Đọc khoἀng: 10 phύt

Hoa mai gắn liền với Tết ở cάc tỉnh ở phίa Nam vῖ tuyến 17. Ở phίa Bắc vῖ tuyến 17 dân chύng không chưng cành mai mà chưng cành đào. Hoa mai màu vàng rực rỡ, màu cὐa cάc quân vưσng Á Ɖông ngày xưa. Hoa đào màu hồng, màu cὐa hᾳnh phύc.

Nhân dịp này chύng tôi xin nόi khάi quάt về tất cἀ những đặc điểm cὐa hoa mai đồng thời phân biệt hoa mai ở nước ta và hoa mai (meihua) ở Trung Hoa, Triều Tiên, Taiwan (Đài Loan) và Nhật Bἀn.

Hoa mai vὺng nhiệt đới

Mai là một loᾳi cây mọc hoang trong rừng, trên hốc đά hay trên những vὺng đất khô cằn ở Ɖông Nam Á, Phi Châu, Mў Châu nhiệt đới, bắc Úc Ɖᾳi Lợi và vὺng khί hậu bάn nhiệt đới. Ở Nam Mў cό loᾳi mai Ochna suaveolens hay Ouratea suaveolens giống như loᾳi mai vàng thường thấy ở Trung Bộ và Nam Bộ. Ở Việt Nam cây mai được tὶm thấy nhiều ở phίa Nam vῖ tuyến 17 và hiếm dần ở cάc tỉnh bắc Trung bộ và Bắc Bộ. Hoa mai được tὶm thấy ở Hawaii, Hoa Kỳ. Nhiều xᾶ trong quận Thὐ Ɖức, Gὸ Vấp thuộc tỉnh Gia Ɖịnh trồng cây mai để bάn vào dịp Tết.

chuyenhoamai

Hoa mai được người Việt Nam chưng trong những ngày Tết mang nhiều tên khoa học và dὸng thἀo mộc khάc nhau như dὸng Ochna, Eleaeocarpus, Discladium thuộc gia đὶnh Ochnaceae.

Tên khoa học thường dὺng cho hoa mai là Ochna harmandii, Ochna serrulata, Ochna integerrima, v.v. Theo từ nguyên Hy Lᾳp Ochna cό nghῖa là trάi lê rừng, άm chỉ hὶnh dᾳng cὐa hột cὐa cây mai. Người Hoa Kỳ gọi mai là Mickey mouse plant vὶ màu đen bόng cὐa hột hoa mai giống màu đen và đὀ cὐa con chuột Mickey (hột đen, đài hoa đὀ). Người Trung Hoa gọi hoa mai là Jin Lian Mu (Kim Liên Mộc: cây sen vàng).

Cây mai không to và không cao. Chiều cao trung bὶnh xê dịch từ 2 – 5m. Lά mὀng, cứng, cό rᾰng cưa nhuyễn màu xanh nhᾳt. Hoa 5 cάnh màu vàng, nhụy màu vàng cam. Ong và bướm thίch hύt nhụy hoa mai. Chim thίch ᾰn trάi chίn màu đen bόng dưới dᾳng hột. Mai là loᾳi thἀo mộc tᾰng trưởng rất chậm. Cành mai nhὀ nhắn, thanh nhᾶ và rất dẻo.

Thông thường người ta thίch hoàng mai mặc dὺ cό bᾳch mai (mai trắng) tức mai oằn và hồng mai (mai đὀ) cὸn được gọi là mai tứ thời.

mai

Tên khoa học cὐa bᾳch mai là Ochna alba và tên khoa học cὐa hồng mai là Ochna atropurpurea. Bᾳch mai hoa trắng, 05 cάnh, nhụy vàng được tὶm thấy nhiều ở Phi Châu.

Cây mὺ u Xiêm Ochrocarpus siamensis cῦng được gọi là bᾳch mai hay Nam mai.

