Đọc khoἀng: 30 phύt

Tin người đỗ đưa về làng, hưσng chức, dân làng họp ở đὶnh, cắt cử người ra gập Tân khoa để ấn định ngày vinh quy, rước về nguyên quάn. Thường thὶ đỗ Tύ tài chỉ làng xᾶ rước, đỗ Cử nhân hàng huyện phἀi rước, đỗ Tiến sῖ thὶ hưσng lу́, trai trάng hàng tổng đem đὐ nghi lễ, cờ quᾳt đόn từ tỉnh rước về làng (những người trong họ quan Tân khoa được miễn làm phu phen đi rước). Theo Ngô Tất Tố thὶ thời nhà Lê, đỗ Tiến sῖ dân phἀi đem cờ quᾳt đến tận Kẻ chợ (Thᾰng-long) đόn rước, nhưng từ thời vua Gia-Long trở đi, Kẻ chợ dời vào Thuận-hόa (Huế), người Bắc tới đό xa quά, bắt cἀ tổng phἀi đi rước sợ làm phiền dân, nên chỉ bắt rước từ tỉnh nhà về mà thôi (1).

Bἀn hưσng ước cάc làng quy định mỗi khi làng cό người đỗ đᾳt phἀi tὺy theo học vị mà cắt dân phu đi đόn rước, ίt nhất là 50 người, nhiều đến vài trᾰm để khiêng kiệu, lọng, bồi ngựa cho ông Tân khoa, cho cἀ bố mẹ và vợ ông Tân khoa. Lᾳi cὸn phἀi chuẩn bị lễ mừng : câu đối, trướng, lễ vật cὐa hàng xᾶ, hàng huyện, hàng tỉnh, không kể cὐa bᾳn hữu thân thuộc.

Dọc đường vinh quy, dân chύng đặt hưσng άn bάi vọng, đὐ cἀ hưσng hoa, đѐn nến v.v…

* Vōng ngựa – Lύc đầu Tân khoa vinh quy cưỡi ngựa trᾳm, đến 1901, Cao Xuân Dục xin cho cἀ Phό bἀng cῦng được ngựa trᾳm đưa về chứng tὀ, trên nguyên tắc, cάc Tân khoa vẫn cưỡi ngựa vinh quy. Tuy nhiên, Trần Tiến kể rằng Phᾳm Quу́ Thίch (1759-1825) lᾳi cưỡi voi : 20 tuỗi đỗ Tiến sῖ niên hiệu Cἀnh-hưng 40 (khoa 1779), đάng lẽ đỗ đầu, hiềm vὶ trẻ quά quan trường định đάnh hὀng (2), đợi khoa sau mới cho đỗ thὐ khoa. Rύt cục, họ Phᾳm được lấy đỗ thứ nhὶ (đύng ra là đỗ thứ ba, sau Lê Huy Trân và Phᾳm Nguyễn Du), người đỗ đầu là Ðặng Ðiền, tuổi gấp đôi. Khi hai vợ chồng cưỡi voi vinh quy, quά trẻ nên ai cῦng trầm trồ (3).

Rồi không biết từ bao giờ cάc Tân khoa lᾳi đi vōng (“Vōng anh đi trước, vōng nàng theo sau”), phἀi chᾰng vὶ cό những ông Tân khoa “trόi gà không chặt” không biết cưỡi ngựa ?

Huỳnh Côn (1849- ? ) đỗ Phό bἀng khoa 1877, thuật chuyện khi đỗ Cử nhân đᾶ vinh quy, không cưỡi ngựa, đi vōng như thường tὶnh, mà lᾳi đi bằng thuyền :” Tôi vinh quy bằng bốn chiếc thuyền tam bἀn, cắm cờ xί rực rỡ, mẹ tôi ngồi trong một chiếc thuyền ấy để ra đόn tôi (4).

Thời Phάp thuộc, theo Nguyễn Vў, Tuấn, chàng trai nước Việt, cάc nhà Tân học cῦng bắt chước lệ thi đỗ vinh quy : đỗ bằng Tiểu học (Certificat d’Etudes Primaires) thὶ rước bằng xe kе́o, đỗ Cao đẳng Tiểu học Phάp-Việt (Diplôme d’Etudes Primaires Supе́rieures Franco-Indigѐne) thὶ đi cάng, Nghe nόi cό người thi đỗ Tύ tài tây cὸn vinh quy bằng ô-tô.

* Lọng che – Tἀ cἀnh quan Trᾳng vinh quy, Nguyễn Bίnh viết : Quan Trᾳng đi bốn lọng vàng… (5)

Nhà thσ cao hứng đᾶ đưa ra hai chi tiết không chίnh xάc : “bốn” lọng và lọng “vàng” bởi vὶ, cάc ông Nghѐ Tân khoa, dὺ đỗ Trᾳng, lύc vinh quy chỉ được che hai lọng xanh, phἀi làm quan tới nhất phẩm mới được đi bốn lọng xanh, cὸn lọng vàng dành riêng cho vua.

I – VINH QUY

A- THỜI NHÀ LÊ

Không rō nước ta bắt đầu cό vinh quy từ bao giờ, chỉ bὶết bia khoa 1442 (khoa đầu tiên cό dựng bia) cho thấy vinh quy lύc ấy đᾶ thành lệ :

1442 Ngày 3 thάng 3 xướng danh, 9/3 bọn Nguyễn Trực từ giᾶ bệ ngọc, vinh quy. Cho ngựa trᾳm đưa Tân khoa về làng.

1481 Mᾶ cứu ty (ty nuôi ngựa) kе́n ngựa tốt đưa Trᾳng nguyên về vinh quy.

1529 24/2 Truyền lô, bἀng vàng yết ở cửa nhà Thάi học ; 7/3 cho vinh quy và ban tiền theo thứ bậc.

1656 Cuối xuân, kỳ thi lớn mở, gần 3000 người dự thi, chỉ cό 6 người được ghi tên vào sổ mực nhᾳt (6). Truyền lô, yết bἀng ở nhà Thάi học, ban mῦ άo, yến Quỳnh, cành hoa bᾳc, cưỡi ngựa xem hoa, vinh quy quê quάn.

* NGHI THỨC VINH QUY

Theo lễ giάo cὐa Nho gia (“Quân, Sư, Phụ”) thὶ trong đάm rước vōng Thầy học đi trước vōng cha mẹ (cha mẹ chỉ cό công sinh dưỡng, Thầy mới là người đào tᾳo cho nên người hữu dụng) rồi mới tới vōng quan Nghѐ, sau cὺng là vōng bà Nghѐ. Nhưng trên thực tế chuyện “vōng nàng theo sau” cό khi cῦng bὀ : Tưσng truyền khi Tam nguyên Yên Ðổ vinh quy thὶ phu nhân cὸn bận đi cấy lύa thuê, chồng về đến làng cῦng không biết (7).

Thứ bậc trước sau trong đάm rước rất quan trọng. Sau đây là mấy giai thoᾳi về chuyện vinh quy tranh nhau đi trước :

– Khoa Ðinh Sửu (1757) Phᾳm Tiến đỗ, cό nhà giầu gἀ con gάi cho, giao ước xin chịu hết phί tổn lύc vinh quy. Khi vinh quy, cô con nhà giầu tranh đi trước bà vợ cἀ. Bà cἀ thưa vào trong triều, triều bắt lỗi ông Nghѐ, đὶnh việc cất nhắc (8).

Cῦng về khoa này Tục Biên chе́p : “Khoa 1757 ngày vinh quy, Bὺi Ðὶnh Dự, Phᾳm Tiến, Phᾳm Huy Cσ vợ con tranh đường, đều cho về học hὀi, mὺa đông nᾰm sau mới cho tiến triều bổ dụng” (9).

– Khoa Nhâm Thὶn (1772) Vō Tôn Diễm, Nguyễn Bά Tôn cὺng đỗ, Lê Quу́ Ðôn đều gἀ chάu gάi cho. Về sau vợ cἀ vợ lẽ Vō Tôn Diễm không chịu nhường nhau mới phân ra hai nhà. Cὸn người vợ cἀ Nguyễn Bά Tôn không đάnh đổ được người vợ lẽ tức giận thành chứng điên. Cuối nᾰm Cἀnh-hưng cό truyền chỉ ra cấm hẳn, từ nᾰm Mậu Tuất (1778) cάi tệ ấy mới bớt dần đi (10).

