Đọc khoἀng: 29 phύt

1. Tόm lược cuộc Nam chinh cὐa vua Lê Thάnh Tông vào khoἀng thời gian 1470 – 1471 qua một số nguồn sử liệu.

Theo Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư  (bἀn khắc Chίnh Hὸa nᾰm thứ 18, 1697): Thάng tάm nᾰm Canh Dần (1470) Chiêm Vưσng Trà Toàn đem hσn 10 vᾳn quân thὐy bộ cὺng voi và ngựa chiến đάnh ύp Hόa Châu… Nhân cσ hội ấy vua Lê Thάnh Tông huy động trai trάng trong nước từ 15 tuổi trở lên sung quân được 26 vᾳn, rồi ban Sάch lược bὶnh Chiêm.

Hai tướng Đinh Liệt và Lê Niệm dẫn 10 vᾳn thὐy binh đi trước, cὸn lᾳi 16 vᾳn quân do vua thân hành chỉ huy đi sau… Ngày 25 thάng chᾳp Canh Dần (1470) vua cho ba quân ᾰn Tết, ngày 3 Tết Tân Mᾶo (1471) vua Lê ra lệnh tiến binh. Ngày mὺng 6 thάng giêng Tân Mᾶo đội quân xung kίch cὐa Tiên phong Tướng quân Cang Viễn bί mật đột nhập phὸng tuyến Cu Đê tᾳi triền nam đѐo Hἀi Vân, đάnh tan và bắt sống tướng Chiêm là Bồng Nga Sa… Ngày 27 thάng hai Tân Mᾶo hᾳ thành Thị Nᾳi, ngày 28 thάng hai Tân Mᾶo tiến quân vây thành Trà Bàn (Đồ Bàn), ngày 1 thάng ba Tân Mᾶo hᾳ thành Đồ Bàn và bắt sống Chiêm Vưσng Trà Toàn…

Sau khi Trà Toàn bị bắt, tướng cὐa hắn là Bô Trὶ Trὶ chᾳy đến Phiên Lung, chiếm cứ đất ấy, xưng là chύa Chiêm Thành, Trὶ Trὶ lấy được 1/5 đất cὐa nước Chiêm, sai sứ sang xưng thần, nộp cống, được phong làm vưσng. Vua lᾳi phong vưσng cho cἀ Hoa Anh và Nam Bàn gồm 3 nước để dễ ràng buộc… Thάng nᾰm ngày mồng 1, làm lễ mừng thắng trận.

Thάng sάu, lấy đất Chiêm Thành đặt làm Thừa Tuyên Quἀng Nam và vệ Thᾰng Hoa. Đặt chức Án sάt sứ ở 12 thừa tuyên và và đặt 3 Ty ở QuἀngNam(1). 

Phὐ biên tᾳp lục cὐa Lê Quу́ Đôn (thế kỷ XVIII) chе́p về sự kiện này như sau: Thάng giêng nᾰm thứ 2 niên hiệu Hồng Đức (nᾰm Tân Mᾶo, 1471) vua truyền lệnh cho quân ở trấn Thuận Hόa phἀi ra biển thử tập thὐy quân tham chiến… Thάng 2 nᾰm này, Ngài ra lệnh đάnh phά thành Đồ Bàn cὐa Chiêm Thành. Quân Thuận Hόa bắt sống được Trà Tuyền. Cὸn tướng Chiêm Thành là Bô Trὶ Trὶ thὶ chᾳy tới đất Phiên Lung, chiếm cứ đất ấy xưng vưσng. Bô Trὶ Trὶ chỉ chiếm được một phần nᾰm đất đai so với đất nước Chiêm Thành, nhưng hắn lᾳi sai người vào dâng lễ cống hiến vua ta, nên Ngài phong cho hắn làm vua Chiêm Thành.

Nhà vua lᾳi phong cho Thύy Anh vưσng và Nam Bàn vưσng, hợp với Chiêm Thành vưσng cộng là ba nước (Chiêm Thành chia ra ba nước). Ta chỉ lấy đất Thάi Chiêm (tức Cổ Chiêm) và đất Cổ Lῦy(2). Sau khi vua Lê Thάnh Tông chiếm Trà Bàn, một tướng Chiêm là Bô Trὶ Trὶ chᾳy thoάt, đem tàn quân vào Phan Lung (Phan Rang) tự xưng vưσng, giữ được hσn 1/5 đất đai cῦ cὐa Chiêm, sai người đến xin xưng thần và nᾳp cống. Vua Thάnh Tông nhân đό chia đất đai cὸn lᾳi cὐa Chiêm Thành làm 3 nước cho yếu thế đi:

– Chiêm Thành là đất từ nύi mà sau đό gọi là Thᾳch Bi trở về Nam, phong cho Bô Trὶ Trὶ.

