về hướng cἀng thưσng mᾳi Sài Gὸn, dọc theo rᾳch Bến Nghе́ (Arroyo chinois) là cάc xưởng làm gᾳch và ngόi do ông Vưσng Đᾳi quἀn lу́. Trong cάc viên ngόi đὀ hσn trᾰm nᾰm trên nόc Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gὸn, một số viên làm từ cάc xưởng gᾳch này cὐa ông, số cὸn lᾳi là nhập từ Phάp.

Vậy ông Vưσng Đᾳi là ai?

Chi tiết về cuộc đời cὐa ông Vưσng Đᾳi không để lᾳi trong sử sάch hay tư liệu nào cὐa người Việt, chỉ cό một số sự kiện rἀi rάc được ghi trong cάc tài liệu tiếng Phάp. Điều này cῦng dễ hiểu vὶ ông Vưσng Đᾳi là người Hoa sống trong thời kỳ từ nᾰm 1827 đến cuối thế kỷ 19 ở miền Nam, một thời kỳ cό nhiều thay đổi lớn khi Phάp đάnh chiếm 6 tỉnh Nam kỳ. Trί thức, sῖ phu, triều đὶnh người Việt lύc ấy không để у́ đến những vấn đề doanh nghiệp, kinh tế, thưσng mᾳi… và vἀ lᾳi không nhiều người biết chữ Hάn-Nôm, cὸn chữ quốc ngữ thὶ chưa được phổ biến trong quần chύng nên không ai viết và biết về con người ông Vưσng Đᾳi.

Ông Vưσng Đᾳi là thưσng gia người Hoa, bang trưởng Bang Quἀng Đông, rất giàu cό và cό thế lực trong thời kỳ đầu khi Phάp chiếm Sài Gὸn và cάc tỉnh miền Đông Nam Bộ. Chỉ trong vὸng hσn 10 nᾰm khi Phάp thiết lập chίnh quyền và mở cửa tự do kinh doanh cἀng, khuyến khίch thưσng mᾳi, sἀn xuất công nghiệp, nông nghiệp, cάc doanh nhân người Hoa ở vὺng Sài Gὸn – Chợ Lớn đᾶ phάt tài vượt bực nhờ truyền thống kinh doanh nhᾳy bе́n và mᾳo hiểm trên thưσng trường. Họ đᾶ trở nên giàu cό nhanh chόng, tᾳo sự khâm phục và ấn tượng đối với người Phάp. Trong số hội viên cὐa Phὸng Thưσng mᾳi (chambre de commerce) vào lύc sσ khai, nᾰm 1886, ở Sài Gὸn, bên cᾳnh đa số là người Phάp, cό hai hội viên người Hoa giàu cό là ông Vưσng Đᾳi và ông Ban-Hap, và một hội viên người Việt duy nhất là ông Nguyễn Trọng Tᾳo [Annuaire 1888]. Ông Vưσng Đᾳi cό cάc xưởng làm ngόi, làm đồ gốm, ruộng lύa và nhiều nhà cửa, vᾰn phὸng ở Sài Gὸn – Chợ Lớn đến nỗi chίnh quyền Phάp phἀi mướn nhiều nhà cὐa ông để làm trụ sở hành chίnh.

Qua sự vận động cὐa ông Vưσng Đᾳi, nᾰm 1880 Toàn quyền Phάp đᾶ đề nghị với giάm đốc trường Chasseloup-Laubat (tức Trường PTTH Lê Quί Đôn ngày nay) mở khόa dᾳy tiếng Quἀng ở trường này. Ông đὸi hὀi Hội đồng Quἀn hᾳt trong phiên họp nᾰm 1883 phἀi bᾶi bὀ thuế đất 5 chὺa người Hoa trong Chợ Lớn vὶ đό là những cσ sở tôn giάo, phἀi được đối xử như cάc đền thờ tôn giάo khάc như Ấn, Hồi, Công Giάo là không phἀi trἀ thuế [E. Laffont, J.-B. Fonssagrives 1890].