Hoàng mai được trân quί vὶ màu sắc đẹp, biểu tượng tốt cho việc cầu phύc vào nᾰm mới. Hoa mai cό 05 cάnh biểu tượng cho:

– 05 thành phần xᾶ hội: Sῖ, Nông, Công, Thưσng, Binh.
– Ngῦ hành: Kim, Mộc, Thὐy, Hὀa, Thổ.
– Ngῦ tᾳng: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận.

Cây mai gợi lᾳi sự hy sinh cao cἀ cὐa người phụ nữ trong xᾶ hội nông nghiệp. Mai mọc trên hốc đά, vὺng đất khô cằn, thi gan trước nắng lửa mưa dầu vào mὺa hᾳ và tiết trời bᾰng giά vào mὺa đông. Nό không được ai chᾰm sόc hay vun phân tưới nước nhưng vẫn tưσi cười nở hoa để chung vui với vῦ trụ chào đόn Xuân về. Ɖό là hὶnh ἀnh cὐa người phụ nữ Ɖông Phưσng suốt đời làm lụng cực nhọc với tư cάch môt người dâu, người vợ, người mẹ trong gia đὶnh và người phụ nữ trong xᾶ hội nhưng lύc nào cῦng nở nụ cười và mang lᾳi nguồn sống, niềm vui và hᾳnh phύc cho gia đὶnh và xᾶ hội. Muốn mai ra nhiều hoa phἀi lặt sᾳch lά cὐa nό. Người phụ nữ ngày xưa phἀi quên đi mọi gάnh nặng mới giữ được sự lᾳc quan và nụ cười như cành mai phἀi trἀi qua sự khắc nghiệt cὐa thời tiết, sự cằn cỗi cὐa mội trường sống và cành bị lặt lά để cό nhiều hoa vàng tưσi thắm.

Trong tỉnh Gia Ɖịnh cό địa danh Hoàng Mai Thôn. Ở Chợ Lớn cό địa danh Cây Mai, nσi cό ngôi chὺa cổ nhất ở Nam Bộ.

Vào thế kỷ XIX Tôn Thọ Tường lập ra Bᾳch Mai Thư Xᾶ để xướng họa thi vᾰn với cάc nho gia ở Nam Kỳ.

Mai, trύc là đề tài hội họa được cάc nghệ nhân dὺng để vẽ tranh hay làm tranh sσn mài. Họa sῖ Lê Trung thường vẽ cành hoàng mai trên bάo Xuân khi Xuân về.

Ở Nam Bộ cό hiệu thuốc kiết Nhành Mai được quân đội Viễn Chinh Phάp dὺng khi chiến tranh Việt-Phάp bắt đầu bὺng nổ.

Sau nᾰm 1954, Sῖ Quan Việt Nam Cộng Hὸa mang dấu hiệu hoa mai: hoa mai vàng cho Thiếu Úy, Trung Úy và Đᾳi Úy; hoa mai trắng cho Thiếu Tά, Trung Tά và Đᾳi Tά. VNCH cῦng cό phάt hành tem Hoa Mai trắng. Không rō đây là Bᾳch Mai Ochna alba hay hoa mai Prunus mume (mai hay mσ)? Sau nᾰm 1975 xuất hiện thuốc lά Hoa Mai ở Nam Bộ.

Dὸng thἀo mộc Ochna cό flavonoids, ochnaflavone. Người Zulu ở Phi Châu sắc rễ cây mai để uống như thuốc trục lᾶi, trị bệnh viêm ruột thừa, bᾳch huyết, bịnh về xưσng, kinh nguyệt, loе́t, đau thắt lưng, động kinh.

Mai chiếu thὐy

maichieuthuy

Mai chiếu thὐy không thuộc gia đὶnh Ochnaceae cὐa hoa mai vừa đề cập. Nό thuộc gia đὶnh Apocynaceae. Mai chiếu thὐy được gọi là thὐy mai dự theo cάch gọi cὐa người Trung Hoa Shui mei. Mai chiếu thὐy được tὶm thấy nhiều ở Việt Nam, Thάi Lan, Mᾶ Lai, Lào, Cambodia, Indonesia, Nam Hoa dưới dᾳng cây cἀnh trồng trong bồn nhὀ: cây cἀnh bonsai.

