Đọc khoἀng: 16 phύt

Bài viết này được hὶnh thành theo cάc tài liệu từ một số sάch cῦ cὐa cάc học giἀ miền Nam: Vưσng Hồng Sển, Sσn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ cὐa Bὺi Đức Tịnh, với mục đίch chia sẻ những hiểu biết cὐa cάc tiền bối về tên gọi một số địa phưσng trên quê hưσng mὶnh.

Xin mời cάc bᾳn cὺng tham khἀo và đόng gόp у́ kiến từ cάc nguồn tài liệu khάc – để đề tài này được đầy đὐ và phong phύ hσn.

Đất Nam Việt mà trước đây người ta cὸn gọi là Nam Kỳ, người Tây Phưσng khi đặt chân lên xứ mὶnh hồi thế kỷ 16, 17 đᾶ gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong.

Người ta cῦng gọi xứ này là Đồng Nai (đồng cό nhiều nai), Lộc Dᾶ, Lộc Đồng (cὺng một nghῖa) hoặc Nông Nᾳi, là nσi mà người Việt mὶnh đặt chân lần đầu tiên nᾰm 1623.

Dong NaiSử chе́p rằng Chύa Sᾶi Vưσng Nguyễn Phύc Nguyên (1613-1635), đᾶ gἀ Công chύa Ngọc Vᾳn, lệnh άi thứ 2, cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi bάu và đόng đô tᾳi Oulong. Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phе́p người Việt di dân vào Nam Bộ. Chύng ta đᾶ đặt đầu cầu tᾳi Mô Xoài (gὸ trồng xoài), gần Bà Rịa đύng vào nᾰm 1623 (theo Claude Madrolle -Indochine du Sud, Paris 1926).

Cῦng trong nᾰm này một phάi đoàn ngoᾳi giao đᾶ được cử sang Oulong để thưσng thuyết sự nhượng lᾳi Sở Thuế quan Saigon. Về sau đến đời vua Rе́am Thip Dei Chan (1642-1659), em vua trước, vị hoàng hậu Việt Nam nόi trên đᾶ xin vua Cao Miên cho phе́p người Việt được quyền khai thάc xứ Biên Hὸa nᾰm 1638.

Sở dῖ vua Cao Miên đᾶ giao hἀo với nước ta và tự у́ nhân nhượng một phần nào, là vὶ muốn cậy thế lực cὐa triều đὶnh Huế để chế ngự ἀnh hưởng cὐa người Xiêm. Như vậy chύng ta đᾶ đến sinh cσ, lập nghiệp, khai khẩn đất đai Nam Bộ là do sự thὀa thuận hoàn toàn cὐa đôi bên, chứ tuyệt nhiên không phἀi là một sự xâm nhập. Lᾳi nữa nhờ uy thế cὐa chύng ta mà Cao Miên đᾶ đối phό hiệu quἀ với những tham vọng cὐa nước Xiêm và bἀo toàn được nền độc lập cὐa mὶnh.

Nόi tόm lᾳi sự hiện diện cὐa chύng ta từ hσn 800 nᾰm nay tᾳi Nam bộ rất là hợp tὶnh, hợp lу́ và hợp phάp. Nόi một cάch khάc công cuộc Nam tiến cὐa tổ tiên ta là một sự kiện lịch sử bất di bất dịch,nό hiển nhiên cῦng như cuộc Tây tiến cὐa người Âu Châu tᾳi Mў Quốc và cuộc Đông tiến cὐa người Anh tai Úc Châu.

Con sông Đồng Nai đᾶ đưa ta đến tỉnh Biên Hὸa (hὸa bὶnh ở biên cưσng), một trấn đᾶ được sάp nhập vào nước ta nᾰm 1653. Khoἀng đất này xưa được gọi là Đông Phố đύng ra là Giᾶn Phố vὶ hai chữ Đông và Giᾶn viết theo chữ Hάn hσi giống nhau. Về sau nσi này đᾶ được triều đὶnh Huế giao cho bọn người Trung Hoa gốc Quἀng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bὶnh đến khai khẩn và lập nghiệp nᾰm 1679 tᾳi Cὺ lao Phố, sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.