– Nam Bàn là đất từ nύi này trở về Tây, phong cho dὸng dōi cὐa vua cῦ nước Chiêm cὸn sόt lᾳi.

– Hoa Anh (nước này về sau mὸn mὀi, suy yếu, không thể khἀo cứu được).

Tưσng truyền rằng vua Lê Thάnh Tông đάnh Chiêm Thành, mở đất đến biên giới hai tỉnh Phύ Yên – Khάnh Hὸa ngày nay, sai đục đά ở đỉnh nύi cao nhất trên bờ biển ở đây để dựng bia phân định địa giới cὐa ta và đất cὐa Chiêm, nύi ấy sau gọi là nύi Thᾳch Bi. Bia ấy hiện cὸn nhưng vết chữ đᾶ mὸn không thể nhận ra được, nhưng tưσng truyền vᾰn bia rằng“Chiêm Thành quά thử, binh bᾳi quốc vong. An Nam quά thử, tướng tru binh chiết”, cό nghῖa là Chiêm Thành qua đây quân thua nước mất. AnNam qua đấy, tướng chết quân tan. Nhưng nếu bia ở Thᾳch Bi Sσn là thực do vua Lê Thάnh Tông dựng lên thὶ cό lẽ sau khi vua chiếm được Đồ Bàn, cho tướng tά đưa quân đi vào đến hết địa phận tỉnh Phύ Yên ngày nay, rồi nhân đό đục đά làm bia chứ nhà vua không đến đό, vὶ ngày mὺng hai thάng ba Tân Mᾶo (1471) đᾶ ban sư rồi. Dầu sao sau cuộc chiến thắng này uy quyền cὐa vua Đᾳi Việt cῦng đến Bὶnh Định chứ chưa vào đến nύi Thᾳch Bi, đất đai bên kia đѐo Cὺ Mông chưa thuộc bἀn đồ Đᾳi Việt. Vậy đất từ nύi Cὺ Mông đến nύi Thᾳch Bi – vὺng Phύ Yên ngày nay – vua Lê Thάnh Tông đᾶ không giao cho Trὶ mà nhà vua cῦng không khai thάc, người Chiêm vẫn chiếm nό như cῦ, đến đời chύa Nguyễn Hoàng sau này mới đάnh lấy. Hay đấy là nước Hoa Anh chᾰng(3)?

Công trὶnh Lịch sử vưσng quốc Chᾰmpa đề cập đến sự kiện lập nước Hoa Anh như sau.

Nᾰm 1471 khi đi đάnh Chᾰmpa, lấy được kinh đô Vijaya Lê Thάnh Tông cό у́ dừng lᾳi, chia làm cưσng vực ở đό. Mặc dὺ bấy giờ như ta đᾶ biết, vưσng triều Vijaya đᾶ suy mà Đᾳi Việt thὶ đang trong thời thịnh trị. Nhà Lê không muốn và chắc chắn cῦng không nghῖ tới việc cố thôn tίnh một quốc gia khάc mà chỉ mong sự yên ổn lâu dài trên biên giới phίa Nam.

Vua Lê thân chinh, theo như tuyên bố, là vὶ Chiêm Thành đᾶ quấy nhiễu biên giới, cῦng vὶ một quan niệm là “Đᾳi Chiêm và Cổ Lῦy trước là đất cὐa ta, gần đây bị mất về nước Chiêm Thành, nên lấy lᾳi được hết, sai cάc ngưσi trấn thὐ”. Vua đᾶ lấy cἀ vὺng Vijaya nay là Bὶnh Định liền một dἀi với Cổ Lῦy để cό địa giới tự nhiên hiểm trở ở phίa Nam là đѐo Cὺ Mông, lập ra đᾳo Quἀng Nam, nhằm thực hiện у́ định đό. Trong cuộc hành quân này, quân Đᾳi Việt cὸn vượt qua đѐo Cὺ Mông tiến tới nύi Bia Đά (Thᾳch Bi). Nύi Thᾳch Bi ở phίa Đông huyện Tuy Hὸa, phίa bắc đѐo Cἀ, thuộc thị xᾶ Tuy Hὸa tỉnh Phύ Yên ngày nay. Với у́ định tᾳo nên sự yên ổn lâu dài ở phίa Nam, vua Lê cắt phần đất ven biển từ đѐo Cὺ Mông tới Đѐo Cἀ (hay Đᾳi Lᾶnh) lập nên một nước riêng gọi là nước Hoa Anh. Lᾳi lấy phần thượng nguyên ở phίa tây nước Hoa Anh – vὺng Cheo Reo để lập nước Nam Bàn. Như vậy Chiêm Thành ngᾰn cάch hẳn với Đᾳi Việt bằng hai nước, tuy nhὀ nhưng cῦng là tấm đệm từ miền nύi ra đến biển.