– Sάch Tiệp Kу́ cὐa Vῦ Phưσng Ðề ghi truyện Phᾳm Trấn, Ðỗ Uông vinh quy tranh nhau đi trước : Khoa Bίnh Thὶn (1556) đời Mᾳc Phύc Nguyên, cἀ hai cὺng 34 tuổi, Uông giὀi hσn nhưng vào thi bị đau bụng không đὐ thὶ giờ làm vᾰn, Trấn đỗ Trᾳng nguyên, Uông không phục, khi vinh quy cho ngựa đi ngang hàng chứ không chịu kе́m. Ðến chợ Bồng-khê, dân xin hai ông một bài thσ vịnh cάi cầu làm kỷ niệm. Hai người thάch nhau làm thσ xem ai xong trước. Cầu cό 10 gian, giao hẹn qua 7 gian phἀi xong, mỗi câu thσ phἀi cό tên một giống cầm, ai xong trước được đi trước. Trấn xong trước nhưng Uông không chịu, cho là thσ làm sẵn từ trước, vẫn cứ đi ngang hàng. Về đến xᾶ Minh-luân cό người mới xây nhà xin chữ để ᾰn mừng.

Trấn ứng khẩu đọc ngay câu mừng nhưng Uông lᾳi chê là dὺng toàn lời tάn tụng, sάo rỗng, không phục. Qua xᾶ Ðoàn-luân, sắp bước sang cầu Phύ-cốc, trong cầu cό cô gάi bάn hàng tên là Loan, hai người lᾳi thάch nhau làm thσ Ðường luật quốc âm (tức Hàn luật), đề tài là “Cô Loan bάn hàng cầu Cốc”, qua cầu thσ phἀi xong, mỗi câu thσ phἀi cό tên hai giống chim. Trấn lᾳi ứng khẩu xong ngay 8 câu thσ, bấy giờ Uông mới chịu nhường cho Trấn đi trước, tin là Trấn được quỷ thần phὺ trợ (11).

Phᾳm Ðὶnh Hổ thὶ kể rằng Phᾳm Trấn, người làng Lam-cầu, học lực không bằng Ðỗ Uông, người làng Ðoàn Tὺng, nhưng đi thi lᾳi đỗ đầu. Tưσng truyền khi Phᾳm Trấn đỗ Trᾳng vinh quy, cό đắp một con đường từ phίa Nam làng Minh-luân đến thẳng làng Lam-cầu, nay (thời Phᾳm Ðὶnh Hổ) vẫn cὸn gọi là “con đường Trᾳng nguyên” (12).

B- THỜI NHÀ NGUYỄN

1822 Ngay từ khoa thi Hội đầu tiên này đᾶ cό ngựa trᾳm đưa người đỗ Nhất giάp về nhà. Ðịnh hᾳn cho vinh quy 2 thάng ở quê.

1851 Chuẩn cho Nhị giάp, Tam giάp đều được ngựa trᾳm đưa về.

1901 Cao Xuân Dục xin cho Phό Bἀng cῦng được ngựa trᾳm đưa về.

II – KHAO VỌNG

Về đến làng, kỳ mục và dân làng ra đόn tận cổng làng, đưa về nhà. Ðến nhà, Tân khoa làm lễ bάi tổ rồi ra đὶnh miếu lễ, giết trâu mổ bὸ, dựng rᾳp hάt chѐo… để ᾰn khao hàng bốn, nᾰm ngày. Ðầu thế kỷ XX, Lᾶng Nhân cὸn chе́p : “Cό việc khao khoάn to, chὐ nhân thường phἀi mời một nhà khoa bἀng hàng huyện về “đόng đάm” để chỉ bἀo nghi lễ tế tự, thὺ tiếp” (13).

Nếu không khao theo tục lệ thὶ làng không công nhận cho nên nhiều người phἀi đi vay để khao làng xόm. Một ông Tiến sῖ vinh quy tất phἀi ᾰn khao linh đὶnh nên không thiếu gὶ người mang công mắc nợ. Từ tệ tục đό mới sinh ra thόi nhà giầu “mua rể”, Trong “Mẹo lừa”,Vῦ Trung Tὺy Bύt, Phᾳm Ðὶnh Hổ kể chuyện khoa 1772, cό một nhà giầu ở phố Hàng Chiếu Ðông-hà, vὶ quά hâm mộ rể cό danh vọng nên đᾶ bị một tên gian manh lừa bịp, mᾳo nhận đᾶ Trύng cάch nhưng chưa cό tiền vinh quy, nhà giầu hứa chịu hết phί tổn hộ, gἀ con gάi cho, nhưng tới ngày công bố kết quἀ kỳ thi thὶ tên gian manh bὀ trốn biệt.

Vua Gia-Long biết những tệ tục ấy đᾶ phἀi ra sắc chỉ giἀm bớt lệ khao vọng. Thực lục chе́p : “1804 Khi cό người trύng khoa trường hay được ban sắc mệnh, người làng vin tục lệ ấy đὸi thết đᾶi cỗ bàn ᾰn uống mấy phen, gọi là “nợ miệng”. Ðền xong khoάn lệ cὐa làng thὶ mất hết gia tài. Từ nay về sau, cάc lễ vui mừng lớn thὶ cho dὺng xôi lợn, hoặc nộp ba quan tiền thay, việc nhὀ thὶ cho dὺng xôi gà hay nộp một quan sάu tiền” (14).

III – NHŨNG ĐẶC QUYỀN CỦA ÔNG NGHÈ

1 – LỆ CẮM ĐẤT

Bἀn hưσng ước cάc làng quy định mỗi khi làng cό người đỗ đᾳt phἀi cắt đất làm nhà cho Tân khoa. Ðịa điểm phἀi được Tân khoa đồng у́, Tân khoa chọn đâu dân làng phἀi theo, ông cό quyền chọn một miếng đất bất cứ chỗ nào trong tổng, để cất nhà, thường là một ngôi nhà ngόi ba gian. Cἀ dân bἀn tổng phἀi làm nhà cho ông Nghѐ nên ta cό câu : “Hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà”.

Cό người chưa đỗ đᾶ đάnh tiếng chiếm chỗ này, tranh nhà khάc cho nên dân chύng mới phàn nàn : “Chưa đỗ ông Nghѐ đᾶ đe hàng tổng !”. Thật ra, cῦng cό những ông Nghѐ không tham lam : Tiến sῖ Chu Doᾶn Lệ đỗ khoa 1778, miễn cho hàng tổng không phἀi dựng nhà, lύc làm Tri huyện rất thưσng dân nên khi ông hàm oan, bị giam ở Thᾰng-long, dân huyện Thanh-oai kе́o ra Kẻ chợ đάnh trống Phὐ Chύa xin tha ông (15). Tuyết Huy cῦng kể chuyện Phᾳm Khiêm Ích đỗ Ðông cάc, thưσng dân không bắt làm nhà nên được dân phụng thờ làm hậu thần (16).

2 – NGƯỜI TÙY HÀNH

Nᾰm 1736 chύa Trịnh Giang chuẩn cấp tὺy hành dân xᾶ :

Tiến sῖ được 35 người
Hoàng giάp 40 người

Thάm hoa 45 người

Bᾶng nhᾶn 50 người

Trᾳng nguyên 55 người (17).

IV – BỔ DỤNG

Ở Trung quốc, đời Minh :
Trᾳng nguyên bổ làm Hàn lâm viện Tu soᾳn
Bἀng nhᾶn, Thάm hoa bổ làm Hàn lâm viện Biên tu

Ðồng Tiến sῖ bổ làm Hàn lâm viện Tri huyện (18).

Ở Việt-Nam tuy đi thi không hᾳn tuổi song những người đỗ quά trẻ thường bắt học thêm mấy nᾰm mới bổ dụng, những ông Tân khoa hᾳnh kiểm xấu thὶ phᾳt không cho ra làm quan ngay.