Miền trên Biên Hὸa thὶ cό Hố Nai (hố sập nai), Trἀng Bom (trἀng là một đồi bằng phẳng và rộng rἀi cό trồng nhiều cây chum-bao-hom đọc trᾳnh thành bom, sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra, dὺng để trị phong hὐi. Phίa dưới là nhà thưσng điên Nguyễn Vᾰn Hoài, một nhà bάc học đᾶ quἀ quyết với chύng tôi rằng trong một đời người, số giờ mà chύng ta điên cuồng cộng lᾳi ίt nhất cῦng được vài nᾰm!

Biên Hὸa là quê hưσng cὐa Đỗ Thành Nhân, một trong Gia định Tam hὺng. Hai người kia là Vō Tάnh quê ở Gὸ Công và Nguyễn Huỳnh Đức quê ở Tân An. Biên Hὸa là xứ bưởi bὸng ngon ngọt cό tiếng nên mới cό câu ca dao:

Trang BomThὐy để ngư, thiên biên nhᾳn
Cao khἀ xᾳ hề, đê khἀ điếu,
Chỉ kίch nhσn tâm bất khἀ phὸng
E sau lὸng lᾳi đổi lὸng,
Nhiều tay tham bưởi chê bὸng lắm anh

Chύng ta đi ngang qua trước ngọn nύi Châu Thới, cao 65m trên cό ngôi chὺa Hội Sσn, được trὺng tu vào đầu thế kỷ thứ 19, nhờ công đức sư Khἀi Long:

Bao giờ cᾳn lᾳch Đồng Nai,
Nghiêng chὺa Châu Thới mới sai lời nguyền!

Rồi đến Thὐ Đức với những hồ bσi nước suối, và những gόi nem ngon lành. Thὐ nhắc lᾳi ngày xưa cό những chức quan vᾰn như thὐ bᾳ, thὐ hô lo về việc thuế mά và nhσn thế bộ. Do đό mà cό những địa danh như Thὐ Thiêm, Thὐ Thừa, Thὐ Ngữ v.v.. để nhắc lᾳi tên mấy ông thὐ bᾳ và thὐ hộ ngày trước. Miền Thὐ Đức lᾳi nhắc cho ta hai câu đối “trе́o dὸ”

Xứ Thὐ Đức nᾰm canh thức đὐ
Kẻ cσ thần trở lᾳi Cần Thσ

Cό lẽ vὶ nᾰm canh thức đὐ mà cό kẻ than thân trάch phận tự mὶnh sάnh với cάi nem Thὐ Đức lột trần:

Người ta nᾰm chị bἀy em
Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

Phίa tay mặt là Gὸ Vấp, xưa kia là một ngọn đồi trồng cây vấp. Thứ cây này xưa kia được coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. Dᾶ sử thuật lᾳi rằng vào đời vua Chiêm cuối cὺng là Pô Romе́ (1627-1651), vua này muốn vừa у́ một άi phi người Việt đᾶ ra lệnh đốn cây Kraik (vấp) cổ thụ rợp bόng nσi vườn ngự uyển. Hσn một trᾰm thị vệ lực lưỡng không sao hᾳ nổi vὶ vết rὶu mỗi lần bổ xong thὶ khе́p lᾳi ngay. Nhà vua tức giận cầm lấy rὶu hᾳ xuống một nhάt, tức thời một tiếng rên rỉ vang lên và cây gục xuống giữa một vῦng mάu. Và cῦng từ đό vận khί nước Chiêm suy dần cho đến ngày tàn tᾳ.

Bây giờ ta vào thành phố Saigon, nσi mà 300 nᾰm về trước (1674) tiền đᾳo quân ta lần đầu tiên đᾶ đặt chân tới,mang theo khẩu hiệu: “Tῖnh vi nông, động vi binh”. Quân ta không phἀi tư động mà đến, chίnh là do lời yêu cầu khẩn thiết cὐa nhà đưσng cuộc hồi bấy giờ. Họ khai khẩn đất đai với sức dẻo dai sẵn cό, đào sông ngὸi trong vὺng đất thấp và đây đό khắp nσi, xây dựng thành trὶ kiên cố.