Nam Bàn là nσi sinh sống cὐa hai bộ lᾳc ở vὺng thượng lưu sông Đà Rằng, sau cῦng tự lập thành hai nước gọi là Thὐy Xά và Hὀa Xά, đều thần phục nhà Nguyễn. Cὸn thὶ từ Cὺ Mông về nam, cὸn thuộc về người Man, người Lᾳo. Người Man và người Lᾳo chắc là người Chᾰm và một tộc người khάc vốn cư trύ chὐ yếu ở vὺng thượng nguyên. Vua Lê đᾶ lấy một phần lᾶnh thổ cὐa họ, lập riêng nước Hoa Anh và đᾶ cử một hào trưởng địa phưσng làm Hoa Anh vưσng.

Phίa nam đѐo Cἀ, tức phίa nam nước Hoa Anh và nước Nam Bàn, Bô Trὶ Trὶ tiếp tục giữ nước Chiêm Thành, như nay đᾶ bị thu hẹp khά nhiều. Bô Trὶ Trὶ, tướng cὐa Bàn La Trà Toàn lên làm vua, tưσng ứng với Po Kabrah trong niên giάm (1460 – 1494) và như thế ông này làm vua được 24 nᾰm(4).

Theo Phὐ biên tᾳp lục  “Nύi Thᾳnh Bi thuộc Phὐ Phύ Yên là nσi phân cưσng giới giữa Tiên triều (tức triều chύa Nguyễn) nước ta cὺng nước Chiêm Thành. Hὸn nύi ấy phάt xuất từ một nσi rất xa xôi, trong một dᾶy nύi từ đầu nguồn liên lᾳc với nhau chἀy thẳng xuống bᾶi biển, hὸn nύi Thᾳch Bi là nύi cao nhất, hσn hẳn cάc nύi khάc. Vua Lê Thάnh Tông ngày xưa đi đάnh được nước Chiêm Thành lấy đất này đặt ra xứ Quἀng Nam, rồi sάch lập dὸng dōi cὐa vua cῦ Chiêm Thành và cho vua Chiêm Thành ấy cai trị cōi đất từ nύi Thᾳch Bi trở về phίa Tây. Trên đỉnh nύi Thᾳch Bi, người ta dựng một cάi bia đά để làm ranh giới. Bia đά trở lưng về phίa bắc, và hướng mặt về phưσng nam. Vὶ quά lâu nᾰm nên bia đά đᾶ mất hẳn tự tίch(5).

Một số sάch sử triều Nguyễn như Đᾳi Nam Nhất thống chί, Hoàng Việt nhất thống dư địa chί, Phưσng đὶnh dư địa chί thὶ cho rằng sau khi chiếm thành Trà Bàn, thừa thắng quân Đᾳi Việt vượt đѐo Cὺ Mông tiến thẳng tới Đѐo Cἀ, vua Lê Thάnh Tông khắc bia trên nύi để ghi dấu chiến công, phân định ranh giới hai nước Việt – Chiêm. 

Đᾳi Nam nhất thống chί nόi về Thᾳch Bi sσn: nύi này ở phίa đông nam phὐ (Tuy Hὸa), nᾰm Tân Mᾶo (1771) niên hiệu Cἀnh Hưng thứ 32 đời Duệ Tông Nguyễn Phύc Thuần nύi này bị sе́t đάnh, đά nύi đen đều biến thành trắng xόa, xa trông như bia đά đứng sững, sắc như vôi đά, chύa (vua) bѐn sai quan cầu đἀo. Nύi này cό nhiều thύ dữ nên ίt cό người dάm tới đό. Xе́t sάch Thὐy lục trὶnh chί  cὐa Trần Công Hiến cό đoᾳn chе́p rằng: nύi này cό một chi chᾳy sάt biển, chia ra làm hai ngọn nước, cây cὀ cῦng phân rẽ, cό một hὸn đά lớn quay đầu về hướng Đông giống như hὶnh người. Xưa vua Lê Thάnh Tông đi đάnh Chiêm thành ngang qua đấy, bὺi ngὺi than thở rằng “từ lύc trời đất sσ khai đᾶ phân ranh giới, vὶ nghịch đᾳo trời, nên phἀi chịu họa trời, nhân đό vua khiến chᾳm chữ lên trên đά. Sάch Địa dư chί cὐa Lê Quang Định cῦng nόi “vua Thάnh TôngNam chinh, mở đất đến đây, ở trên đỉnh nύi cό sai mài khắc chữ ghi việc chia ranh giới với Chiêm Thành. Nay bia vẫn cὸn nhưng chữ bị sứt mẻ không nhận ra được”(6).