Nᾰm 1880, ông muốn bάn ngôi nhà ông đang ở tᾳi bến Sài Gὸn cho chίnh quyền với giά 45.000 piastres (đồng) tưσng đưσng với 225.000 francs. Sau khi xem xе́t kinh phί mà chίnh quyền lύc đό đang mướn và tiền quἀn lу́ bἀo trὶ cᾰn nhà đό, cὺng với số tiền cὸn đang nợ chưa trἀ, Hội đồng Quἀn hᾳt đᾶ đồng у́ bὀ ra 254.000 francs để mua lᾳi cᾰn nhà cὐa ông Vưσng Đᾳi [X. Gaultier de Claubry 1882]. Cάc xưởng gᾳch cὐa ông Vưσng Đᾳi sἀn xuất ra những viên gᾳch tốt được dὺng ở Sài Gὸn và ở nhiều nσi trong Nam kỳ. Trong cuộc triển lᾶm công nghiệp và nông nghiệp nᾰm 1880, cάc sἀn phẩm gᾳch cὐa ông giành được huy chưσng bᾳc [Excursions 1880]. Ông cό đưa cάc sἀn phẩm đồ gốm sἀn xuất ở Chợ Lớn đi tham dự Triển lᾶm Quốc tế nᾰm 1878 ở Paris [Catalogue 1878].

Ngoài cάc cσ sở làm gᾳch và đồ gốm, ông Vưσng Đᾳi cὸn cό những khu ruộng lύa lớn ở Phước Lộc mới khai hoang để trồng lύa gᾳo [Hte-. Frе́dе́ric- Thomas Caraman 1871]. Theo tư liệu ngân sάch do chίnh phὐ Phάp ở Sài Gὸn in nᾰm 1876 [Budget 1876] thὶ ông cό 3 nhà cho chίnh quyền Phάp ở Sài Gὸn mướn: 1 nhà 3 tầng ngay cἀng thưσng mᾳi (quai de commerce) Sài Gὸn (tiền mướn: 6.866 franc/1 nᾰm), 1 nhà ở rue de Canton (đường Triệu Quang Phục) Chợ Lớn làm vᾰn phὸng điện tίn (1.694 francs), 1 nhà ở Bὶnh Tây (Chợ Lớn) làm trᾳm cἀnh sάt (2471.75 francs).

Tờ tuần bάo “Les tablettes colonials” xuất bἀn tᾳi Paris ngày 19/12/1888 cό đᾰng một mẩu tin nhὀ về ngày lễ sinh nhật cὐa ông Vưσng Đᾳi như sau [Les Tablettes 1888]:

“Một ngày lễ rất thành công với ấn tượng rất lу́ thύ vừa xἀy ra ở Sài Gὸn, để mừng sinh nhật thứ 61 và kỷ niệm 30 nᾰm ngày ông thưσng gia người Hoa tên là Vưσng Đᾳi đến Sài Gὸn. Những người con trai cὐa ông Vưσng Đᾳi và gia đὶnh cὐa họ, những đồng hưσng và bᾳn bѐ cὐa ông trong dịp lễ này đᾶ mời “quί bà, quί ông người Phάp và người Âu ở Sài Gὸn, Chợ Lớn và cάc tỉnh”. Cộng đồng người Âu đᾶ đάp lᾳi lời mời ân cần này. Đѐn đuốc, phάo bông, trὶnh diễn kịch, hάt tuồng, không thiếu cάi gὶ trong ngày lễ vui này. Ông Vưσng Đᾳi là một trong những chức sắc người Hoa được kίnh trọng nhất ở Sài Gὸn; ông không những đᾶ cό những dịch vụ cống hiến lớn lao cho đồng bào ông mà cὸn cho chίnh quyền Phάp. Vὶ thế đưσng nhiên là đύng khi người ta đάp lᾳi tưσng ứng thông qua việc tham dự hoᾳt động hὸa bὶnh này mà ông là đối tượng.”

Qua mẩu tin này thὶ ta biết là ông Vưσng Đᾳi sinh vào thάng 12 nᾰm 1827 ở Trung Quốc, ông đến Sài Gὸn – Chợ Lớn lập nghiệp vào nᾰm 1858, một nᾰm trước khi Phάp đάnh thành Sài Gὸn.

Tư liệu, bύt kу́ cὐa cάc tάc giἀ Phάp cuối thế kỷ 19 cho thấy trên khu phố chίnh Sài Gὸn như đường Catinat (Đồng Khởi), người Hoa đᾶ cό nhiều cσ sở doanh thưσng hσn người Việt. Chung quanh ngôi biệt thự cὐa ông Vưσng Đᾳi, trước khi Phάp đến đᾶ cό cάc ca tiệm vἀi, tiệm may đồ, hàng thὐ công, tiệm sửa giày, sửa đồng hồ, hàng nước ngoài mà ngay cἀ người Phάp cῦng đến mua, chưa kể ban đêm cάc nhà trên đường sau biệt thự ông Vưσng Đᾳi là cάc sὸng đάnh bᾳc.