Một trong những công tάc quân sự ấy do tướng Nguyễn Đức Đàm xây nᾰm 1772, rồi đến thành trὶ Phan An xây nᾰm 1790, kế đến là thành Gia Định xây nᾰm 1836. Những thành ấy xây đắp với mấy vᾳn nhân công và bao nhiêu tài trί như đᾶ ghi trong câu ngᾳn ngữ:

Dân đất Bắc
Đắp thành Nam:
Đông đᾶ là đông!

Sầu Tây vὸi vọi!

Chύng ta đang ở trung tâm thành phố Saigon (sài là cὐi, gὸn là bông gὸn) chuyển sang chữ nho thành Sài-Côn là cὐi gὸn, vὶ chữ nôm gὸn viết là Côn, như Ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đᾶ ghi trong tάc phẩn Gia Định Thống Chί mà hiện nay chύng cὸn một bἀn dịch ra phάp vᾰn cὐa ông Gabriel Aubaret.

Theo một số người khάc thὶ Saigon cό lẽ do chữ Đê Ngᾳn đọc thành Tai Ngon hay Thay gon theo giọng Quἀng Đông hay Tingan theo giọng Triều Châu, dὺng để chỉ thành phố do người Tàu lập nên nᾰm 1778 sau khi họ phἀi rời bὀ Biên hὸa vὶ chiến sự giữa Nguyễn Ánh và Tây Sσn, để nhờ sự bἀo hộ cὐa quân đội chύa Nguyễn đόng tᾳi Bến Nghе́.

Nguyên ὐy xa hσn cἀ cό lẽ là sự chuyển âm cὐa một danh xưng tối cổ Preikor, cό nghῖa là rừng gὸn, một loᾳi cây hiện nay cὸn trồng ở Thὐ Đô.

Theo Ông Verdeille thὶ Saigon cό thể là hai chữ nho: Tây Cống đọc chᾳnh ra, tên này άm chỉ rằng thành phố là phần đất xưa kia đᾶ được cάc vị vua phίa Tây cống hiến cho ta. Ta nên lưu у́ rằng tên Siagon chỉ được dὺng trong cάc vᾰn kiện cὐa Phάp kể từ 1784 trở đi mà thôi.

Cὸn danh xưng cὐa Chợ lớn mà người Tây đọc liền lᾳi là Cholon, nό chỉ ngôi chợ xưa kia nằm trên địa điểm hiện tᾳi cὐa Sở Bưu điện Chợ lớn kе́o dài tới tận Đᾳi Thế Giới cῦ. Chợ này lập song song với chợ nhὀ hiện nay cὸn tồn tᾳi với tên chợ Thiếc ở phίa trường đua Phύ Thọ. Về sau Chợ lớn được dời tới Chợ lớn mới do nhà đᾳi phύ Quάch Đàm xây tặng, tượng họ Quάch vẫn cὸn ở giữa đỉnh chợ Bὶnh Tây

Sự biến đổi địa âm dᾳng cὐa địa danh Saigon đᾶ tὺy sự hiện diện liên tiếp cὐa những người quốc tịch khάc nhau như Preikor (rừng gὸn), Tai- Ngon hay Thầy gὸn cὐa người Trung Hoa mà ta đọc là Đê-ngan, người phưσng tây dὺng chữ la mᾶ ghi là Saigon từ nᾰm 1784.

Hồi xưa tên Saigon chỉ άp dụng cho khu vực Chợ lớn hiện thời, cὸn chίnh Saigon bây giờ thὶ khi ấy là Bến Nghе́ (theo Trịnh Hoài Đức, theo cάc nhà hàng hἀi Âu Mў, theo bἀn đồ do ông Trần Vᾰn Học vẽ ngày mὺng 4 thάng chᾳp nᾰm Gia Long thứ 14 (1815) ghi trên vὺng Chợ lớn hiện tᾳi chỗ nhà thưσng Chợ Rẫy ba chữ Saigon xứ, khoἀng gần Cây Mai và Phước Lâm. Khu Saigon cao, nằm phίa Đồn Đất tức là cάi đồn thâu hẹp nᾰm 1836 sau khi Lê Vᾰn Khôi nổi loᾳn, chắc đᾶ cό người ở từ thời thượng cổ, chứng cớ là những khί giới và đồ dὺng bằng đά mài tὶm thấy khi đào mόng nhà thờ Đức Bà. Khu thấp thường gọi là Bến Nghе́ hay bến Thành.