Tên khoa học cὐa mai chiếu thὐy là Wrightia religiosa (do tên cὐa bάc sῖ William Wright (1735 – 1819), người Scotland) thuộc gia đὶnh Apocynaceae cὐa trύc đào. Về phưσng diện thực vật học, mai chiếu thὐy không cό liên hệ gὶ đến hoa mai dὸng Ochna và gia đὶnh Ochnaceae ngoᾳi trừ tên gọi cό chữ Mai. Mai chiếu thὐy cό hoa màu trắng hay hồng nhᾳt nhὀ hσn hoàng mai nhưng cό hưσng thσm. Ở Thάi Lan người ta thường đặt cάc chậu mai chiếu thὐy trong chὺa để cύng Phật. Do đό người Anh gọi mai chiếu thὐy là Sacred Buddhist (hoa thiêng Phật Giάo), water jasmine (thὐy lài), Philippine jasmine (hoa lài Phi Luật Tân); tiếng Sanskrit (Phᾳn): Kutaja; Thάi Lan: Mok ban.

Rễ cὐa mai chiếu thὐy được dὺng để trị bịnh về da.

Bᾳch mai hay Nam mai: cây Mὺ U Xiêm

maimuu

Cây mὺ u Xiêm cό hoa trắng rất thσm nên được gọi là bᾳch mai hay Nam mai. Nό được tὶm thấy nhiều ở Nam Bộ. Ɖό là một cây to, gỗ cứng, lά to, dầy xanh mượt rất đẹp (theo Hy Lᾳp ngữ phylla: lά (diệp); kalos: đẹp); hoa 05 cάnh màu trắng, nhụy vàng rất thσm; trάi trὸn khi chίn màu vàng.

Tên khoa học cὐa Nam mai hay cây mὺ u Xiêm là Ochnacarpus siamensis thuộc gia đὶnh Callophyllaceae hay Clusiaceae cὐa cây vấp hay mᾰng cụt. Người Thάi Lan gọi Nam mai là sarapi hay soi phi. Người Anh âm thành salapee.

Ở Thάi Lan người ta không trồng một số cây quanh nhà vὶ sợ xui xẻo. Trong số nầy cό cây mὺ u Xiêm (Nam mai hay bᾳch mai). Nό chỉ được trồng quanh cάc chὺa, đền đài, cung điện nhà vua mà thôi.

Hoa Nam mai cό terpenoids  steroids. Hột cό nhiều hợp chất phenol. Trάi dὺng để khai thάc dầu như trάi mὺ u ở nước ta. Theo y học dân gian Thάi Lan, người ta dὺng hoa Nam mai sarapi nấu nước uống trị chόng mặt.

Cây mai vὺng bάn nhiệt đới và ôn đới

maihong

Cây mai vὺng bάn nhiệt đới và ôn đới được gọi theo cάch gọi cὐa người Trung Hoa: Mei. Người Nhật gọi là ume (ô mai); Triều Tiên: Maesil. Người Việt Nam cὸn gọi là cây mσ. Người Anh gọi là apricot, Chinese plum, Japanese apricot, Japanese flowering apricot; Phάp là abricotier (cây)

Tên khoa học là Prunus mume hay Armeniaca mume. Cây cao từ 3 – 6m, hoa bắt đầu trổ vào mὺa đông để kịp nở rộ vào mὺa Xuân. Hoa cό 05 cάnh màu trắng hay hồng nhᾳt, nhụy vàng. Hoa gọi là mai hoa (meihua). Cây mai hay mσ cό trάi to cό hột cứng và to. Trάi chίn vào mὺa mưa nên được gọi là mai vῦ (meiyu). Trάi chίn cό cσm mềm màu vàng sậm, vị ngọt lợ. Trάi khô cό màu đen nên được gọi là ô mai (wumei, oomei). Trong tỉnh Hubei (Hồ Bắc) cό hᾳt Huangmei (Hoàng Mai) cό cây mai Prunus mume 1.600 tuổi nhưng vẫn ra nhiều hoa hàng nᾰm.