“…Đά Bia – Bia Đά do Lê Thάnh Tông dựng ở Phύ Yên 1471 là… huyền thoᾳi, huyền tίch. Và chύng tôi đᾶ giἀi ἀo hiện thực khi cἀ gan trѐo lên đỉnh nύi Đά Bia – Linga-parvatha (Tối linh Dưσng Vật) vào nᾰm 2001 – 2002, không cό cάi bia nào, không một dὸng chữ khắc nào cὐa Lê Thάnh Tông lưu lᾳi nσi đây! Vἀ lᾳi sử đưσng thời cῦng không chе́p. Lê Quу́ Đôn, Phan Huy Chύ cό chе́p, song cῦng chỉ là “nghe nόi” thôi… Sau chiến dịch nᾰm 1471, đất Phύ Yên vẫn cὸn thuộc Chᾰmpa, “nước Hoa Anh” trong Sử kу́ Đᾳi Việt, chẳng hᾳn. Đѐo Cὺ Mông vẫn cὸn là ranh giới cực nam cὐa Đᾳi Việt thế kỷ XV…”(7)

Những tư liệu lịch sử trên đây đᾶ cho biết một cάch rō ràng, từ nᾰm 1471 vὺng đất từ phίa nam đѐo Cὺ Mông trở vào nam cό 3 vưσng quốc nhὀ được sự thừa nhận cὐa Đᾳi Việt là Chiêm Thành, Nam Bàn và Hoa Anh. Sάch Khâm định Việt sử thông giάm cưσng mục cὐa nhà Nguyễn chύ rằng, từ triều Lê trở về trước Nam Bàn thuộc Chiêm Thành… Từ phὐ Hoài Nhân đi theo đường Thượng đᾳo thὶ phἀi mất 14 ngày mới tới nước này, tức là đất cὐa hai nước Thὐy Xά và Hὀa Xά bây giờ. Vậy nước Nam Bàn là miền Thượng Nguyên xưa, tức Tây Nguyên ngày nay. Cὸn nước Hoa Anh thὶ dὸng dōi về sau mὸn mὀi suy yếu, nay không thể khἀo cứu được. Sau sự kiện này gần như sử không ghi chе́p gὶ về “nước Hoa Anh”, ngoài hai sự kiện là nᾰm 1578 Lưσng Vᾰn Chάnh chiếm thành Hồ và đến  đầu thế kỷ XVII dưới thời chύa Tiên Nguyễn Hoàng, nᾰm 1611 lập Phὐ Phύ Yên. Như vậy, từ nᾰm 1471 đến 1611, vὺng đất Phύ Yên chưa thuộc lᾶnh thổ Đᾳi Việt nhưng cῦng không thuộc Nam Bàn hay Chiêm Thành (mà vua Lê Thάnh Tông đᾶ phong cho Bô Trὶ Trὶ ), vὶ:

– Bộ Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư là bộ sử lớn cὐa nhà Lê do sử quan Ngô Sῖ Liên soᾳn nᾰm 1697 cῦng như thσ vᾰn đời Hồng Đức không nόi đến sự kiện Lê Thάnh Tông vào đến Đѐo Cἀ và khắc bia đά trên nύi. Sάch Phὐ biên tᾳp lục cὐa Lê Quу́ Đôn viết khoἀng sau nᾰm 1775 chỉ ghi việc dựng bia đά làm ranh giới nhưng “vὶ quά lâu nᾰm nên bia đά đᾶ mất hẳn tự tίch”, không thấy ghi vᾰn bia.

– Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chί (đầu thế kỷ XIX) thὶ “nay hiện cὸn những chữ sứt mẻ mờ lᾳt, không cὸn nhận rō được… chỉ nghe truyền khẩu chữ bia” do vua Lê Thάnh Tông cho khắc trên nύi Đά Bia. Theo một vài sάch khάc và theo truyền thuyết thὶ vᾰn bia cό cάc từ quốc hiệu như “Việt Nam”, “An Nam” là những quốc hiệu mà nhà Lê không dὺng. Cό thể việc này do người đời sau thêm vào.

– Đến nᾰm Mậu Dần (1578) Lưσng Vᾰn Chάnh được bổ làm Tri huyện Tuy Viễn (tức An Nhσn, Tuy Phước hiện nay). Lưσng Vᾰn Chάnh đem quân đάnh lấy thành cὐa người Chᾰm ở Tuy Hὸa (Thành Hồ), sau đό mới chiêu tập lưu dân Thuận Quἀng đưa vào khai phά vὺng đất mới Cὺ Mông, Bà Đài, Đà Diễn (sẽ nόi ở phần sau).

Cᾰn cứ vào sử liệu cάc nhà nghiên cứu đều nghiêng về у́ kiến cho rằng: “nước Hoa Anh” chίnh là vὺng đất Phύ Yên ngày nay. Tuy nhiên, nếu nước Chiêm Thành (vὺng Phan Rang) và nước Nam Bàn (Tây Nguyên) được sử ghi rō cό vua là hàng tướng người Chᾰm thὶ riêng nước Hoa Anh không thấy ghi vua là ai, cῦng như không ghi lᾳi mối quan hệ “bang giao” nào giữa chύa Nguyễn với nước này. 