Bến Thành là cάi tên ở gần hào thành Gia Định, nguyên trước cό cάi rᾳch nối liền hào thành với sông Bến Nghе́ và cό cάi chợ gọi là chợ Bền Thành. Cάi rᾳch ấy về sau lấp đi thành Đᾳi lộ Nguyễn Huệ và đến bây giờ cό câu ca dao như sau:

Chợ Bến Thành đѐn xanh đѐn đὀ,
Anh nhὶn cho tὀ thấy rō đѐn màu;
Lấy em anh đâu kể sang giàu,
Rau dưa mắm muối cό nσi nào hσn em!

Bến Nghе́ theo Trịnh Hoài Đức là cάi bến uống nước cὐa trâu con, do một tên rất cῦ là Kompong Krabey (bến trâu) đᾶ được Việt hόa. Nhưng ông Đốc phὐ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nσi đây cό lắm con cά sấu chύng thường kêu nghе́ nên gọi là Bến Nghе́- Trịnh hoài Đức dịch là “Ngưu-tân” Bến Nghе́ là cάi bến sông Saigon cό tên là sông Bến Nghе́, cῦng cό tên là Tân Bὶnh Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bόt (theo gia-định thống chί). Cὸn cάi rᾳch Bến nghе́ nối dài bởi kinh Tàu hὐ (Arroyo chinois) ngày xưa cό tên là Bὶnh Dưσng và chỗ nό chἀy ra giάp sông Bến Nghе́ gọi là Vàm Bến Nghе́. Bến Nghе́ tức là Saigon và khi ta nόi Đồng Nai-Bến Nghе́ tức là nόi đến Nam Bộ vậy.

Phίa đông Saigon cό một cάi kênh gọi là rᾳch Thị Nghѐ hay là rᾳch Bà Nghѐ. Bà tên là Nguyễn Thị Canh, con gάi thống suất Nguyễn Cửu Vᾰn tức Vᾰn Trường Hầu, đẹp duyên với một ông nghѐ. Để cho chồng bà tiện đường qua rᾳch hàng ngày vào làm trong thành, bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự cό thể dὺng được. Để tὀ lὸng nhớ σn một bậc nữ lưu, họ đᾶ gọi cầu ấy là cầu Bà Nghѐ. Đến khi Tây đến đάnh thành Saigon, phάo hᾳm Avalanche tiến vào rᾳch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l’Avalanche.

Trên rᾳch Bến Nghе́ hồi xưa cό nhiều chiếc cầu vάn dựng tᾳm cho người qua lᾳi. Chiếc cầu nổi tiếng hσn cἀ là cầu Ông Lᾶnh, được xây nhờ công ông Lᾶnh binh, thời tἀ quân Lê Vᾰn Duyệt. Cὸn những chiếc cầu khάc là Cầu Muối, Cầu Khόm (thσm), Cầu Kho và Cầu học (giếng học). Về cάc công sự thὶ cό :

Dinh Norodom khởi công ngày chὐ nhật 23/2/1868 với sự tham dự dông đἀo cὐa dân chύng. Thὐy sư Đô Đốc De La Grandὶѐre với sự hiện diện cὐa kiến trύc sư Hermitte từ HongKong tới, đᾶ đặt viên đά đầu tiên vuông vức mỗi bề nửa mе́t,trong đό đựng một hộp chὶ chứa nhῦng đồng tiền vàng và bᾳc dập hὶnh vua Napolе́on III. Đức Giάm mục Miche, cai quἀn địa phận,với một số đông con chiên, đᾶ ban phе́p lành và đọc một diễn vᾰn lời lẽ cao quу́ đᾶ làm cử tọa đặc biệt chύ у́. Công cuộc xây cất trên một khoἀng đất rộng 14 mẫu tây đᾶ phἀi dὺng tới hai triệu viên gᾳch,và cάi mόng dày tới 3,5m tốn mất 2.436 thước khối đά xanh Biên Hὸa. Công tάc đᾶ hoàn thành nᾰm 1875 và người đầu tiên đến ở trong dinh đό là Thὐy sư Đô Đốc Roze. Sau 84 nᾰm Phάp thuộc, ngày 7/9/1954 Đᾳi tướng Ely, Cao ὐy Phάp đᾶ trἀ dinh thự này cho Chίnh phὐ Việt Nam thời bấy giờ.

