Site icon Tạp chí Đáng Nhớ

Quốc tử giám Huế – Di tích văn hóa Cố đô

Dưới thời nhà Nguyễn, tại Huế có một trường học với tư cách Đại học Quốc gia đầu tiên, tồn tại với danh xưng là Quốc Học Đường ( hay Đốc Học Đường ) được thành lập năm 1803 dưới thời vua Gia Long. Đến năm 1820 thì được đổi tên thành Quốc Tử Giám.

Về ý nghĩa thành lập trường, vua Minh Mạng ( 1820-1840) có dụ rằng:

Trường học là nơi các hiền sĩ ganh đua, nước nhà  dùng người phần nhiều lấy nhân tài ở nơi đấy. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, chăm chăm đến việc tác thành nhân tài, đặt thêm nhà học, tăng thêm học viên, cấp nhiều học bổng, mở rộng chương trình khiến học trò đều được thành tài. Để đợi khi lục dụng…”(MMCY, T2, sđd, tr 208).

Ban đầu, Quốc Tử Giám được thiết lập cách Kinh đô Huế gần 5km thuộc xã An Ninh thượng, huyện Hương Trà (nay thuộc làng An Bình, Hương Trà). Dưới thời Gia Long, quy mô Quốc Tử Giám tương đối đơn giản, gồm một tòa chính giữa và hai dãy nhà bên làm nơi giảng dạy của các Đốc học, nơi học tập của các Giám sinh. Vào thời Minh Mạng, năm 1821 trường được mở mang xây dựng thêm. Bộ mặt Quốc Tử Giám lúc này bao gồm: phía trước là Di Luân Đường 5 gian 2 chái, phía sau là giảng đường 7 gian 2 chái; xung quanh là tường thành bảo vệ, từ mặt trước, mặt sau đều trổ cửa vòm để vào ra. Sau đó 5 năm, triều đình lại cho xây dựng thêm hai dãy phòng học cho Giám sinh, mỗi dãy có 19 gian. Năm 1848, trường lại được xây thêm hai dãy nhà cho Giám sinh trọ học, mỗi dãy 9 gian, cùng một vài phòng ở cho các viên Tế tửu (Hiệu trưởng), Tư nghiệp ( Hiệu phó ).

Tất cả những người học ở Quốc Tử Giám thường được gọi là Giám sinh, nhưng triều đình cũng đã có quy định những danh xưng khác nhau cho người theo học ở đây để  phân biệt đối tượng, thành phần. Những sinh viên học ở Quốc Tử Giám do Tôn Nhơn Phủ chọn thì gọi là Tôn học sinh; (hay Tôn sinh); do địa phương hàng năm cử lên thì gọi là Cống sinh; con quan thì gọi là Ấm sinh. Hàng tháng tất cả đều được cấp học bổng, lương thực, dầu đèn…Chương trình giảng dạy được chia theo các ngày chẳn lẻ để dạy các loại sách sử như Kinh truyện, sách, sử, tinh lý…

Năm 1844, khi xếp ngôi trường này vào danh thắng thứ 18 của Kinh đô Huế, vua Thiệu Trị (1840-1847) đã làm bài thơ Huỳnh Tự Thư Thanh để ca ngợi, trong đó có hai câu kết nói lên tinh thần khuyến học của thời đại :

Khuyến học chuyên cần luôn gắng sức

 Văn chương thịnh mãi trọng hiền tâm

Quốc Tử Giám là nơi tập trung rất đông các học sinh trong cả nước về Kinh dùi mài kinh sử. Ngôi trường này tồn tại gần 90 năm kể từ khi có tên gọi Quốc Tử Giám dưới thời vua Minh Mạng ( 1820) với quy mô hoàn chỉnh nhất.

Năm 1904 cơn bão năm Giáp thìn  đã làm cho Quốc Tử Giám hư hỏng nặng, sau đó tu bổ lại một vài lần.

Năm 1908, dưới thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời về khu vực phía đông của Kinh thành ở vị trí hiện nay. Các công trình kiến trúc có một số thay đổi về quy mô, vật liệu xây dựng nhưng cơ cấu phòng ốc, tên gọi công trình thì hầu như vẫn được giữ lại. Ở địa điểm mới, trường được chia thành 2 khu vực ngăn cách nhau bằng con đường nhỏ (nay là đường Lê Trực); ở phía giữa khu chính có Di Luân Đường (được xem là Hội trường chính); ở phía khu vực phụ phía sau là Tân Thơ Viện (thư viện của trường). Hai công trình này nguyên trước đây nằm ở cung Bảo Định (được xây dựng phía bắc Ngự Hà, năm 1845, là hành cung của vua Thiệu Trị) được hạ giải và đưa về dựng tại đây vào các năm 1908–1909.

Hai bên phía sau Di Luân Đường xây 2 phòng học, trước hai nhà này là 2 dãy cư xá dành cho Giám sinh. Hai bên Tân Thư Viện có nhà ở cho quan Tế tửu (hiệu trưởng) và quan Tư nghiệp (hiệu phó) ngoài ra còn có nhà ở dành cho các  Giáo quan (thầy dạy) và nhân viên của trường.