2. Vὺng đất Phύ Yên – nước Hoa Anh – từ cuối thế kỷ XV đến nᾰm 1611.

Khi nόi đến lịch sử vưσng quốc Chᾰmpa, nhiều nhà nghiên cứu đᾶ cho rằng vưσng quốc Chᾰmpa không phἀi là một nhà nước thống nhất chặt chẽ và lâu dài, mà là một liên minh cὐa cάc tiểu vưσng quốc theo từng tiểu vὺng địa – vᾰn hόa, gọi là mandala. Như vậy với thực thể vὺng đất Bὶnh Định xưa thuộc tiểu vưσng quốc Vijaya, vὺng Phύ Yên xưa – Môn Độc quốc và Panduranga – Phan Rang là Bôn Đà Lang, thὶ việc vua Lê Thάnh Tông chấp nhận sự tồn tᾳi cὐa nước Hoa Anh (vὺng đất Phύ Yên) song song với sự tồn tᾳi cὐa tiểu vưσng quốc phίa nam đѐo Đᾳi Lᾶnh cὐa Bô Trὶ Trὶ là điều dễ hiểu. Đây là việc sắp đặt lᾳi (theo hướng cό lợi cho Đᾳi Việt) một mô hὶnh địa – chίnh trị đᾶ cό sẵn trong lịch sử vưσng quốc Chᾰmpa nόi chung và vὺng đất phίa nam Chᾰmpa nόi riêng. Tuy nhiên cần phἀi nhὶn nhận rằng, sự tồn tᾳi cὐa cάc tiểu quốc trên luôn chịu ἀnh hưởng và không thể tάch rời mối quan hệ vô cὺng chặt chẽ – ở một mức độ nào đό là sự phụ thuộc – vào Đᾳi Việt, vào tὶnh hὶnh chίnh trị cῦng như cάc chίnh sάch cὐa Đᾳi Việt đối với cάc tiểu quốc này. Như vậy, để tὶm hiểu về vὺng đất Phύ Yên giai đoᾳn này cῦng là để phάc dựng lᾳi nước Hoa Anh trong lịch sử, trước hết cần phἀi tὶm hiểu tὶnh hὶnh Đᾳi Việt khoἀng từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVII.

Sau cuộc Nam chinh nᾰm 1470 – 1471 vua Lê Thάnh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm lᾳi đặt làm đᾳo Thừa tuyên Quἀng Nam, cộng trong nước là 13 Thừa tuyên, danh từ Quἀng Nam cό từ lύc ấy. Đᾳo Thừa tuyên Quἀng Nam thống lᾶnh 3 phὐ, 9 huyện, địa bàn từ Quἀng Nam đến hết Bὶnh Định ngày nay. Nhà vua cὸn tổ chức lᾳi việc cai trị cάc châu Thᾰng, Hoa, Tư, Nghῖa đᾶ cό từ trước, cho người Chiêm đầu hàng là Ba Thάi làm Đồng Tri phὐ Đᾳi Chiêm. Với у́ định lập cưσng giới Đᾳi Việt ở đѐo Cὺ Mông – sau khi dựng nên hai quốc gia đệm ở phưσng nam – đᾶ hὶnh thành dưới thời vua Lê Thάnh Tông, lᾳi tiếp tục được cὐng cố dưới triều cάc vua sau đό cὐa nhà Lê. Sau cuộc Nam chinh trở về hẳn việc chiêu mộ nhân dân vào vὺng đất mới tiếp tục diễn ra và ngày càng mᾳnh mẽ. Vὺng đất mới là Phὐ Hoài Nhân tức tỉnh Bὶnh Định ngày nay là vὺng đất rộng rᾶi, đồng bằng phὶ nhiêu, cό cửa biển lớn… cό sức hấp dẫn đối với lưu dân, trong đό cό nhiều binh lίnh tham gia chiến tranh đᾶ ở lᾳi vὺng đất mới và mang theo gia đὶnh cὐa họ, cῦng như thuận tiện cho việc lưu đày đến nσi xa xôi những tὺ nhân, tội phᾳm cὐa nhà nước. Những cuộc di dân mà triều đὶnh xuống chiếu chiêu mộ khuyến khίch khai thάc đất mới với quy mô lớn cό vai trὸ quan trọng cὐa nhiều gia đὶnh dὸng họ. Truyền thống cὐa người Việt trong việc duy trὶ tίnh chất đᾳi gia đὶnh đᾶ đόng một vai trὸ quan trọng trong việc di dân vào phίa Nam, truyền thống này khuyến khίch di dân đi theo từng nhόm cὺng huyết thống hay họ tộc. Ngoài ra cὸn cό cuộc di cư cὐa những người nghѐo khό muốn tὶm chỗ làm ᾰn dễ dàng, hay can tội phἀi trốn trάnh, bất mᾶn hay vὶ một lу́ do nào đấy không thể sống tᾳi quê cῦ, khi lẻ tẻ một vài gia đὶnh, khi từng nhόm nhὀ vẫn liên tục và âm thầm diễn ra. Cάc cuộc di dân từ sau nᾰm 1471 khά thuận lợi, người Việt vào vὺng đất mới sống yên ổn vὶ không cὸn lo sợ xung đột giữa Đᾳi Việt và Chᾰmpa. Mục đίch cὐa những người dân Việt khi di cư đến vὺng đất mới là nhằm tὶm kiếm đất đai để cày cấy làm ᾰn chứ không phἀi để bắt tὺ binh nô lệ hay cướp bόc cὐa cἀi. Nhờ vậy mà họ sớm hὸa nhập với cộng đồng cư dân bἀn địa, lập nên làng xόm mới, cὺng lao động và hὸa hợp trong những sinh hoᾳt vᾰn hόa. Từ đό, phίa bắc đѐo Cὺ Mông, thuộc thừa tuyên Quἀng Nam chίnh thức là đất đai cὐa Đᾳi Việt cὸn từ phίa nam đѐo Cὺ Mông “thuộc man lѐo” – một tiểu quốc cὐa người dân tộc khάc người Việt – chίnh là nước Hoa Anh.