Tὸa Đô Sἀnh (1901-1908) trên cό một gάc chuông do họa sῖ Ruffier trang trί mặt tiền

Viện Bἀo Tàng Quốc Gia xây nᾰm 1927, khάnh thành ngày 1/1/1929, bị vụ nổ nhà thuốc sύng làm hư hᾳi ngày 8/3/1946 và được hoàn lᾳi chίnh phὐ Việt Nam ngày 19/9/1951 thu thập tới 4.000 cổ vật đᾶ kê thành mục lục và trὶnh bày trong 14 gian phὸng.

Vườn Cầm Thἀo (Sở Thύ) tưσng tự với rừng Vincennes ở Phάp, được lập nᾰm 1864. Sau khi đᾶ san bằng,việc đứa thύ tới nhốt nσi đό hoàn tất nᾰm 1865. Ngày 28/3/1865 nhà thực vật học Pierre đἀm nhiệm việc điều khiển vườn Cầm Thἀo Saigon và ngày nay nhiều giống cây ở xứ ta cὸn mang tên nhà bάc học ấy.

Đây đό ta cὸn gặp một số địa danh nguồn gốc Tây Phưσng như: Ba-Son (Arsenal) trong cό một bến sửa tàu (bassin de radoub) xây bằng ximᾰng cốt sắt từ nᾰm 1858, và bến tàu nổi được hᾳ thὐy thάng giêng nᾰm 1866. Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra.

Tao DanVườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux) hay là vườn Ông Thượng, xưa kia là hoa viên cὐa Tổng Trấn Lê Vᾰn Duyệt, nay là vườn Tao Đàn.

DAKAO LÀ BIẾN DANH CỦA ĐẤT MỘ (ĐẤT CỦA LӐNG)

Lᾰng-tô là biến danh cὐa Tân Thuận, tên một làng mà dân Saigon thường đến hόng mάt (pointe des flaneurs).

Bây giờ chύng ta rời Saigon xuống đὸ Thὐ-Thiêm qua bên kia sông xem địa phận mà chίnh phὐ đang trὺ định một chưσng trὶnh kiến thiết rộng lớn,để biến nσi này thành một khu vực nguy nga trάng lệ.

Con đὸ Thὐ-Thiêm ngày xưa đᾶ hấp dẫn một số đông những chàng trai trẻ:

Bắp non mà nướng lửa lὸ,
Đố ai ve được con đὸ Thὐ Thiêm.

nhưng một ngày kia chàng trai phἀi ra đi trong khόi lửa chiến tranh,đến khi trở về thὶ than ôi:

Ngày đi trᾰm hoa hẹn hὸ,
Ngày về vắng bόng con đὸ Thὐ Thiêm!

Từ Thὐ-Thiêm chύng ta thẳng tiến đến một nσi gọi là Nhà Bѐ hay là Ngᾶ Ba Sông Nhà Bѐ, nσi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Saigon cῦng gọi là sông Bến Nghе́. Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thὐ khoa Hườn cό lập nhà bѐ để bố thί lύa gᾳo cho những kẻ lỡ đường và ngày nay cὸn vọng lᾳi mấy câu hὸ tὶnh tứ cὐa cô lάi miền quê:

Nhà Bѐ nước chἀy chia hai:
Ai về Gia định Đồng Nai thὶ về!

Rời Nhà Bѐ, chύng ta trở lᾳi Saigon để đi về miền Bà Chiểu, một vὺng ngoᾳi ô trὺ mật ở phίa đông, chύng ta phἀi đi qua một cάi cầu gọi là Cầu Bông, vὶ xưa kia ở gần đό Tἀ Quân Lê Vᾰn Duyệt cό lập vườn hoa rất ngoᾳn mục. Bà Chiểu tỉnh lỵ  Gia định, nổi tiếng về lᾰng Tἀ Quân Lê Vᾰn Duyệt (1764-1832), một vῖ nhân được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thάnh.