A- TRƯỚC THỜI NGUYỀN

– NHÀ LÝ

1075 Mở khoa thi Tam trường, kе́n người Minh kinh Bάc học cho giữ việc quân, việc dân, hoặc bổ vào Quốc tử giάm.

1086 Thi những người cό vᾰn học, bổ làm quan ở Hàn lâm viện.

1185 Thi học trὸ 15 tuổi trở lên, ai thông Kinh Thi, Kinh Thư được vào hầu Ngự diên (nσi giἀng sάch cho vua).

1195 Thi Tam giάo, cho đỗ xuất thân (ra làm quan) (19).

– NHÀ TRẦN

1247 Ðời Trần Thάi Tông, Nguyễn Hiền, người xᾶ Dưσng-a, huyện Thượng-huyền, tỉnh Nam-định, mới 13 tuổi đỗ Trᾳng nguyên, vua thấy cὸn nhὀ, cho về quê ba nᾰm để học lễ chứ không bổ dụng ngay.

1305 :

Trᾳng nguyên bổ Thάi học sinh hὀa dῦng thὐ, sung chức nội thư gia ;
Bἀng nhᾶn bổ Chi hậu bᾳ thư, cό mᾳo sam (mῦ άo), sung chức nội lệnh thư gia ;

Thάm hoa bổ Hiệu thư, cό quyền miện (mῦ) và được 2 tư (20).

– NHÀ LÊ

Lê Quу́ Ðôn viết rằng niên hiệu Hồng-đức (1470-97), sau khi yết bἀng mỗi khoa, viên Thị lang bộ Lᾳi cᾰn cứ vào đấy mà tư giao Ty Thuyên khἀo, Ty này viết đὐ quan hàm đề tâu, do Ty Thông chίnh dâng nộp, phụng mệnh cử hành lễ Khâm ban ở ngoài cửa Ðoan-môn, cάc Tiến sῖ lᾳi đến Phὐ đường cử hành lễ Phụng ban.

Tiến sῖ vinh quy rồi lᾳi trở về Kinh, lύc ấy triều đὶnh mới bἀo cử trao cho quan chức. Lần đầu :

Trᾳng nguyên chức Thị giἀng
Bἀng nhᾶn chức Thị thư

Thάm hoa chức Thị chế

Hoàng giάp chức Hiệu lу́.

Cὸn Tiến sῖ thὶ từ Trung hưng bắt đầu trao chức Giάm sάt, đến đời Bἀo-thάi (1720-29) lᾳi theo chế độ cῦ, trao chức Cấp sự trung, người ίt tuổi nhất trao chức Hiệu thἀo (21).

1449 Giάm sinh được bổ làm quan huyện.

1472 Ðịnh tư cάch cάc Tiến sῖ :

Trᾳng nguyên hàm Chάnh lục phẩm, 8 tư
Bἀng nhᾶn hàm Tὺng lục phẩm 7 tư

Thάm hoa hàm Chάnh thất phẩm 6 tư

Nhị giάp hàm Tὺng thất phẩm 5 tư

Tam giάp hàm Chάnh bάt phẩm 4 tư.

Lύc đầu bổ vào viện Hàn lâm được gia một cấp, sau đề bᾳt Giάm sάt Ngự sử, Tri huyện (22).
1496 Hễ Hiến ty cό khuyết, chọn ai thi Hội trύng trường, ngay thẳng, chᾰm việc, không phᾳm lỗi thὶ bổ chức Hiến sάt Phό sứ.

Cάc Giάm sinh, nho sinh, thuộc lᾳi cάc nha môn, thi Hội nhiều lần trύng trường, siêng nᾰng, mẫn cάn, thὶ bổ cάc chức Tri châu, Huyện thừa, Thὐ lῖnh, Tự ban. Làm đὐ ba nᾰm mới cho thực thụ. Ðược 6 nᾰm không cό lỗi thὶ Tri huyện thᾰng lên Viên ngoᾳi lang, Huyện thừa, Tư bᾳ thᾰng chức Tư vụ, Chὐ sự. 6 lần khἀo khόa không phᾳm lỗi thὶ Viên ngoᾳi lang, Ðồng Tri phὐ mới thᾰng Tri phὐ.

Chức Huấn đᾳo cάc xứ cό khuyết thὶ Lᾳi bộ tâu lên rồi gửi sang Quốc tử giάm và cάc nha môn để chọn bἀo cử cάc thuộc lᾳi, nho sinh cό trύng trường, cό học hᾳnh, gửi sang Lễ bộ sάt hᾳch bốn trường, hợp cάch thὶ tuyển bổ như lệ (23).

Cάc chức Cấp sự trung và Giάm sάt Ngự sử : Lᾳi bộ chọn cάc quan do Tiến sῖ xuất thân, thanh liêm, siêng nᾰng, ngay thẳng, thὶ tᾳm bổ. Một nᾰm làm nổi thὶ cho lưu nhiệm.

Thời Quang-thuận, Hồng-đức : Cάc Tiến sῖ được bổ chức Lang trung, Viên ngoᾳi 6 bộ, Hiến Phό cάc xứ ; từ Trung-hưng Tiến sῖ không bổ vào chức thuộc viên (24).

1674 Là con cάc quan tam phẩm trở lên, thi Hưσng trύng thức, thi Hội trύng trường, thὶ bổ cάc chức Tự thừa, Tư vụ ở bộ Lᾳi vᾰ bộ Hộ. Ðὐ niên hᾳn thᾰng Viên ngoᾳi, Thông thừa (quan trong), Tri phὐ (quan ngoài). Ðὐ niên hᾳn và xứng chức quan trong thᾰng Lang trung, Thiếu khanh, Thiêm sự, Phὐ doᾶn sứ, quan ngoài thᾰng Hiến Phό ; lᾳi đὐ niên hᾳn, xứng chức, đều thᾰng Tham nghị cάc xứ (25).

1721 Bốn thάng trọng (thἀng giữa cὐa mỗi mὺa), quan ở Quốc tử giάm khἀo hᾳch Giάm sinh và Cử nhân, bốn khόa trύng tuyển thὶ cho quan Quốc tử giάm bἀo cử để bộ Lᾳi bổ dụng. Những người đỗ khoa Sῖ vọng hᾳng ưu thᾰng Thiếu khanh, ưu trung Viên ngoᾳi, hᾳng trung trở lên bổ Tri huyện. Phύc hᾳch lᾳi Trύng cάch thᾰng Huyện thừa (26).

* Lê Quу́ Ðôn nhận xе́t :”Bἀn triều từ Trung-hưng đᾶi ngộ người đỗ khoa Tiến sῖ rất hậu, bổ dụng rất cao :

1- Ban cho mῦ άo, cân đai, triều phục, cho vinh quy về quê hưσng cό đὐ cờ quᾳt, nghi trượng,phường trống và phường nhᾳc đόn rước ;

2- Viên quan cό trάch nhiệm trước hết bắt dân làng dựng phὐ đệ cho Tiến sῖ ;

3- Không những người đỗ Tam khôi được bổ vào viện Hàn lâm mà cἀ người đỗ Ðồng Tiến sῖ cῦng được bổ chức quan trong cάc khoa, cάc đᾳo, không phἀi bổ làm quan ở phὐ hay huyện ;

4- Trong mỗi khoa, một người đỗ trẻ tuổi được bổ chức Hiệu thἀo ;

5- Người nào bổ ở ngoài cάc trấn thὶ bổ vào hai Ty Thừa chίnh hoặc Hiến sάt, đều trao cho chức Chưởng ấn chίnh thức, không phἀi giữ chức Tά nhị.

Nᾰm ân điển này, so với việc đặt khoa mục ở Trung quốc từ xưa đến nay chưa từng cό” (27).

B- THỜI NHÀ NGUYỄN

1835 Dụ : Tiến sῖ dưới 20 tuổi sẽ cho lưσng hàng thất phẩm, ở lᾳi nhà Giάm học, đợi 1, 2 nᾰm thành tài sẽ dὺng.

1844
Trước kia bổ ở Kinh :

Nhị giάp, Tam giάp sσ thụ Hàn lâm viện Tu soᾳn, Biên tu
Phό bἀng sσ thụ Kiểm thἀo

Bổ ở ngoài :
Tiến sῖ thᾰng Thụ Tri phὐ hoặc Thự Tri phὐ
Phό bἀng thᾰng Thụ Ðồng Tri phὐ hoặc Thự Ðồng Tri phὐ.