Theo Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư   Phὐ biên tᾳp lục, tὶnh hὶnh vὺng đất mới trong thời kỳ nửa sau thế kỷ XV như sau:

Thάng tư nᾰm thứ 12 niên hiệu Hồng Đức (Tân Sửu, 1481), nhà vua xе́t vὶ tᾳi Quἀng Nam không cό thuyền, nên hàng nᾰm giang thuế quân dân thường bị tổn thất. Vὶ vậy Ngài ban sắc từ nay trở đi, hễ mỗi khi tới kỳ nᾳp thuế, Ngài cho phе́p Ty Thừa tuyên Quἀng Nam đưa vᾰn thư tới Tam ty Thuận Hόa, đồng thời giao phό cάc hᾳng vật thuế cho Tam ty Thuận Hόa ấy, để nσi ấy sai phάi người chuyển đệ lên cấp trên đᾰng nᾳp.

Thάng mười nᾰm thứ 19 niên hiệu Hồng Đức (Mậu Thân, 1488), nhà vua hᾳ lệnh cho viên tham chάnh Quἀng Nam là Phᾳm Bά Tôn rằng: hễ quân sῖ hay nhân dân sinh con trai từ 15 tuổi trở lên mà cό vẻ thông minh hiếu học, thὶ đến ngày thi Hưσng, hội đồng phἀi lực chọn lấy sinh viên sung vào danh sάch sinh đồ trong phὐ.

Thάng tư nᾰm thứ 21 niên hiệu Hồng Đức (Canh Tuất, 1490), nhà vua định lᾳi bἀn đồ trong toàn quốc gồm 13 xứ thừa tuyên… Từ đây trở về sau đời đời phἀi noi theo và gὶn giữ như vậy… Chỉ cό hai xứ Thuận Hόa và Quἀng Nam thὶ họ Nguyễn nối đời nhau làm chức Trấn thὐ, và trong thời gian ấy, họ khai thάc thêm nhiều.

Nhưng từ đầu thế kỷ XVI Đᾳi Việt cό những biến đổi quan trọng, tὶnh hὶnh đᾶ diễn biến theo một chiều hướng khάc hẳn và dẫn đến sự thay đổi cᾰn bἀn bộ mặt cὐa đất nước.

Nᾰm 1527 nhà Mᾳc chiếm ngôi nhà Lê, rồi đến việc họ Trịnh nắm quyền bίnh, họ Nguyễn bị nghi kỵ và nguy cσ bị họ Trịnh hᾶm hᾳi. Nᾰm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng xin vào trấn thὐ Thuận Hόa (gồm Quἀng Bὶnh, Quἀng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), tiếp đό vào nᾰm 1570 xin được giao thêm quyền trấn thὐ Quἀng Nam (từ Quἀng Nam đến Bὶnh Định ngày nay). Từ đό họ Nguyễn ở phίa nam bắt đầu ra sức xây dựng lực lượng cὐa mὶnh, biến miền Nam thành giang sσn cάt cứ riêng biệt, lập thế đối trọng với chύa Trịnh ở phίa Bắc. Rồi sang thế kỷ XVII là cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn lấy sông Gianh (Quἀng Bὶnh) làm ranh giới Đàng Ngoài và Đàng Trong.