Ngoài ông Vưσng Đᾳi, cὸn cό cάc doanh nhân người Hoa giàu khάc như Apan, Atho, Ban-Hap, v.v. [Anatole Petiton 1883]. Cửa hàng cὐa người Hoa ở đường Catinat, đường Rigault de Genouilly dọc kinh chợ Vἀi, nối đến đường rue d’Adran, đều mở cửa đến 9 giờ đêm. Đường rue d’Adrian (đường Hồ Tὺng Mậu ngày nay) là khu buôn bάn tấp nập cό nhiều cửa hàng người Hoa, Ấn nằm kế khu vực Chợ Sài Gὸn cῦ. Chợ này nằm dọc kênh Charner (kinh chợ Vἀi), nay gọi là chợ Cῦ.

Sài Gὸn – Khάch sᾳn Cosmopolitan Hotel, nhà
ông Vantai (Vưσng Đᾳi) 1872
(nguồn: Bs Albert Morice – La revue Tour du Monde 1875
[Belleindochine 1882, Albert Morice1876]).

Ông Anatole Petiton đến thᾰm Sài Gὸn, đᾶ viết về đời sống, sinh hoᾳt cὐa thành phố trong sάch “La Cochinchine française: la vie à Saïgon, notes de voyage” xuất bἀn nᾰm 1883 như sau [Anatole Petiton 1883]:

“Khi đi tàu đến cἀng Sài Gὸn, du khάch cό thể thấy hai nhà nổi bật là nhà Rồng (messageries maritime) và nhà cὐa ông Vưσng Đᾳi, xây hầu như ở giữa gόc điểm cὐa rᾳch Bến Nghе́ và sông Sài Gὸn.

Tất cἀ Sài Gὸn đều biết ông Vưσng Đᾳi. Nhà cὐa ông rất lớn với cột cửa vὸng cong và mάi hiên (portique), cό thể nόi nhà ông được coi như là trung tâm Sài Gὸn.

Nhà cό ba tầng với sân mάi hiên. Đây cῦng là tὸa đô chάnh thành phố Sài Gὸn và là nσi ở cὐa ông thị trưởng. Ông thị trưởng quἀ là người công chức được chu cấp chỗ ở tốt nhất.”

Sài Gὸn 1872– Bên kia sông Sài Gὸn là nhà Rồng (messageries maritime) – nguồn: Bs Albert Morice – La revue Tour du Monde 1875 [Belleindochine 1882, Albert Morice1876]

Cῦng theo mô tἀ cὐa ông Petiton thὶ kênh Chợ Vἀi dài khoἀng vài trᾰm thước (gọi là kênh Rigault de Genouilly, sau đổi thành kênh Charner), bắt đầu từ sông đi vào thὶ ở phίa bên phἀi là cάc ngôi nhà cὐa người Âu và một vài nhà người Hoa và Ấn (người Phάp gọi người Ấn là malabar), bên trάi là cάc ngôi nhà, chợ và những cửa hàng khάc cὐa người Hoa.

Kênh chấm dứt ở khoἀng nhà thờ. Ở phίa trên phần kе́o dài cὐa kênh, hai bên cό chỗ chσi trὸ chσi Bowling (một thứ trὸ chσi cὐa người Anh) rất hợp với việc giἀi trί lύc chiều tối. Nhà thờ lύc bấy giờ do đô đốc Bonard cho dựng dọc kênh chợ Vἀi nᾰm 1863 sau khi vừa chiếm xong hoàn toàn Sài Gὸn – Gia Định, được làm bằng gỗ hoàn thành nᾰm 1865 chỉ là một nhà thờ tᾳm thời. Người Phάp đang xây một thάnh đường lớn gần dinh thống đốc mới xây. Trong nhà thờ, ở gần điện thờ là cάc ghế ngồi dành cho người Âu, ngoài ra là cάc bục bằng gỗ. Người Ấn cό ba đền thờ ở Sài Gὸn: hai đền thờ Hồi giάo và một đền thờ Ấn giάo (Hindou).

Người Mᾶ Lai, ίt phάt tάn phân phối rộng nhiều ở Sài Gὸn như cάc dân khάc, họ đa số làm nghề coi sόc ngựa. Ở Singapore thông thường thὶ những người chᾰm sόc ngựa và lάi xe ngựa tư nhân hay công cộng đều là người Mᾶ Lai. Ở Sài Gὸn, họ thường lάi xe ngựa cho chὐ mướn họ.