Chuẩn cho từ nay :
Nhất giάp đợi chọn dὺng hay đặc chỉ bổ dụng
Nhị giάp Hàn lâm Tu soᾳn

Tam giάp Hàn lâm Biên tu

bổ làm việc cάc nha môn một nᾰm, hσi quen việc chίnh trị, xuất sắc, mẫn cάn, thὶ đợi chỉ, cό chỗ khuyết thὶ bổ :
Nhị giάp thᾰng bổ ngay Tri phὐ
Tam giάp thᾰng hàm Chὐ sự, bổ Thự Tri phὐ

Phό bἀng thᾰng hàm Tri huyện, bổ Thự Ðồng Tri phὐ hay Tri huyện đầu hᾳng (28).

1855 Từ nay những Tiến sῖ, Phό bἀng hàm viện Hàn lâm đὐ một nᾰm thὶ do bộ Lᾳi phάi đi làm Hậu bổ. Ði Hậu bổ được một nᾰm thὶ chiểu lệ xе́t bổ chỗ khuyết làm Phὐ, Huyện hoặc chuyển bổ chức khάc.
Cάc Phό bἀng trước được bổ Thự Ðồng Tri phὐ hoặc Tri huyện nay chuẩn cho được bổ Ðồng Tri phὐ hoặc Hàm Ðồng Tri, mà vẫn lᾶnh chức Tri huyện nào to đứng đầu cάc huyện, hoặc Quyền huyện (29).

– Ðịnh lệ tuyển cử ngành Học quan : Từ nay cάc chức Ðốc học, Giάo thụ, Huấn đᾳo cό khuyết thὶ cho phе́p cάc viên hiện tᾳi chức từ thất phẩm trở lên, cὺng cάc Tiến sῖ, Phό bἀng, Cử nhân chưa từng bổ thụ và nhân viên đᾶ về hưu hay bị giάng chức, hoặc người cό tuổi cao tự yên phận ở nhà mà cόhọc hᾳnh thὶ do cάc Thượng Ty ấy và cάc quan địa phưσng đề cử, do bộ Lᾳi kê khai danh sάch (30).

1856 Vua dụ : Nhà nước mở khoa thi là muốn thu dὺng nhân tài. Gần đây cάc quan trong sάu Bộ và cάc Ty do khoa mục xuất thân thấy cό ίt. Ta nghῖ làm người học trὸ mười nᾰm đѐn sάch may mà đỗ thi Hưσng, cό tài đợi dὺng. Thế mà Cử nhân cάc khoa phἀi đi thi Hội dự cό phân số mới được bổ làm chức nhà giάo ; lᾳi phἀi sάt hᾳch được hᾳng bὶnh mới được thᾰng bổ làm Tri huyện, Tri châu. Nếu không như thế thὶ suốt đời không được tiến thân.

(…) Từ nay Cử nhân thi Hội dự cό phân số nên bổ giάo chức. Người nào dự cό phân số mà tuổi chưa đến 40 chiểu theo hàm nên được bổ, đổi bổ làm chίnh chức, phάi theo Bộ, Viện Thừa biện công việc. Những người nào khoa trước đᾶ bổ làm giάo chức mà tuổi cὸn ὶt thὶ chuẩn cho do quan Thượng Ty ở địa phưσng tâu xin rύt về theo làm Thừa biện ở Bộ, Viện. Nếu bổ không hết chỗ khuyết thὶ doquan bộ Lᾳi chọn lấy những người đᾶ bổ chức hàm tὸng bάt phẩm Thừa biện, người nào tuổi đᾶ 40 trở lên đều chiếu theo khoa đỗ trước, sau tâu xin sung bổ để giύp việc giἀng dậy. Ghi làm lệ (31).

– Chuẩn lệ cấp lưσng cho Tiến sῖ, Phό bἀng Tân khoa. Trước kia Tiến sῖ mới đỗ theo lệ cho viện hàm, ở lᾳi Sử quάn ba nᾰm đọc sάch, tập vᾰn chưσng, chίnh sự. Ðến đây mỗi thάng cấp cho :

Bἀng nhᾶn bổ hàm Thị giἀng, mỗi viên ngân chiết 5 quan tiền
Thάm hoa bổ Trước tάc 4 quan 5 tiền

Hoàng giάp bổ Tu soᾳn 4 quan 5 tiền

Tam giάp bổ Biên tu 3 quan 5 tiền

Phό bἀng bổ Kiểm thἀo 3 quan 5 tiền.

Dầu đốt cho mỗi viên ba cân (32).

1865 Ðịnh lᾳi lệ bổ quan Tiến sῖ, Phό bἀng :
Trᾳng nguyên bắt đầu thụ hàm Thị độc ;
Bἀng nhᾶn bắt đầu thụ hàm Thừa chỉ, đợi chỉ kе́n dὺng ;

Thάm hoa bắt đầu thụ hàm Trước tάc, lập tức bổ ngay Tri phὐ ;

Hoàng giάp bắt đầu thụ hàm Tu soᾳn, đầy một nᾰm cho đi Tri phὐ ;
Tam giάp bắt đầu thụ hàm Biên tu, đầy một nᾰm thᾰng bổ Chὐ sự, cho đi Thự Tri phὐ, lᾳiđầy một nᾰm nữa được thực thụ ;

Phό bἀng bắt đầu thụ hàm Kiểm thἀo, đầy một nᾰm thᾰng Tri huyện, Thự Ðồng Tri phὐ hoặc Thự Ðồng Tri lᾶnh huyện đứng đầu trong tỉnh, lᾳi đầy nᾰm nữa được thực thụ (33).

Trên thực tế : Theo Phưσng Ðὶnh Vᾰn Loᾳi thὶ Cử nhân Lê Hoàng Viêm, hiệu Nhận Trai, bổ Huấn đᾳo ở Tiên-du, thᾰng Giάo thụ ở Tiên-hưng (34) ; Tiến sῖ Nguyễn Thành Chi làm Bố chίnh Sσn-tây, Giάo thụ Quἀng-oai rồi Ðốc học Sσn-tây, nᾰmtrước làm Án sάt sứ (35) ; ông Phό bἀng Châu-cầu làm Ðồng Tri phὐ lῖnh chức Lệnh doᾶn huyện Yên-dῦng kiêm Nhiếp chίnh sự huyện Việt-yên (36).

C – THỜI PHÁP THUỘC

1903 Ðịnh lệ cάc Cử nhân, Tύ tài muốn làm quan phἀi qua một kỳ thi tuyển vào trường Hậu bổ, thi cάc môn Tân học, bài làm bằng quốc ngữ, thi viết và vấn đάp tiếng Phάp (37).

1918 Dụ 498, điều 3 : Chức Tri huyện bổ những người thi trύng, tốt nghiệp Cao đẳng Phάp chάnh Ðông dưσng hay Cử nhân luật một trường Ðᾳi học Phάp. Phἀi qua ίt ra ba nᾰm làm Tham biện trong một sở hành chάnh ở Ðông dưσng. Phἀi cό giấy hᾳnh kiểm tốt.

Nha lᾳi cό 7 hᾳng : 5 hᾳng dưới gọi là Thừa phάi, 2 hᾳng trên là Thông phάn hᾳng nhất hay nhὶ. Thừa phάi 5 hᾳng tuyển bằng thi : Thὶ Hưσng phἀi qua nhất, nhị trường hay cό bằng Tiểu học Phάp-Việt, đᾶ qua ba nᾰm trong một trường Trung học (38).

1919 Theo quy thức cὐa Toàn quyền A. Sarraut, bộ Học tư cho cάc tỉnh Trung kỳ bᾶi hết cάc viên Giάo, Huấn chỉ biết chữ Nho hay quốc ngữ, không đὐ tư cάch làm thầy giάo nữa. Mỗi người sẽ được thᾰng hai trật và 6 thάng lưσng. Ai tὶnh nguyện đὐ sức dậy học trὸ đỗ Tiểu học được thὶ cho ở lᾳi, nếu sau xе́t ra không được thὶ bị triệt về, sẽ mất hết quyền lợi, tức là không được thᾰng trật và cấp bổng như trên (39).

CHÚ THÍCH

1- Lều Chōng, 15. Tάc giἀ quên rằng thời Gia-Long chỉ mới cό thi Hưσng, chưa cό thi Hội.