Đàng Trong dưới thời Đoan Quận công Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) tưσng đối yên ổn do kinh tế khά phάt triển và cῦng nhờ vào sự khôn khе́o cὐa Nguyễn Hoàng với chίnh quyền Đàng Ngoài (vua Lê, chύa Trịnh và kể cἀ với nhà Mᾳc). Thuận Quἀng lύc bấy giờ đất đai mới mở mang nhưng dân cư cὸn ίt chưa đάp ứng nhu cầu khai khẩn – một nhu cầu bức thiết cὐa chύa Nguyễn để thực hiện được mục đίch cάt cứ. Tuy trong dân cư cό cἀ những thành phần rất phức tᾳp nhưng trong vài mưσi nᾰm Đoan Quận công đᾶ “vỗ về quân dân, thu dὺng hào kiệt, nhẹ xâu thuế, dân chύng vui, phục, thường gọi là chύa Tiên”. Một mặt chύa Nguyễn phἀi đối phό với quân nhà Mᾳc và cἀ chύa Trịnh bằng cάc cuộc chiến và thὐ đoᾳn chίnh trị khôn khе́o, mặt khάc vẫn tiến hành công cuộc phάt triển kinh tế Đàng Trong bằng nông nghiệp, thưσng nghiệp và nhiều ngành sἀn xuất khάc… Để làm được điều đό chắc hẳn chίnh quyền chύa Nguyễn phἀi cό sự ứng xử mềm dẻo với tiểu quốc cὐa người “man lѐo” ở biên giới phίa nam để yên ổn mà rἀnh tay chống đỡ với phίa bắc. Rō ràng thời gian này mối bận tâm cὐa chίnh quyền chύa Nguyễn là phίa bắc với những quan hệ ràng buộc và những mưu đồ chίnh trị cὐa cάc thế lực Lê – Mᾳc – Trịnh – Nguyễn. Đấy cῦng là một nguyên nhân giἀi thίch vὶ sao sử nhà Nguyễn ghi chе́p về giai đoᾳn này cὐa Nguyễn Hoàng ở Thuận – Quἀng và hoᾳt động cὐa ông với nhà Lê ở phίa bắc khά kў mà hầu như không ghi chе́p gὶ về cάc tiểu quốc phίa nam, trong đό cό nước Hoa Anh. Mặt khάc cό thể suy đoάn rằng, do tὶnh hὶnh nội bộ Đᾳi Việt như vậy nên tᾳi ba tiểu quốc này cư dân Chᾰm và cάc tộc người khάc tiếp tục cuộc sống tưσng đối yên ổn, hầu như sử sάch không ghi chе́p một sự kiện lớn nào xἀy ra cho đến cuối thế kỷ XVI, khi mà việc thiết lập vưσng quyền cάt cứ cὐa chύa Nguyễn đᾶ rō ràng. Từ lύc đό đối với cάc tiểu quốc Hoa Anh và Chiêm Thành, chίnh quyền chύa Nguyễn bắt đầu cό những động thάi khάc nhằm từng bước tiến về phίa nam. Nhưng trước khi những sự kiện đό xἀy ra, nước Hoa Anh đᾶ tồn tᾳi như thế nào?

Như trên đᾶ nόi, địa bàn nước Hoa Anh về đᾳi thể nằm giữa đѐo Cὺ Mông và Đѐo Cἀ – một trong những tiểu vὺng địa – lịch sử cὐa vưσng quốc Chᾰmpa, với cấu trύc 3 yếu tố cσ bἀn theo truyền thống một “tiểu quốc” Chᾰmpa: Dὸng sông thiêng là sông Đà Rằng (sông Ba) cό ngọn nύi Thiêng nύi Đά Bia – Linga-parvatha (Tối linh Dưσng Vật), Thành Hồ, cἀng thị Đông Phước.

Sông Đà Rằng với lợi thế là con sông duy nhất ở miền Trung thông lên đến Tây Nguyên cό một vai trὸ rất quan trọng đối với người Chᾰm. Sử thời Nguyễn cho biết, nhà Nguyễn đᾶ từng đặt trᾳm giao dịch trên sông Ba để thông thưσng với khu vực rừng nύi rộng lớn ở phίa tây Phύ Yên. Theo Đᾳi Nam nhất thống chί  “ở xᾶ Thᾳch Thành ở phίa tây huyện Tuy Hὸa cό trường giao dịch và thὐ sở ở đây, nước từ sông Ba chἀy qua phίa nam huyện lỵ đổ ra trấn Đà Diễn”. Thᾳch Thành là vὺng bάn sσn địa tiếp giάp giữa đồng bằng Tuy Hὸa và vὺng nύi phίa tây. Đây là cửa ngō thông thưσng với Thὐy Xά, Hὀa Xά, cῦng là nσi trao đổi buôn bάn cάc sἀn phẩm nổi tiếng một thời cὐa nύi rừng như trầm hưσng, ngà voi, sừng tê cῦng như những lâm sἀn quу́ khάc xuống miền xuôi, đồng thời cάc loᾳi hàng hόa cὐa miền biển, đồng bằng cῦng từ đây đi lên miền nύi.