Năm 1923, Tân Thư Viện được chuyển làm Bảo Tàng Khải Định (nay là Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế), thư viện dời sang ngôi nhà phía sau bên trái Di Luân Đường, trở thành Thư viện Bảo Đại (từ 1923–1945 ).

Vào những năm thập niên 90 của thế kỷ trước, Di Luân Đường được tu sửa , lợp lại ngói âm dương tráng men vàng. Ở tầng trên; Minh Trưng Các, vẫn còn bảo tồn được các bài thơ chữ Hán và các bức chạm, khảm cẩn xà cừ và ngà voi theo lối nhất thi nhất hoạ . Phía trước Quốc Tử Giám hiện vẫn còn hai tấm bia cổ. Tấm bia được dựng ở giữa sân  khắc bài thơ Huỳnh Tự Thư Thanh của vua Thiệu Trị (1841 – 1847) ca ngợi cảnh đẹp của Quốc Tử Giám (cũ) như là một trong 20 cảnh đẹp nhất của Huế (Thần Kinh Nhị Thập Cảnh). Tấm bia thứ hai lớn hơn, dựng ở bên kia con đường trước trường (đường 23/8 hiện nay) lập ngày 29 tháng 2 năm Tự Đức thứ 7 do các quan chức ở Nội các dâng lên vua Tự Đức, nhân một chuyến thăm trường của nhà vua. Hai tấm bia này nguyên của trường Quốc Tử Giám cũ đã được dời về đây cùng với lần chuyển chỗ trường này.

Hiện nay, tại nhà Di Luân Đường vẫn còn hai bức hoành phi ghi tên công trình này cùng niên đại xây dựng và cải tạo .

Quốc Tử Giám Huế là một di tích văn hóa ở đất Cố đô, tại đây một thời gian dài là nơi đào tạo nhiều nhân tài của cả nước, trong số đó nhiều người đã trở thành những chiến sĩ yêu nước, tham gia đấu tranh chống áp bức của thực dân.

Tết Dưới Mắt Người Tây Phương

Trong "Lối Xưa Xe Ngựa..." tập II, tôi có viết ba bài về những tục lệ liên quan đến Tết Nguyên đán (1), song là viết theo sách sử của ta. Ở...

Tha-La một địa danh lịch sử

Trên đường từ thành phố Sài Gòn đi tới cửa khẩu Mộc-Bài theo quốc lộ 22A, qua khỏi khu công nghiệp hiện đại Trảng-Bàng là đến trung tâm thương mại...

Nghệ thuật trang trí của người Việt cổ

Nói đến thời kỳ Hùng Vương đã có rất nhiều bài viết của nhiều tác giả đã nghiên cứu và tìm hiểu, trong bài viết này xin đề cập đến...

Chữ “Ký” trong tiệm ăn

Ở Sài Gòn-Chợ Lớn ta thường bắt gặp nhiều bảng hiệu như Lương Ký Mì Gia, Bồi Ký Mì Gia, Thiệu Ký Mì Gia, Hải Ký Mì Gia, Huê Ký...

Vài suy niệm về Francisco de Pina và việc hình thành chữ Quốc Ngữ

Tóm tắt Xem trong các viện lưu trữ, dường như chúng ta không thể khám phá ra tài liệu quan trọng nào chưa được khai thác để tìm hiểu về...

Tiên lễ hậu binh của người xưa

Cổ nhân có câu: “Tiên lễ hậu binh”, khi phát động chiến tranh cũng phải coi trọng lễ nghĩa. Điều này ứng dụng vào thực tế chiến tranh thời cổ...

Lý hội tính tình

Thường con người ta, ai cũng sẵn mối cảm tình, khi gặp thời gặp cảnh xúc động đến thì mối cảm tình ấy tất chứa chan, đầy rẫy hiện ra...

Vẫn chưa dứt chuyện những con vật cầm tinh

Về tên của từng chi trong thập nhị chi, trong bài “Mão là thỏ hay mèo?”, đăng trên Đương thời số 29 (3-2011), chúng tôi đã viết: “Gần đây đã...

Đàn Xã Tắc – Biểu tượng gắn kết lãnh thổ

Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ quan trọng ở nước ta dưới chế độ quân chủ. Trải qua các triều đại từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn,...

Chuyện về hoa Mai

Hoa mai gắn liền với Tết ở các tỉnh ở phía Nam vĩ tuyến 17. Ở phía Bắc vĩ tuyến 17 dân chúng không chưng cành mai mà chưng cành...

Những bức chân dung độc đáo của văn nghệ sĩ miền Nam trước 1975

Năm 2018, thời điểm đội tuyển bóng đá Việt Nam giành HCV AFF Cup, bức tranh vẽ chân dung huấn luyện viên Park Hang Seo của họa sĩ Trần Thế...

Ban nhạc Shotguns và người nhạc sĩ đa tài

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ...

Exit mobile version