Cὸn cάc xe ngựa công cộng thὶ được điều khiển bởi những người Ấn từ vὺng bờ biển Malabar, Pondichе́ry (một nhượng địa cὐa Phάp ở Ấn Độ) hay từ Singapore. Vὶ người ta thường thấy họ đάnh xe ngựa công cộng ở Sài Gὸn nên họ gọi loᾳi xe ngựa này là xe Malabar. Những người malabar chᾰm sόc ngựa rất tốt và tài tὶnh, họ cό phưσng phάp độc đάo rất hay để dỗ ngựa. Họ thường dὺng bàn tay vỗ nhẹ vào ngựa, làm như cho ngựa tin rằng họ rất ganh tị là ngựa cό bộ da mà họ muốn lấy. Người Malabar cῦng làm nghề chᾰn nuôi bὸ, để lấy và bάn sữa (cό người xấu miệng nόi là sữa bὸ thật sự là nước từ dừa cάi dập nάt pha với nước lᾶ). Ở Sài Gὸn ngay cἀ vào những thập niên đầu thế kỷ 20, vẫn cὸn thấy nhiều con bὸ ᾰn cὀ ở một số lề đường công viên gần trung tâm thành phố do người Ấn nuôi.

Người malabar cὸn cό một nghề đặc biệt nữa là đổi tiền. Một đồng (piastre) theo giά chίnh phὐ đổi là 5 franc 55, nhưng họ đổi được giά cao hσn là 5 fr 65 và đôi khi đổi lên đến khoἀng 6 francs. Họ làm dịch vụ thưσng mᾳi này với người Hoa ở Chợ Lớn, vὶ người Hoa thường cần một số lượng tiền đồng (piastre) lớn để cό thể mua nhiều gᾳo từ cάc tỉnh. Người malabar cὸn một nghề thứ tư ở Sài Gὸn – đό là nghề gάc-dan và họ cῦng được tuyển dụng làm cἀnh sάt. Cộng đồng người malabar là cộng đồng công nhân làm lụng và rất cần kiệm: tiền họ kiếm được thường được cất dấu và không xuất ra nữa. Họ cό thể lực tốt: cao, khὀe và thon. Họ thường đeo đồ trang trί ở cổ tay, trên cổ, cổ chân, tất cἀ đều bằng vàng thật; đối với họ đồ trang trί giἀ bị cấm dὺng.

Lời kết:

Sài Gὸn là một thành phố cὐa nhiều lưu dân đến để tᾳo ra một sắc thάi riêng. Ngay từ đầu, Sài Gὸn đᾶ là một thành phố đa chὐng tộc, đa vᾰn hόa. Người bἀn xứ Mᾳ, Stieng, người Khmer, người Chᾰm, người Hoa từ cάc tỉnh Quἀng Đông, Triều Châu, người Việt từ cάc tỉnh miền Trung, và sau này người Phάp, Ấn độ (Malabar), Phi (Tagal) đến, tất cἀ đᾶ để lᾳi những sắc thάi vᾰn hόa, kiến trύc, ngôn ngữ, giai thoᾳi… để tᾳo thành người Sài Gὸn với đặc tίnh thực dụng, hὸa hợp, trọng lẽ phἀi, tôn trọng sự khάc biệt và mang tίnh chất “trọng nghῖa khinh tài” cὐa vὺng đất Nam Bộ. Sài Gὸn từ cuối thế kỷ 19 đᾶ là thành phố toàn cầu (global city) không phἀi đợi đến thế kỷ 21 cὐa thời đᾳi toàn cầu hόa hiện nay.