maitem

Hoa mai trong tem phάt hành ở VNCH cό vẻ giống hoa mai (meihua) cὐa cây mai Prunus mume chớ không phἀi hoa mai Ochna harmandii. Loᾳi cây mai ᾰn trάi nầy cό ở miền Bắc Việt Nam. Người ta chọn những cành mai màu hồng để chưng vào dịp Tết. Ɖό là “cành đào” trong câu “Mỗi nᾰm hoa đào nở” trong bài thσ cὐa Vῦ Ɖὶnh Liên. Ɖào ở đây chỉ màu đὀ cὐa hoa chớ không phἀi hoa cὐa cây đào (peach tree – Prunus persica) cό trάi đὀ vàng trong tranh Phước Lộc Thọ. Người ta không chưng loᾳi hoa mai cό hoa màu trắng vὶ người Việt Nam chịu ἀnh hưởng cὐa vᾰn hόa Trung Hoa nên không thίch màu trắng và cho đό là màu tang. Nᾰm hᾳn gặp sao Thάi Bᾳch, người ta kiêng mặc quần άo màu trắng! Trάi lᾳi người Triều Tiên và Nhật Bἀn – giống như người Tây Phưσng – yêu sự thanh khiết cὐa màu trắng. Quốc kỳ cὐa Nhật Bἀn và Ɖᾳi Hàn cό nền màu trắng.

Trάi và hoa mai Prunus mume đều ᾰn được. Trάi dὺng làm đồ chua, nước giἀi khάt, vô hộp, ô mai, xί muội, nước chấm gọi là mai giang (meijiang), cất rượu. Rượu gọi là mai tửu (meijiu). Ở Nhật rượu ô mai gọi là Umechu (Ȏ Mai Tửu).

Lά cây mai hay mσ Prunus mume được dὺng làm màu nhuộm xanh. Trάi cho màu nhuộm xanh sậm.

Trάi ô mai cό sinh tố C, B1, B2, B3, B9, phosphorus, Ca, Fe, K, proteins, calories, carbohydrates, sợi. Hột cό amydalin, prunasin gặp nước chuyển sang prussic acid tức Cyanide rất độc. Ǎn hột đắng rất độc cό thể chết. Trάi và hoa mai Prunus mume được dὺng để trị sốt, ho dai dẳng, đau bụng, mất ngὐ, kinh nguyệt bất thông, loе́t, trὺng lᾶi, cầm mάu, kiết lỵ, tiêu chἀy, phὸng ngừa bịnh tim. Hoᾳt chất lấy từ cây mai cό tίnh sάt trὺng được dὺng trong ngành nha khoa để ngừa bịnh đau rᾰng hay bịnh về nướu rᾰng.

Người phụ nữ đẹp luôn luôn là người mὶnh hᾳc xưσng mai. Thi hào Nguyễn Du tἀ vẻ đẹp thể chất và tinh thần cὐa hai chị em Thύy Kiều và Thύy Vân qua hai câu thσ:

Mai cốt cάch tuyết tinh thần, 
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Mai, trύc là hὶnh ἀnh cὐa cặp vợ chồng hᾳnh phύc và tâm đầu у́ hiệp

Ai đi đường đấy hỡi ai? 
Hay là trύc đᾶ nhớ mai đi tὶm.

Hay:

Một nhà sum họp trύc mai, 
Càng sâu biển cἀ, càng dài tὶnh sông.

*
Giό đưa liễu yếu mai oằn, 
Liễu yếu mặc liễu mai oằn mặc mai.

Rắn hoa mai là một loᾳi rắn cό đốm trắng hay vàng nhᾳt.

Mai hoa lộc là một loᾳi mai cό đốm trắng.

Mai thê hᾳc tử nόi lên cἀnh sống cô đσn cὐa người ẩn dật trong rừng. Vợ là hoa mai, con là chim hᾳc.

