Đọc khoἀng: 3 phύt

“Bà Tάm” dὺng để chỉ chung cho những người nhiều chuyện, chuyên tọc mᾳch chuyện thiên hᾳ, không phân biệt đό là đàn ông hay đàn bà. Vậy xuất xứ cὐa bà Tάm từ đâu?

Khẩu ngữ “bà Tάm” cὐa tiếng Việt được dịch sάt từ nghῖa gốc cὐa từ 八婆 (phiên âm là “bᾶ pό” hoặc “pάt phὸ”) tiếng Quἀng Đông. Đây  là một từ mượn theo hὶnh thức dịch vay mượn đặc biệt (a special kind of borrowing),  tức là toàn bộ đσn vị cύ phάp cὐa từ đό được vay mượn, sau đό cάc thành phần riêng lẻ cὐa nό được dịch sάt nghῖa. Ở trường hợp này, từ 八婆 (phiên âm tiếng Hάn Việt là bάt bà, tiếng Anh là Eight Po) cό nghῖa gốc là bà Tάm. Ở Trung Quốc, đây là một từ miệt thị và xύc phᾳm  nặng nề.

Nguyên tắc "buôn chuyện" chốn công sở - Chuyên Trang Tuyển Dụng

Xuất xứ thực sự cὐa từ “bάt bà” (八婆) – tức bà tάm, hiện vẫn chưa rō ràng và cό nhiều giἀi thίch khάc nhau về nguồn gốc cὐa từ này. Dưới đây là 2 cάch giἀi thίch phổ biến:• Cάch giἀi thίch thứ nhất bắt nguồn từ câu chuyện về người phụ nữ tên là Châu Yến (朱燕) ở Hong Kong. Người phụ nữ này thứ tάm trong gia đὶnh nên thường được gọi là bà Tάm. Bà Tάm giύp việc cho một thưσng gia giàu cό ở Hong Kong tên là Hồ Đông trong những ngày đầu Hong Kong về Trung Quốc (khoἀng nᾰm 1997-1998). Vào thời điểm đό, Hong Kong vẫn cὸn khά nhiều người Anh sinh sống. Cό lần, một doanh nhân người Anh muốn cό được những bί mật kinh doanh cὐa gia đὶnh họ Hồ  nên đᾶ mua chuộc Châu Yến. Bị lόa mắt bởi đồng tiền, bà Tάm Châu Yến đᾶ bάn bί mật cὐa gia đὶnh Hồ Đông cho vị doanh nhân người Anh nọ. Vụ việc sau đό bị vỡ lỡ, hành vi cὐa Châu Yến đᾶ bị dư luận chỉ trίch nặng nề. Lύc đό, mỗi khi nhắc đến bà Tάm Châu Yến là mọi người đều khinh bỉ, miệt thị. Dần dần, thuật ngữ bà Tάm phổ biến với nghῖa tiêu cực chỉ những người phụ nữ ngốc nghếch, tọc mᾳch và lan sang Trung Quốc đᾳi lục, Macau, Đài Loan, …

• Cάch giἀi thίch thứ hai xuất phάt từ 8 loᾳi nghề nghiệp cὐa những phụ nữ ở tầng lớp thấp ngày xưa, gồm:

1. Nghề làm mai mối (媒人婆)

2. Nghề đỡ đẻ – tức Bà mụ (接生婆)\

3. Nghề se chỉ làm đẹp da mặt (挽面婆)4. Nghề hàng xάo (舂米婆)

5. Nghề giặt thuê (洗衫婆)

6. Nghề cho bύ thuê – tức vύ em (食奶婆)

7. Nghề Đồng cốt hoặc bốc hài cốt (姑仔婆)

8. Nghề Gάnh thuê ở bến tàu – tức Cửu vᾳn  (擔擔婆)

Cῦng giống như phụ nữ Việt Nam thời phong kiến, ngoᾳi trừ cάc gia đὶnh khά giἀ, cὸn lᾳi hầu hết phụ nữ Trung Quốc xưa kia ίt được đi học. Chίnh vὶ học vấn thấp nên họ chọn những nghề trên để mưu sinh.

Vốn xuất phάt điểm thuộc tầng lớp dưới cὐa xᾶ hội cộng với đặc thὺ công việc hoặc là phἀi nόi nhiều (nghề mai mối), hoặc là thường ngồi tάn gẫu với nhau trong lύc làm việc (nghề giặt thuê), hoặc trong lύc chờ việc (cửu vᾳn), hoặc là tiếp cận cάc thông tin “mật” cὐa gia đὶnh người khάc rồi nόi với người khάc, … nên trước kia những người phụ nữ này thường bị gọi là “con mụ lưỡi dài” (长舌妇  – phiên âm Chάngshе́ fὺ, phiên âm Hάn Việt là trường thiệt phụ).

Trên đây là hai cάch giἀi thίch xuất xứ cὐa từ “bάt bà” trong tiếng Quἀng Đông mà tiếng Việt đᾶ vay mượn và dịch sάt nghῖa thành từ “bà tάm”. Sau khi sử dụng từ “bà tάm” một thời gian, khẩu ngữ Việt lᾳi bổ sung thêm một từ phάi sinh là “tάm”, vốn là hậu tố cὐa từ “bà tάm” bằng cάch ngắt chữ “bà” phίa trước và được dὺng như một động từ dὺng để chỉ hành động cὐa những “bà tάm”.

ATABook