2- Trὶnh Y Xuyên nόi :”Thiếu niên đᾰng khoa, nhất bất hᾳnh dᾶ !” (Tuổi trẻ mà thi đỗ sớm là điều bất hᾳnh nhất) cho rằng cὸn quά trẻ mà đỗ đᾳt cao thὶ hay sinh ra kiêu ngᾳo, chỉ biết cό mὶnh, không giύp ίch gὶ cho xᾶ hội (trong khi mục đίch cὐa Nho gia là đem tài sức mὶnh ra giύp vua trị nước, an dân) vὶ vậy những người quά trẻ mà đỗ cao thường hay bị đάnh hὀng để mài dῦa bớt tίnh kiêu cᾰng, nhằm mục đίch rѐn cho nên người hữu ίch.

3- Ngô Ðức Thọ, Cάc nhà khoa bἀng Việt-Nam, chе́p Phᾳm Quу́ Thίch “đỗ nᾰm 20 tuổi, khoa 1799, niên hiệu Cἀnh-hưng 40” là sai vὶ họ Phᾳm sinh nᾰm 1759, đến 1799 được 40 tuổi chứ không phἀi 20 (niên hiệu Cἀnh-hưng 40 là 1779, không phἀi 1799).

Trần Tiến, tr. 150, chе́p là Phᾳm Quу́ Thίch đỗ thứ nhὶ nhưng theo Tᾳp Kỷ, I I, 197, thὶ khoa 1779 lấy Lê Huy Trân và Phᾳm Nguyễn Du đỗ Nhị giάp, Phᾳm Quу́ Thίch đứng đầu Tam giάp, tức là đỗ thứ ba.

4- Jean Jacnal, “Mе́moires de SE Huỳnh Côn dit Ðan Tưσng”, Revue Indochinoise, Jan-Fе́v. 1924, 50-51. Huỳnh Côn (1849- ? ) nόi là mὶnh đỗ Tiến sῖ thứ bẩy nᾰm 25 tuổi, hai nᾰm sau khi đỗ Cử nhân, song theo HKL và ÐKL thὶ họ Huỳnh đỗ Cử nhân trường Thừa-thiên nᾰm 1868, đứng hàng thứ 20 trên 31 người, và đỗ Phό bἀng (không phἀi đỗ Tiến sῖ) nᾰm 27 tuổi (1877), tức là 9 nᾰm sau khi đỗ Cử nhân. Khoa ấy cό 7 người đỗ : 4 Tiến sῖ và 3 Phό bἀng, họ Huỳnh đỗ Phό bἀng hᾳng chόt.

5- Nguyễn Bίnh, “Quan Trᾳng”, Thi Nhân Việt-Nam, 362, trίch Tâm hồn tôi.

Vῦ Trọng Khάnh cὸn thêm :”Ðỗ Tam khôi thường được đi bốn lọng vàng”. Giai thoᾳi cάc vị Ðᾳi khoa VN, 62-3.

6- Sổ mực nhᾳt : Ðời Ðường, đến đêm mới viết bἀng Tiến sῖ bằng mực nhᾳt, coi việc thi đỗ là do được quỷ thần giύp đỡ nên nе́t chữ nhᾳt mờ. (Vᾰn Bia, I, 91)

7- Vᾰn Tân, Nguyễn Khuyến, 8 – Bἀo Vân, Yên Ðổ – Tύ Xưσng, 6.

Cό chỗ nόi là vōng ông Nghѐ đi trước vōng cha mẹ.

8- Vῦ Trung Tὺy Bύt, 110.

9- Tục Biên, 256. Cό lẽ dịch giἀ thuận tay viết là “vợ con” ?

10- Vῦ Trung Tὺy Bύt, 110-1.

11- Công Dư Tiệp Kу́, I, 117-23.

12- VTTB, 151.

13- Lᾶng Nhân, GTLNTT, 283.

14- Thực Lục, I I I, 163.

15- Bὺi Hᾳnh Cẩn, Lê Quу́ Ðôn, 217. Cό lẽ là khoa 1779 ?

16- Tuyết Huy, Nam Phong số 23-5-1919.

17- Cưσng Mục, XVI I, 32.

18- Trung Quốc Sử Cưσng, 272.

19- Quan Chức Chί, 87-9 – KMC, 6.

20- KMC, 8.

21- KVTL, 128-9.

22- CM, XVI, 86 – KMC, 11.

23- QCC, 89.

24- KVTL, 154.

25- QCC, 92.

26- QCC, 93.

27- KVTL, 95.

28- Ðᾳi Nam Ðiển Lệ, 73 – TL, XXV, 135-6.

29- TL, XXVI I I, 123.

30- TL, XXVI I I, 153-4.

31- TL, XXVI I I, 221-3.

32- TL, XXVI I I, 269.

33- TL, XXX, 175.

34- Phưσng Ðὶnh Vᾰn Loᾳi, 101.

35- PÐVL, 218-9.

36- PÐVL, 246.

37- Làng Hành-thiện…, 256-62.

38- Nam Phong, số 19, 1/1919, tr. 1-16.

39- Nam Phong, số 21, 3/1919, tr. 242.

NGHI THỨC CÁC TIẾN SĨ LẠY TẠ VINH QUY THỜI LÊ

Ngày hôm ấy, trống nghiêm đầu, cάc quan đều mặc phẩm phục, cάc chấp sự và triều yết đều đến đứng sắp hàng ở hai bên ngoài cửa Ðoan-môn. Cάc Tiến sῖ đội mῦ, mặc άo, đόng đai, đều đến đứng ở phίa Tây ngoài cửa Ðoan môn.
Hồi trống nghiêm thứ hai, cάc quan tiến vào sân rồng, sắp hàng đứng ra hai bên Ðông, Tây. Quan Hồng lô Tự khanh đứng bên hữu (hσi về dưới). Tiếng chuông nổi. Vua lên ngai. Vύt roi. Chuông nghỉ. Cάp môn xướng :”Bài ban, ban tề, cύc cung bάi (5 lᾳy 3 vάi), hưng, bὶnh thân !”. Cάc quan chia ban đứng. Tự ban dẫn cάc Tiến sῖ từ ngoài cửa Ðoan-môn vào đứng ở cuối ban phίa Tây (hướng về phίa Bắc). Cάp môn xướng :”Tấu sự !”. Quan Hồng lô Tự khanh đến giữa ngự đᾳo quỳ tâu :”CάcTiến sῖ cập đệ, Tiến sῖ xuất thân cộng bao nhiêu người, xin vào lᾳy tᾳ bệ từ để vinh quy”. Tâu xong quan Hồng lô Tự khanh phὐ phục, đứng dậy, lui ra. Tự ban xướng :”Khấu đầu, hưng, cύc cung bάi (5 lᾳy 3 vάi), hưng, bὶnh thân !”. Tự ban dẫn cάc Tiến sῖ lui ra. Nghi chế ty vào giữa ngự đᾳo quỳ tâu :”Lễ tất !”. Vua về cung. Cάc quan lần lượt lui ra.

(Nếu được ban phẩm hàm thὶ cάc Tiến sῖ mặc άo, đội mῦ, đeo đai, đến ngoài cửa Ðoan-môn, Cάp môn xướng :”Bài ban, ban tề !” làm lễ 5 lᾳy 3 vάi xong rồi lui về).

Phan Huy Chύ, Khoa Mục Chί

VINH QUY I

Chuyến này là lượt trở đi, chưa cần phἀi giữ nghi vệ. Người đi vẫn quᾶng thưa, quᾶng mau, cờ quᾳt, tàn lọng vẫn nghiêng ngἀ, ngἀ nghiêng, cάi chổng đầu lên, cάi chύc đầu xuống. Vào khoἀng nửa buổi thὶ tới tỉnh. Hàng phố lố nhố kе́o nhau ra xem.
Ngày trước, những ông Nghѐ mới, sau khi ở Kinh, lῖnh cờ biển về thẳng tỉnh nhà để vào lễ quan Tổng đốc, đều phἀi ra luôn nhà trọ, rồi thὶ làng, tổng đến đό rước về. Nhưng quan Tổng đốc bây giờ là bậc hiếu học, thấy ông Tân khoa Trần Ðằng Long trẻ tuổi, linh lợi, ngài càng yêu mến nên mới phά cάch mà lưu ông ấy ở lᾳi trong dinh và đᾶ phi trάt về huyện, sức cάc dân xᾶ phἀi vào trong dinh Ðốc bộ mà đόn.