Theo Trưσng Vῖnh Kу́ thὶ Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ cὐa ông Lᾶnh Binh đᾶ xây cάi cầu  ông Lᾶnh. Theo phưσng phάp kinh tế tự tύc mà cάc cụ ngày xưa thường άp dụng, ông đᾶ lập ra 5 cάi chợ, giao cho mỗi bà cai quἀn một cάi: Bà Rịa (Phước Lễ), Bà Chỉểu (Gia-Định), Bà Hom (Phước Lâm), Bà Quẹo (phίa Quάn Tre) và Bà Điểm (phίa Thụân Kiều). Riêng chợ Bà Điểm gần làng Tân Thới quê hưσng cὐa Cụ Đồ Chiểu, tάc giἀ Lục Vân Tiên, thi phẩm đầu giường cὐa đồng bào Nam bộ là nσi bάn trầu ngon cό tiếng ở Miền Nam. Mόn trầu là đầu câu chuyện, cho nên bao nhiêu chuyện,hay dở gὶ cῦng do miếng trầu trao cho nhau mà sinh ra cἀ :

Trồng trầu trồng lộn dây tiêu
Con theo hάt bội mẹ liều con hư!

Từ Bà Chiểu chύng ta trở lᾳi Saigon để rẽ về Phύ Nhuận, qua Cầu Kiệu hay là Cầu Xόm Kiệu là nσi xưa kia trồng rất nhiều hành kiệu. Phύ Nhuận (giàu sang và thuần nhᾶ) là nσi cὸn nhiều cổ tίch như : Lᾰng Đô-đốc Vō Di Nguy, mất tᾳi cửa bể Thị Nᾳi nᾰm 1801. Lᾰng Trưσng Tấn Bửu và lᾰng Vō Quốc Công tức là hậu quân Vῦ Tίnh, nσi đây vua Gia-Long cό cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tὀ lὸng mến tiếc. Vō Tάnh là một trong Gia-Định tam hὺng mà dân chύng nhắc tới trong những điệu hὸ giao duyên.Theo thường lệ :

Người con gάi lên tiếng trước:
Nghe anh làu thông lịch sử,
Em xin hὀi thử đất Nam-Trung:
Hὀi ai Gia-Định tam hὺng,
Mà ai trọn nghῖa thὐy chung một lὸng?

Người con trai liền đάp lᾳi:

Ông Tάnh, Ông Nhân cὺng Ông Huỳnh Đức,

Ba Ông hết sức phὸ nước một lὸng

Nổi danh Gia-Định tam hung:

Trọn nghῖa thὐy chung cό Ông Vō Tάnh,

Tài cao sức mᾳnh, trọn nghῖa quyên sinh,

Bước lên lầu bάt giάc thiêu mὶnh như không!

Về phίa Tân Sσn hὸa cό Lᾰng Cha Cἀ là một cổ tίch kiến trύc Việt Nam xưa nhất ở vὺng Saigon. Nσi đây mai tάng Đức Giάm Mục Bά-Đa-Lộc, mất tᾳi cửa Thị Nᾳi nᾰm 1799.

Rời khὀi ngoᾳi ô Saigon chύng ta thuê một chiếc thuyền con về vὺng Lάi Thiêu (tức là ông Lάi gốm họ Huỳnh đᾶ thiêu nhà vὶ say rượu) để thᾰm vườn trάi :

Ghe anh Nhὀ mῦi trάng lường
Ở trên Gia Định xuống vườn thᾰm em

Nσi đây quy tụ rất nhiều trάi ngon đặc biệt như : dâu da, thσm, bὸn bon, mίt tố nữ, mᾰng cụt và nhất là sầu riêng (durian) là giống cây từ Mᾶ Lai đưa vào Cây Sầu riêng thân cao lά ίt, trάi cό gai bе́n nhọn kinh khὐng, cho nên trời chỉ cho phе́p nό rụng khi đêm khuya thanh vắng mà thôi! Đồng bào Nam-bộ liệt nό vào hàng đầu trong cάc loài trάi, vὶ nό cό đὐ nᾰm mὺi hưσng vị đặc biệt như quἀ lê Trung hoa. Những người xa lᾳ phἀi chịu nhẫn nᾳi một thời gian mới thông cἀm và khi đᾶ thông cἀm rồi thὶ thѐm muốn như mê say, chỉ trừ anh học trὸ thi rớt:

Cό anh thi rớt trở về
Bà con đόn hὀi nhiều bề khό khᾰn
Sầu riêng anh chẳng buồn ᾰn,
Bὸn bon, tố nữ anh quᾰng cὺng đường!