Những chữ Mai trong cάc câu thσ và nhόm chữ trên đều không phἀi là cây mai Ochna harmandii trong gia đὶnh Ochnaceae mà là cây mai hay cây mσ Prunus mume thuộc gia đὶnh Rosaceae tức cây mai hay cây mσ cό trάi to ᾰn được gọi là mai vῦ (meiyu) (vὶ trάi chίn vào mὺa mưa) hay ô mai (wumei/oomei) vὶ trάi chίn khô cό màu đen.

a. Thi hào Nguyễn Du là người Hà Tῖnh, nσi hiếm thấy cây mai Ochna harmandii tức kim liên mộc (jin lian mu).

b. Truyện Thύy Kiều là truyện cὐa Trung Hoa. Nhân vật lẫn cἀnh vật đều thuộc về Trung Hoa, nσi chỉ cό nhiều cây mai (MeiPrunus mume hσn là kim liên mộc.

Cây mai Prunus mume tượng trưng cho Hy Vọng, Sắc Ɖẹp, Thanh Khiết, sự Chuyển Tiếp cὐa cuộc đời. Cây mai, cây tre, và cây thông là ba loᾳi thἀo mộc được xem là bᾳn cὐa mὺa Ɖông. Mai hoa là đề tài cὐa hội họa với Mai, Lan, Cύc, Trύc. Cό người cho rằng tranh Tứ Thời là Lan, Sen (Liên), Cύc, Mai cό hoa nở theo mὺa như sau:

maichu

Ɖό là bốn loᾳi hoa đẹp nở trong bốn mὺa trong nᾰm. Hoa mai Prunus mume nở vào lύc giao thời cὐa mὺa Ɖông và mὺa Xuân (hᾳ tuần Thάng Giêng và thượng tuần Thάng Hai Dưσng Lịch).

Hoa mai Prunus mume là quốc hoa cὐa Trung Hoa Dân Quốc (Taiwan – Ɖài Loan – R.O.C.: Republic of China). Hoa cό:

– 03 nhụy cho mỗi cάnh hoa. Ba nhụy tượng trưng cho Tam Dân Chὐ Nghῖa (San Min Chu I: Dân Tộc, Dân Quyền, Dân Sinh) do Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên) khởi xướng.

– 05 cάnh hoa tượng trưng cho Ngῦ Quyền phân lập:

a. Hành Phάp.
b. Lập Phάp.
c. Tư Phάp.
d. Giάm Sάt.
e. Khἀo Thί.

Nghệ nhân Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bἀn và miền Bắc Việt Nam dὺng cành hoa mai Prunus mume làm đề tài sάng tάc chớ không dὺng hoa mai Ochna harmandii.

maidao

Để chấm dứt bài viết này chύng tôi tόm lược những tưσng đồng và dị biệt giữa Mai Ochna harmandii và Mai Prunus mume:

Tưσng đồng

– Tên gọi thông thường là Mai.

– Hoa cὺng kίch thước và cό 05 cάnh.

– Liên hệ đến thân hὶnh đẹp cὐa nữ phάi và cάc đức tίnh cao cἀ cὐa người phụ nữ.

– Biểu tượng: (ngῦ hành, ngῦ tᾳng, ngῦ nghiệp, ngῦ quyền, Tam Dân Chὐ Nghῖa, v.v…)

– Cἀ hai loᾳi mai đều được chưng vào dịp Tết để mong cầu may mắn và hᾳnh phύc.

Người ta chưng cành đào với hy vọng được Thần Trà, Uất Lὐy ẩn nấp để giύp đỡ xua đuổi điều xấu.

Dị biệt

– Môi trường sống khάc nhau. Mai Ochna harmandii sống ở vὺng khί hậu nhiệt đới. Mai Prunus mume sống ở vὺng khί hậu bάn nhiệt đới hay ôn đới.

– Mai Prunus mume cό công dụng đa dᾳng hσn mai Ochna harmandii (trάi ᾰn được, làm nước chấm, nước giἀi khάt, đồ hộp. Trάi và hoa dὺng để trị bịnh theo y học dân gian cổ truyền).

– Màu sắc khάc nhau. Hoa mai Ochna harmandii màu vàng và hoa mai Prunus mume màu trắng hay hồng.

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

Theo tongphuochiep