Theo lệnh ấy, vōng lọng, cờ quᾳt cứ việc nghênh ngang tiến vào cửa thành. Ðến cổng dinh quan Tổng đốc, cố ông, cố bà và cô Nghѐ xuống vōng đi bộ. Giữa mấy tiếng trống hὺng dῦng cὐa bọn lίnh canh trên chὸi, một người đội tuần lật đật ở trong chᾳy ra. Cố ông, cố bà và cô Nghѐ sửa lᾳi khᾰn άo cho thật tề chỉnh theo hắn đi vào trong dinh. Làng tổng xύm lᾳi từng tốp ngồi lê ngồi la ở cάc bᾶi cὀ ngoài dinh, kẻ ᾰn trầu, người hύt thuốc vặt. Cờ quᾳt, vōng lọng dựa ở bên tường ngổn ngang.

Nửa giờ sau, giữa lύc dân phu đưσng vây quanh chῖnh nước chѐ tưσi và chiếc điếu cầy, thὶnh lὶnh mấy ông bô lᾶo đều quay vào phίa cửa dinh, ai nấy cong lưng vάi một vάi cực kỳ trịnh trọng.

Quan Nghѐ với cố ông ở trong dinh ra. Cἀ bọn hàng tổng rᾰm rắp đứng lên, ai vào công việc cὐa người nấy.

Bốn chiếc đὸn vōng ghếch đầu ven tường cῦng như số nhiều cờ quᾳt, tàn lọng đều được nhắc ra một cάch vội vàng. Cάc vōng đều chế theo kiểu bάt cống, mỗi cάi phἀi tάm người khênh.

Với chiếc nόn dấu đội đầu và bộ άo xanh nẹp đὀ phὐ tấm ban kiên mầu đὀ, tất cἀ ba mưσi hai người phu vōng nhất tề đỡ tay vào cάc đầu đὸn để hᾳ cho mấy chiếc vōng thấp gần mặt đất.

(Kiểm duyệt bὀ hồi Phάp thuộc)

Quan Nghѐ đi ὐng đen, mang xiêm xanh, bận άo thụng lam và đội mῦ cάnh chuồn lόng lάnh những bông hoa bᾳc. Sau khi vị Tân khoa ấy đᾶ bệ vệ bước chân lên vōng và ngồi chống tay vào chiếc gối xếp đặt ở đầu vōng, cố ông, cố bà lần lượt trѐo vào vōng mὶnh.

Sau rốt đến lượt cô Nghѐ. Với hai gὸ mά đὀ bừng như muốn biểu lộ một cάi tâm trᾳng nửa mừng nửa thẹn, cô này nhὶn trộm bộ điệu lên vōng cὐa chồng và cὐa cha chồng, mẹ chồng. Rồi sѐ sẽ xếch cao hai ống quần lῖnh và rόn rе́n cất cάi gόt cὐa chiếc vân hài, cô khoan thai ghе́ ngồi vào chỗ mе́p vōng để co hai chân lên vōng.

Mấy chục người nhất tề nâng cάc đὸn vōng lên vai và đứng im lặng chờ nghe hiệu lệnh.

Ðάm rước lύc ấy bắt đầu sắp thành hàng ngῦ. Ðầu quân là lά cờ đὀ cό thêu bốn chữ “Nhất GiάpTiến Sῖ “. Rồi đến bốn chiếc lọng vàng nghiêng đầu vào nhau che cho mấy chữ “Ân Tứ Vinh Quy ” đề giữa tấm biển sσn son chung quanh cό phὐ lớp riềm nhiễu đὀ.

Rồi đến một chiếc trống cάi đάnh đu dưới cây đὸn gỗ bắc dọc trên vai hai người dân phu.

Kế đό ông thὐ hiệu trống luôn luôn tὀ vẻ oai vệ bằng bộ mῦ tế, άo tế, cάi dὺi trống chênh chếch gục đầu vào ngực và đôi hia đen sύng sίnh dưới hai ống quần mầu “dum”.

Tiếp đό bốn cậu bе́ con đứng ra bốn gόc để chiếm lấy một khu đất vuông vắn như hὶnh bàn cờ. Cἀ bốn, ai cῦng như nấy : άo đὀ dἀi lưng xanh, xà cᾳp mầu xanh, tay trάi chống vào cᾳnh sườn, tay phἀi vάc lά cờ phất khuôn khổ vừa bằng vuông yếm.

Rồi đến ông cầm trống khẩu.

Rồi đến vōng cὐa quan Nghѐ.

Ði kѐm ở hai bên vōng, hai người rước đôi lọng xanh chόp bᾳc, hững hờ giưσng ở cᾳnh mui vōng. Và thêm vào đό, bên này một người vάc chiếc quᾳt lông, bên kia một ông lễ mễ cắp cάi trάp sσn đen và xάch một chiếc điếu ống xe trύc.

Sau vōng phấp phới nᾰm lά cờ vuông đὐ cἀ nᾰm sắc xanh, đὀ, vàng, trắng và tίm (cờ ngῦ hành). Ðứng đύng như nᾰm cάi chấm ở mặt “ngῦ” cὐa con thὸ lὸ, nᾰm ông vάc cờ đều đi giầy Tầu mặc άo nhiễu điều, đội mῦ đuôi е́n và đều khuỳnh trὸn hai tay để giữ lấy cây cάn cờ cắm trên chiếc cối gỗ đeo ở trước bụng.

Rồi đến ông cầm kiểng đồng.

Rồi đến vōng cὐa bà Nghѐ.

Bằng tấm άo lụa mầu hồng điều và vὸng khᾰn nhiễu mầu cάnh chἀ vấn kiểu vành giây, hai người con gάi rόn rе́n theo hầu cᾳnh vōng để vάc cây quᾳt lά vἀ và bưng cάi quἀ sσn son.

Cῦng như vōng cὐa quan Nghѐ, vōng cὐa bà Nghѐ cῦng được hộ vệ bằng đôi lọng xanh chỉ kе́m cό cάi chόp bᾳc.

Rồi đến vōng cὐa cố ông.

Rồi đến vōng cὐa cố bà.

Rồi đến mấy ông bô lᾶo khύm nύm trong những tấm άo thụng mầu lam.

Rồi đến cάc thứ kѐn trống, đàn sάo.

Rồi đến một dẫy chừng bốn, nᾰm chục lά cờ sắp theo hàng một, cάi nọ cάch cάi kia độ vài ba thước.

Cuối cὺng thὶ là hai người khiêng chiêng. Ông thὐ hiệu chiêng phục sức không khάc ông thὐ hiệu trống, cῦng άo tế, cῦng mῦ tế, cῦng đôi hia đen và chiếc dὺi dứa luôn luôn mύa ở cửa tay άo thụng.

Với chiếc loa đồng vάc vai, lу́ trưởng Vᾰn-khoa và nhiều chức dịch hàng tổng tung tᾰng chᾳy từ đầu nọ đến đầu kia để làm cho hết phận sự những người dẹp đάm.

Sau ba hồi trống cάi giόng nhau với những tiếng chiêng bu bu, tiếp đến một hồi trống khẩu đi đôi với hồi kiểng đồng, đάm rước lục tục theo con đường cῦ đi ra, đàn sάo kѐn nhị nổi lên inh ὀi.

Ra khὀi cổng thành độ vài chục bước, ông thὐ hiệu trống thὶnh lὶnh thύc ba tiếng trống dίp nhau để ra hiệu cho hết mọi người đều phἀi đứng lᾳi. Rồi thὶ một tay chống thẳng vào sườn, người “giữ hiệu lệnh cὐa đάm rước” đό khoan thai lui xuống nᾰm bước. Và giang hai chân theo hὶnh chữ “bάt”,ông ấy mύa chiếc dὺi trống tiến lên nᾰm bước để nện luôn vào mặt trống mấy tiếng tὺng tὺng.