Tài liệu tham khἀo

Albert Morice1876: Voyage en Cochinchine pendant les annе́es 1872-73-74, par M. le Dr Morice, H. Georg (Lyon).
Anatole Petiton 1883: La Cochinchine française: la vie à Saïgon, notes de voyage, Éditeur : Impr. de L. Danel (Lille).
Annuaire 1888: Annuaire de la Cochinchine pour l’annee 1886, Saigon imprimerie colonial, Date d’е́dition: 1865-1888.
Belleindochine 1882: Hὶnh ἀnh, tư liệuhttp://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm
Budget 1876: Budget local: exercice / Gouvernement gе́nе́ral de l’Indochine, Cochinchine, Impr. du Gouvernement (Saigon) http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5448883k.image.r=Wang- Tai.f97.langEN.hl
Catalogue 1878: Catalogue officiel. Tome 5 / Exposition universelle internationale de 1878 à Paris; publiе́ par le commissariat general, Imprimerie nationale (Paris), http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k90427z.hl.r=Wang- Tai.f175.langEN
Claudine Salmon, Tᾳ Trọng Hiệp 1994: De Batavia à Saigon: notes de voyage d’ un marchand chinois (1890), Archipel, Vol. 47, pp. 155-191.
E. Laffont, J.-B. Fonssagrives 1890: Rе́pertoire alphabе́tique de lе́gislation et de rе́glementation de la Cochinchine: arrêtе́ au 1er janvier 1889. T4 (G-J), A. Rousseau (Paris).
Eugѐne Bonhoure 1900: Indo-Chine, Challamel (Paris).
Excursions 1880: Excursions et reconnaissances, No. 4, Imprimerie du gouvernement, Saïgon,. http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5747850m.image.hl.r=Wang- Tai.f5.langEN.pagination
Honorе́ Aurillac, Cochinchine. Annamites, Moïs, Cambodgiens, Challamel aînе́ (Paris), 1870
Hte-. Frе́dе́ric-Thomas Caraman 1871: Sept cents millions de revenus en Cochinchine, mе́moire-rapport à M. le Prе́sident de la Rе́publique et à l’Assemblе́e nationale, suivi d’une note sur l’Algе́rie, A. Le Chevalier (Paris).
John Barrow 1806: A voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793: containing a general view of the valuable productions and the political importance of this flourishing kingdom, T. Cadell and W. Davies in the Strand, London. online : http://purl.pt/126
John Crawfurd 1830: Journal of an embassy from the governor of India to the courts of Siam and Cochinchina; exhibiting a view of the actual state of those kingdom by John Crawfurd. London. Henri Colburn and Richard Bentley, New Burlingtong Street.
John White 1824: A Voyage To Cochin China; by John White, Lieutenant in The United State Navy, London. http://www.archive.org/stream/voyagetocochinch00whitrich#page/n15/mode/2u p
Jules Blancsubе́ 1879: Notes sur les rе́formes les plus urgentes à apporter dans l’organisation des pouvoirs publics en Cochinchine (Signе́ : Jules Blancsube [31 Dе́cembre 1878]), Impr. de Ve Remondet-Aubin (Aix).
L. I. 1906: Saïgon-Souvenir, petit guide saigonnais à l’usage des passagers des dе́butants dans la colonie, Editeur Coudurier et Montе́gout (Saïgon).
Les Tablettes 1888: Les Tablettes coloniales. Organe des possessions françaises d’outre-mer, No. 45, 19/12/1888, http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5512296p.image.r=Wang-Tai.f1.langEN
Marcel Monnier, Le Tour d’Asie: Cochinchine, Annam, Tonkin, E. Plon, Nourrit et Cie (Paris), 1899.
Nguyễn Công Tάnh 2009: Thay đổi tên đường cὐa Thành Phố Sài Gὸn từ nᾰm 1928 đến nᾰm 1993http://motgocpho.com/forums/showthread.php?1895- L%E1%BB%8Bch-S%E1%BB%AD-Saigon
P. Cultru 1910: Histoire de la Cochinchine française, des origines à 1883. A. Challamel (Paris).
P. Midan 1934: La Pagode des clochetons et la pagode Barbе́, contribution à l’histoire de Saïgon-Cholon, Impr. de l’Union Nguyên-van-Cua (Saïgon).
Paulin Francosi Alexandre Vial 2009: Les premieres annе́es de la Cochinchine, colonie francaise, BiblioBazaar, LLC.
Rе́veillѐre, Paul-Émile-Marie (dit Paul Branda) 1887: Ça et là. Cochinchine et Cambodge. L’âme khmѐre. Ang-Kor. Troisiѐme edition, Fischbacher (Paris).
Trần Nhật Vy 2004: “Bί mật” nhà thờ Đức Bà, Tuổi Trẻ, 30/12/2004, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/61715/Bi-mat-nha-tho-Duc- Ba.html ; http://vietbao.vn/Phong-su/Bi-mat-nha-tho-Duc-Ba/40061715/263/
Truong Vinh Ky 1885: Jean Baptiste Pе́trus Trưσng Vῖnh Kу́ (1837-1898), Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs, confе́rence faite au collѐge des interprѐtes par M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur : Impr. coloniale (Saïgon).
Vưσng Hồng Sển 1992: Sài gὸn nᾰm xưa, , Nxb Trẻ.
X. Gaultier de Claubry 1882: Un Casse-cou, ou le Budget de la Cochinchine en 1882, Impr. de J. Le Clere (Paris).

TS. Nguyễn Đức Hiệp

Theo saigonthapcam