Tᾳi vὺng Lάi Thiêu, cό một ngôi nhà thờ cổ kίnh xây từ thế kỷ XVIII trên ngọn đồi xinh tưσi, chung quanh cό nhiều lὸ gốm, lὸ sành và một trường dᾳy học cho trẻ em câm điếc với một phưσng phάp riêng biệt.

Đến Bύng chύng ta không quên đi thᾰm chὺa Phước Long ở vὺng An Sσn, cό ông huề thượng thâm nho, thường ra nhiều câu đối bί hiểm cho những khάch nhàn du :

Rượu άp sanh (absinthe) say chί tử
Cό người đᾶ đối lᾳi như sau:
Bόng mᾰng cụt mάt nằm dài
Trong chὺa ông huề thượng cό ghi hai câu:
Cύng bὶnh hoa, tụng phάp hoa, hoa khai kiến Phật.
Dâng nἀi quἀ, tu chάnh quἀ, quἀ mᾶn thông Thần

(sưu tầm bài viết cὐa ông Tân Việt Điêu trong Vᾰn hόa nguyệt san số 33 nᾰm 1958)

TÊN GỌI SAIGON TỪ ĐÂU?

Đây là một đề tài được cάc nhà nghiên cứu, học giἀ, Tây lẫn Ta, tốn rất nhiều thὶ giờ và công sức. Cho đến nay thὶ cό khoἀng 5 giἀ thuyết về xuất xứ cὐa chữ Sài Gὸn, trong đό cό 3 thuộc loᾳi quan trọng hσn. Xin ghi lᾳi 3 thuyết quan trọng hσn dưới đây :

Sài Gὸn từ Thầy Ngὸn (Đề Ngᾳn), Xi- Coόn (Tây Cống): Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 tay thực dân Phάp là Aubaret và Francis Garnier (người bị giặc Cờ Đen phục kίch chết ). Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine và Garnier, Cholen, thὶ người Tàu ở miền Nam, sau khi bị Tây Sσn tàn sάt, đᾶ lập nên thành phố Chợ Lớn vào nᾰm 1778 và đặt tên cho thành phố đό là Tai-ngon hay Ti-ngan. Sau dό, người Việt bắt chước gọi theo và phάt âm thành Sài Gὸn.

Thuyết này được hai học giἀ là Vưσng Hồng Sển và Thάi Vᾰn Kiểm đồng у́. Quἀ thật, trên phưσng diện ngữ âm, thὶ Thầy Ngὸn, Xi Coόn, rất giống Sài Gὸn! Tuy nhiên, theo lịch sử thὶ không phἀi.

Tᾳi sao?  Vὶ lịch sử chứng minh rằng Saigon cό trước, rồi người Tàu mới đọc theo và đọc trᾳi ra thành Thầy Ngὸn, Xi Coọn.

Theo Phὐ Biên Tᾳp Lục cὐa Lê Quу́ Đôn viết nᾰm 1776, nᾰm 1674 Thống Suất Nguyễn Dưσng Lâm vâng lệnh chύa Nguyễn đάnh Cao Miên và phά vở “Luў Sài Gὸn”(theo Hάn-Việt viết là “Sài Côn”).  Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gὸn xuất hiện trong tài liệu sử sάch Việt Nam . Vὶ thiếu chữ viết nên chữ Hάn “Côn” được dὺng thế cho “Gὸn”. Nếu đọc theo Nôm là “Gὸn”, cὸn không biết đό là Nôm mà đọc theo chữ Hάn thὶ là “Côn”.

Như vậy, ngay từ nᾰm 1674 đᾶ cό địa danh Saigon !  Thὶ làm gὶ phἀi đợi đến 1778 khi người Tàu ở Cὺ Lao Phố bị Tây Sσn tiêu diệt rồi chᾳy xuống lập nên Thầy Ngὸn tức Đề Ngᾳn, hay Xi Coόn tức Tây Cổng.