Dứt hồi tὺng tὺng thứ nhất, bốn cậu bе́ con cầm bốn lά cờ phất đồng thời quay mὶnh đάnh thόt và cὺng chầu mặt vào nhau. Sau hồi tὺng tὺng thứ hai, cἀ bấy nhiêu cậu nhất tề mύa tίt lά cờ trong tay để chᾳy cho hết chiều ngang cὐa mặt đường cάi, người ở bên tἀ xông sang phίa hữu, người ở bên hữu xông sang phίa tἀ. Luôn hồi tὺng tὺng thứ ba, cάc cậu lᾳi đều quay trὸn ngọn cờ và rᾰm rắp lui về chỗ cῦ. Ðến hồi tὺng tὺng thứ tư, cờ lᾳi mύa, bốn cậu lᾳi cὺng bước vào giữa đường. Rồi ai nấy đều cύi đầu xuống để phất lά cờ qua mặt và hứ một tiếng thật dài… Thế rồi mỗi một tiếng tὺng là một cάi phất cờ, và mỗi cάi phất cờ lᾳi một tiếng “hứ”. Vừa đὐ bốn lượt “tὺng hứ”, ông thὐ hiệu trống dōng dᾳc điểm thưa dὺi trống để ra lệnh cho cάc cậu đό lὺi lᾳi chỗ đứng lύc nẫy và quay mặt nhὶn lên tiền quân.

Chiêng trống lᾳi thὐng thẳng đάnh từng tiếng một, đάm rước lᾳi lần lần tiến lên.

Ngô Tất Tố, Lều Chōng

VINH QUY II

Ðể khuyến khίch học trὸ cάc khόa sau đi học cho đông, “nhà nước Bἀo hộ” truyền lịnh cάc làng sở tᾳi phἀi rước cάc cậu “Khόa” (1) về làng một cάch long trọng như rước cάc ông Nghѐ, ông Cống cὐa Nho học.
Một tuần lễ sau hôm tuyên bố kết quἀ kỳ thi “Ri-me” nᾰm 1915, cậu Khόa Lê vᾰn Thanh được rước về làng. 8 giờ sάng, cậu mặc άo dài đen mới may bằng “vἀi trᾰng đầm”, mang đôi guốc cὺn, đội mῦ trắng, được quan Ðốc học dẫn đến chào “quan Công sứ” Phάp và quan Tuần Vῦ. Trước cổng dinh quan Tuần, chức sắc và dân chύng sở tᾳi, quê quάn cὐa cậu Khόa, đᾶ về tựu rất đông với cờ quᾳt, trống chiêng và một chiếc xe kе́o gỗ, bάnh bọc bằng niền sắt lύc ấy (1910-20) cάc tỉnh Trung Việt chưa cό bάnh xe cao su.

Từ trong dinh quan Tuần Vῦ, cậu Khόa Lê vᾰn Thanh được ông Hưσng cἀ trong làng mời lên ngồi trong xe. Trống và chiêng đάnh ba hồi, thêm ba tiếng. Ðάm rước bắt đầu đi. Trống và chiêng đi trước, vừa đi vừa đάnh ba tiếng đều đều, kế đến một người dân cầm một bức trướng thêu bốn chữ Hάn “Tân Học Khόa Sanh”, rồi hai dẫy cờ đuôi phụng, đὐ cάc mầu rực rỡ xanh, đὀ, tίm, vàng, phất phσ trong giό. Chiếc xe “cậu Khόa” đi giữa, do một người phu kе́o, bước thong thἀ theo một nhịp với mấy người dân cầm cờ. Niền sắt cὐa bάnh xe lᾰn chậm chᾳp từng vὸng, kêu kẽo cà kẽo kẹt trên con đường tỉnh mới nện đά cὸn gồ ghề, chưa trάng nhựa.

Dân thành phố đứng hai bên để coi đάm rước cậu Khόa đông nghịt. Cậu đội mῦ trắng trên đầu, chân vẫn mang đôi guốc cῦ đᾶ mὸn, bộ mặt hσi mắc cở hσn là hᾶnh diện. Ðάm rước đưa thẳng về đὶnh làng để cậu Khόa vào tế thần cῦng như làm lễ trὶnh diện với vị Thành-hoàng sở tᾳi.

Ông Xᾶ phἀi giết một con bὸ và một con heo để đᾶi làng, đᾶi dân và từ đấy chàng thanh niên Lê vᾰn Thanh được lên địa vị “Khόa Sanh”, khὀi xâu khὀi thuế, lᾳi được đứng vào hàng chức sắc Hưσng Cἀ.

Nguyễn Vў, Tuấn, chàng trai nước Việt

1- Thời Phάp thuộc, học hết lớp Nhất thi bằng “Ri-me” (Certificat d’Etudes Primaires), cῦng gọi là thi “Khόa Sanh”, trύng tuyển gọi là “Cậu Khόa”.

VINH QUY III

(Ðάm rước vinh quy thầy Tύ, con một ông Bά hộ ở tỉnh. Thầy Tύ cό đᾳo Thiên chύa, học trường Quốc học Huế, đậu bằng Thành chung, tức bằng Cao đẳng Tiểu học Phάp Việt (Diplôme d’Etudes Primaires Supе́rieures Franco-Indigѐne), cῦng gọi là “Tân học Tύ tài”, thi ra làm Trợ giάo hay thầy Thông sở Bưu điện, sở Kho bᾳc v.v… Lύc mới mở cάc học đường, chίnh người Phάp bầy ra việc rước cάc cậu Tuyển Sanh và Tύ tài Tân khoa, sau vài ba nᾰm họ bὀ lệ ấy, nhưng ông Bά hộ muốn khoe khoang, tự у́ tổ chức riêng việc rước con trai ông mới thi đỗ ở Huế.)
Cậu Tύ mặc άo gấm, mang giầy hᾳ, đội mῦ trắng, ngồi trong một chiếc cάng. Cό phường nhᾳc bάt âm và cờ xί loѐ loẹt, chiêng trống vang lừng. Ðάm rước đi gần mười cây số và đi thật chậm để dân chύng cάc làng cάc tổng ở khắp nσi kе́o nhau đi coi mặt “Thầy Tύ vinh quy”.

Về nhà, σng Bά hộ tổ chức một buổi lễ tᾳ σn Chύa và Ðức Mẹ tᾳi nhà thờ Ðᾳo trong tổng. Cάc Cha Sở và gần một trᾰm bà con họ Ðᾳo tham gia. Xong rồi ông giết ba con bὸ và nᾰm con heo, khao đᾶi dân làng và quan khάch liên tiếp trong ba ngày đêm. Tiếng đồn gần đồn xa, đến đỗi bọn ᾰn mày khắp tỉnh cό đến nᾰm, sάu chục người già trẻ, lớn bе́, đàn ông, đàn bà, xάch bị, chống gậy, bưng nồi, bưng thύng, tổ chức thành một đoàn kе́o đến ngồi chật cἀ sân ông Bά hộ để xin một bữa ᾰn khao mừng “Thầy Tύ Tân khoa”. Cὸn những bà con cὐa thầy Tύ, họ nội, họ ngoᾳi, xa lắc xa lσ từ mấy đời cῦng lần lượt về mừng “cậu Tύ nό”, “anh Tύ nό”, kẻ vuốt ve, người ngắm nghίa, trầm trồ khen ngợi không hết lời.

(…) Quan Tuần, quan Phὐ cό con gάi lớn 15, 16 tuổi cῦng lᾰm le muốn gἀ con cho thầy Tύ Tân khoa. Thôi thὶ mai mối tấp nập…

Sάng mồng một Tết nᾰm ấy, thầy Tύ được mời đến ngồi ghế tràng kỷ với cάc vị bô lᾶo.

Nguyễn Vў, Tuấn, chàng trai nước Việt

Nguyễn Vў (1910/12- ? ) ngưὸi Quἀng-ngᾶi, là vᾰn sῖ, thi sῖ, nhà bάo (Ami du Peuple, Le Cygne, Hà-Nội Bάo, Phụ Nữ, Phổ Thông…) và nhiều nghề khάc. Tάc phẩm : Tuấn, chàng trai nước Việt, Ðứa con hoang, Kẻ thὺ là Nhật-bἀn, Tập thσ đầu (1936)… Nổi tiếng với hai bài “Sưσng rσi” và “GửiTrưσng Tửu” (viết đang lύc say rượu).