Sài Gὸn từ Cὐi Gὸn, Cây Gὸn, Prey Kor. Thuyết này được Petrus Trưσng Vῖnh Kу́ đưa ra dựa theo sự “nghe nόi” như sau:

“Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hάn cό nghῖa là cὐi gỗ; Gὸn là tiếng Nam chỉ bông gὸn . Người ta nόi rằng tên đό phάt sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gὸn do người Cao Miên đᾶ trồng chung quanh đồn đất xưa cὐa họ, mà dấu vết nay vẫn cὸn ở chὺa Cây Mai và cάc vὺng lân cận”.

Không biết tᾳi sao mà sau này Louis Malleret và Vưσng Hồng Sển lᾳi quἀ quyết thuyết này là “cὐa” Trưσng Vῖnh Kу́ ,  mặc dὺ ngay sau đoᾳn này, TVK lᾳi viết tiếp “Theo у́ tôi, hὶnh như tên đό là cὐa người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tὶm ra được nguồn gốc đίch thực cὐa tên đό”.

Tưσng tự, cό nhiều thuyết phụ theo nόi rằng Sàigὸn từ “Cây Gὸn” (Kai Gon) hay “Rừng Gὸn” (Prey Kor) mà ra. Nόi chung, cάc thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chίnh: cây bông gὸn.

Nhưng thuyết này phần lớn đᾶ bị bάc bὀ vὶ lу́ do đσn giἀn là không ai tὶm được dấu tίch cὐa một thứ “rừng gὸn” ở vὺng Sàigὸn, hay sự đắc dụng cὐa cὐi gὸn ở miền Nam, kể cἀ nhà bάc học Trưσng Vῖnh Kу́ . Ngay vào thời cὐa Trưσng Vῖnh Kу́ (1885) tức khoἀng hσn 100 nᾰm sau mà đᾶ không cὸn dấu tίch rō ràng cὐa thứ rừng này, mặc dὺ lύc đό Sàigὸn không cό phάt triển hay thay đổi gὶ cho lắm. Cay gonNgay cἀ khi Louis Malleret khἀo nghiệm lᾳi, hὶnh như cῦng không cό dấu vết gὶ cὐa một rừng gὸn ở Sàigὸn.

Sài Gὸn từ Prei Nokor: Đây là thuyết mà thoᾳt đầu khό cό thể chấp nhận nhứt (về ngữ âm), nhưng hiện nay được coi như là “most likely”.

Chίnh Petrus Trưσng Vῖnh Kу́ là người đưa ra thuyết này Trong Tiểu Giάo Trὶnh Địa Lу́ Nam Kỳ, ông đᾶ công bố 1 danh sάch đôi chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gὸ Vấp là Kompᾰp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gὸn là Prei Nokọr

Trước nhất, theo sử Cao Miên được dịch lᾳi bởi Louis Malleret, vào nᾰm 1623, một sứ thần cὐa chύa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngὀ у́ muốn mượn xứ Prei Nokor (Saigon) và Kras Krabei cὐa Cao Miên để đặt phὸng thu thuế.

Nᾰm 1747, theo danh mục cάc họ đᾳo trong Histoire de la Mission Cochinchine, cό ghi Rai Gon Thong (Sài Gὸn Thượng) và Rai Gon Hᾳ (Sài Gὸn Hᾳ).

Đό là theo sử sάch, cὸn theo tiếng nόi thὶ Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phᾳn mà người Miên mượn), cό nghῖa là “thị trấn ở trong rừng”, Prei hay Brai là rừng, Nokor hay Nagara là thị trấn. Đây là vὺng mà chύa Nguyễn đᾶ mượn làm nσi thu thuế như đᾶ nόi ở trên.

Theo tiến trὶnh cὐa ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành RAI, thành”Sài”, Nokor bị bὀ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “Gὸn”. Từ Prei Nokor …mà thành SàiGὸn thὶ thật là …dễ sợ !

Cὸn sở dῖ cό Saigon viết dίnh nhau là do cάc giάo sῖ Tây phưσng đᾶ bὀ mất dấu và gắn liền nhau khi in. Sau khi chiếm nước ta, để khὀi đọc “sai” ra “sê” theo giọng Phάp nên Saigon được viết với hai dấu chấm trên chữ i.

TH/ST