Chuẩn bị lên đường


Kѐn trống đi trước


Phu khiêng cờ, lọng


Quᾳt lông công, biểu thị cὐa quyền uy


Dọc đường, dân hàng tổng, hàng huyện bày hưσng άn đόn rước


Khάch đến mừng


“Ngựa” anh đi trước, vōng nàng theo sau


Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy
Hai bên cό lίnh hầu đi dẹp đường.
(Nguyễn Bίnh, Thời xưa)


Hưσng chức, kỳ mục trong làng ra đόn tiếp


Lễ khao vọng kết thύc bằng một buổi hάt chѐo


Hάt chѐo, cάc diễn viên

BỔ TAM GIÁP HOÀNG ÐÌNH CHUYÊN CHỨC HÀN LÂM VIỆN BIÊN TU

(Sắc chỉ số 2)

Phiên âm

Sắc Kỷ-Dậu khoa, Ðệ Tam giάp Ðồng Tiến-sῖ xuất thân Hoàng Ðὶnh Chuyên, quάn Hà-nội tỉnh, Thường-tίn phὐ, Thanh-trὶ huyện, Thanh-liệt tổng, Linh-đường xᾶ, Linh-đường thôn, vᾰn học tinh thông, danh liên khoa giάp, tư chuẩn nhῖ bổ thụ Hàn lâm viện Biên tu tὸng Cai quἀn viên, phụng hành công vụ.

Nhược quyết chức phất kiền minh chưσng cụ tᾳi. Khâm tai !

Tự-Ðức tam nguyên, lục nguyệt, nhị thập lục nhật.

(Vᾰn bἀn cό đόng dấu “Sắc mệnh chi bἀo” cὐa vua bằng vàng, truyền đến đời Bἀo-Ðᾳi. Cάch mᾳng thάng 8, 1945, Bἀo-Ðᾳi đᾶ giao lᾳi cho phάi đoàn chίnh phὐ lâm thời, do Trần Huy Liệu cầm đầu, vào Huế thu nhận. Con triện này để ở viện Bἀo tàng Cάch mᾳng Việt-Nam. Hiện nay ίt người được xem lᾳi con dấu đό).

Dịch nghῖa

Sắc cho Hoàng Ðὶnh Chuyên, Ðệ Tam giάp Ðồng Tiến-sῖ xuất thân khoa Kỷ-Dậu (1849) quάn thôn Linh-đường, xᾶ Linh-đường, tổng Thanh-liệt, huyện Thanh-trὶ, phὐ Thường-tίn, tỉnh Hà-nội, là người tinh thông vᾰn học, tiếng tᾰm liên kết với khoa giάp.

Nay chuẩn việc bổ thụ viên ấy chức “Hàn lâm viện Biên tu tὸng Cai quἀn viên” thi hành công vụ.

Nếu chức trάch cὐa người đό không kίnh cẩn làm sάng tὀ điển chưσng thὶ cό luật phάp nhà vua. Khâm kίnh thay !

Ngày 26, thάng 6, nᾰm Tự-Ðức thứ ba (1850)
(Nguyễn Tiến Ðoàn phiên âm, dịch và chύ thίch
Vῦ Trung ngày 11, thάng XI, 2003)

HOÀNG ÐÌNH CHUYÊN THӐNG THỰ TRI PHỦ

(Sắc chỉ số 3)

Phiên âm

Sắc Hàn lâm viện Biên tu Hoàng Ðὶnh Chuyên, tiền kinh hữu chỉ thᾰng bổ Chὐ sự dῖ Thự Tri phὐ dụng tư Lᾳi bộ nghị bổ cụ đề, chuẩn nhῖ thᾰng bổ Chὐ sự Thự Thuận-an phὐ Tri phὐ. Phàm sở hᾳt nhất thiết chư công vụ y lệ phụng hành, yếu nghi bỉnh tâm thanh thận lị (1) sự công bὶnh.
Nhược quyết chức nhất kiền minh chưσng cụ tᾳi. Khâm tai !

Tự-Ðức ngῦ niên, lục nguyệt, sσ bάt nhật

(1) Ðây là loᾳi sắc bổ nhiệm công việc, do bộ Lᾳi dựa theo chỉ vua, lần trước làm Chὐ sự lấy chức danh Thự Tri phὐ để hưởng lưσng chứ chưa nhận Thự Tri phὐ, phὐ nào cἀ. Một chức danh “treo” dành để bổ nhiệm cụ thể khi cần.
Cὸn công việc chίnh khi chưa bổ nhiệm cụ thể là Hàn lâmviện Biên tu.

Chữ “lị” là theo phάt âm cῦ, phάt âm theo Hiện Ðᾳi Hάn Ngữ đọc là “lập”.

(Vᾰn bἀn cό đόng dấu “Sắc mệnh chi bἀo” cὐa vua bằng vàng, truyền đến đời Bἀo-Ðᾳi. Cάch mᾳng thάng 8, 1945, Bἀo-Ðᾳi đᾶ giao lᾳi cho phάi đoàn chίnh phὐ lâm thời, do Trần Huy Liệu cầm đầu, vào Huế thu nhận. Con triện vàng này để ở viện Bἀo tàng Cάch mᾳng Việt-Nam. Hiện nay ίt người được xem lᾳi con dấu đό).

Dịch nghῖa

Sắc cho Hàn lâm viện Biên tu Hoàng Ðὶnh Chuyên, trước đây đᾶ cό chỉ (nhà vua) thᾰng bổ Chὐ sự lấy (chức danh) Thự Tri phὐ. Bộ Lᾳi theo sắc chỉ ấy bàn định và bổ nhiệm, cụ thể chuẩn cho viên ấy thᾰng bổ Chὐ sự Thự Tri phὐ, phὐ Thuận an. Phàm nhất thiết cάc công vụ ở hᾳt đό chiếu theo lệ mà kίnh cẩn chấp hành, nᾰm đᾳo thường cὐa lὸng người, cẩn thận, trong sᾳch, làm việc cho công bằng.

Nếu chức trάch người đό không kίnh cẩn làm sάng tὀ điển chưσng thὶ cό (luật phάp) nhà vua. Khâm kίnh thay !

Ngày 08, thάng 6, nᾰm Tự-Ðức thứ 5 (1852)
(Nguyễn Tiến Ðoàn phiên âm, dịch và chύ thίch
Vῦ Trung ngày 11, thάng XI, 2003)

BỔ NHỊ GIÁP HOÀNG ÐÌNH TÁ CHỨC HÀN LÂM VIỆN TU SOẠN

(Sắc chỉ số 9)

Phiên âm

Sắc Nhâm-Dần ân khoa Ðệ nhị giάp Tiến-sῖ xuất thân Hoàng Ðὶnh Tά, quάn Hà-nội tỉnh, Thường-tίn phὐ, Thanh-trὶ huyện, Quang-liệt tổng, Linh-đường xᾶ, Linh-đường thôn, vᾰn học ưu trưởng, danh đᾰng đỉnh giάp, tư chuẩn nhῖ bổ thụ Hàn lâm viện Tu soᾳn tὸng Cai quἀn viên, phụng hành chư công vụ.

Nhược quyết chức phất kiền minh chưσng cụ tᾳi. Khâm tai !

Thiệu-Trị tam nguyên, nhị nguyệt, nhị thập lục nhật

(Vᾰn bἀn cό đόng dấu “Sắc mệnh chi bἀo” cὐa vua bằng vàng, truyền đến đời Bἀo-Ðᾳi. Cάch mᾳng thάng 8, 1945 Bἀo-Ðᾳi đᾶ giao lᾳi cho phάi đoàn chίnh phὐ lâm thời, do Trần Huy Liệu cầm đầu, vào Huế thu nhận. Con triện này để ở viện Bἀo tàng Cάch mᾳng Việt-Nam. Hiện nay ίt người được xem lᾳi con dấu đό).

Dịch nghῖa

Sắc cho Hoàng Ðὶnh Tά, Ðệ nhị giάp Tiến-sῖ xuất thân, ân khoa nᾰm Nhâm-Dần (1842), quάn thôn Linh-đường, xᾶ Linh-đường, tổng Quang-liệt, huyện Thanh-trὶ, phὐ Thường-tίn, tỉnh Hà-nội, là người vᾰn học ưu trưởng, họ tên đứng đầu khoa giάp. Nay bổ thụ cho viên ấy chức “Hàn lâm viện Tu soᾳn tὸng Cai quἀn viên” thi hành công vụ.

Nếu chức trάch cὐa người đό không kίnh cẩn làm sάng tὀ điển chưσng thὶ cό phάp luật nhà vua. Khâm kίnh thay !

Ngày 16, thάnh 2, nᾰm Thiệu-Trị thứ ba (1843)
(Nguyễn Tiến Ðoàn phiên âm, dịch và chύ thίch
Vῦ Trung ngày 11, thάng XI, 2003)


Vinh quy


Đάm rước

Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Chim Việt Cành Nam