Từ nguồn tài liệu tiền cổ tὶm thấy ở khu vực Đông Phước (xᾶ Hὸa An huyện Phύ Hὸa) trong nhiều nᾰm, khối lượng đến hσn 700kg. Về loᾳi tiền gồm hσn 80 hiệu tiền đồng trong đό cό 60 hiệu là tiền cάc triều đᾳi phong kiến Trung Quốc từ Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Cὸn lᾳi cό tiền Triều Tiên, tiền Nhật Bἀn và cάc hiệu tiền Việt Nam từ nhà Lê, Tây Sσn, chύa Nguyễn và triều Nguyễn, cό cἀ tiền Mᾳc Thiên Tứ ở Hà Tiên vào thế kỷ XVIII… Cάc nhà khἀo cổ đᾶ khἀo sάt khu vực này và nhận thấy vị trί cὐa Đông Phước rất thuận lợi về đường thὐy, là điểm hợp lưu giữa sông Chὺa, Rᾳch Bàu Dài và một nhάnh cὐa sông Đà Rằng. Từ đό đᾶ cό nhận định cό nhiều khἀ nᾰng Đông Phước là một hἀi cἀng lớn thời Chᾰmpa. Trên sông Đà Rằng thὶ cἀng thị Đông Phước là cửa ngō thông ra biển và Thành Hồ – cửa ngō lên châu Thượng Nguyên cὐa vưσng quốc Chᾰmpa(8). Thôn Đông Phước cὸn nằm trong phᾳm vi phân bố cὐa cάc di tίch Chᾰmpa nổi tiếng như Thάp Nhᾳn, Thành Hồ.

Thành Hồ cό thể được xem là Kinh thành cὐa tiểu quốc vὺng Phύ Yên.

Theo Lưσng Ninh trong Lịch sử vưσng quốc Chᾰmpa: Từ sau nᾰm 1471, việc xây dựng đền thάp hầu như bị ngừng hẳn để dồn sức cho việc xây dựng một thành lῦy chưa từng cό. Thành này ở phίa tây thị xᾶ Tuy Hὸa, cάch khoἀng 15km, nằm trên bờ bắc sông Đà Rằng. Thành xây gᾳch cao khoἀng 3m, phίa ngoài cό hào nước, bên trong cό giếng nước. Thành cό hὶnh vuông, bốn cᾳnh không đều nhau, mỗi cᾳnh dài khoἀng 800m. Trước thế kỷ XV ta chỉ thấy nόi đến thành ở phίa bắc Vijaya (Quy Nhσn), là thành mà Đᾳi Nam nhất thống chί đᾶ mô tἀ, gọi là thành An Nghiệp, phίa Bắc sông Đà Diễn (cὸn gọi là sông Đà Lᾶng), “tưσng truyền do người Chiêm xây, tục gọi là thành Hồ”. Chắc không chỉ cό việc xây thành, mà sau khi đᾶ đứng yên lᾳi được rồi, cάc vua Chiêm Thành không những muốn cὐng cố vưσng quốc mà cό thể cὸn muốn giành lᾳi nước Hoa Anh nhân lύc Đᾳi Việt bị khὐng hoἀng chίnh trị vào đầu thế kỷ thứ XVI, tuy lực lượng cὐa họ bấy giờ đᾶ rất suy yếu(9).

Những cuộc khἀo sάt và khai quật khἀo cổ học tᾳi di tίch Thành Hồ đᾶ cho thấy đây là tὸa thành cό quy mô tưσng đối lớn. Cᾰn cứ vào hiện tượng lάt cắt trên bờ thành phίa đông và những dấu tίch kiến trύc trong hố khai quật, cό thể nhận thấy Thành Hồ được xây dựng từ rất sớm và tồn tᾳi trong một thời gian dài. Niên đᾳi cὐa Thành Hồ cό thể nằm trong khoἀng thời gian từ thế kỷ VI, VII đến thế kỷ XV, XVI. Trong quά trὶnh tồn tᾳi tὸa thành đᾶ được tu bổ nhiều lần. Theo hiện trᾳng cάc lớp đất trên bờ thành đông thὶ cό thể đᾶ được tu bổ hai lần sau khi đắp, và lần tu bổ cό quy mô nhất là vào thế kỷ X, XI khi mà kinh đô cὐa vưσng quốc Chᾰmpa dời chuyển về thành Đồ Bàn (Bὶnh Định). Ngoài ra cῦng phάt hiện được nhiều dấu tίch kiến trύc trong khu vực Thành Hồ, trong đό những dấu tίch kiến trύc ở trên Hὸn Mốc là dấu tίch ngôi thάp Chᾰm đᾶ sụp đổ, cὸn dấu tίch kiến trύc gόc đông nam cὐa Thành Hồ cό thể là khu cư trύ cổ. Cάc đợt khἀo sάt cὸn cho biết cὸn rất nhiều di tίch, địa danh liên quan đến khu vực Thành Hồ, phἀn άnh một hệ thống thành quάch khά hoàn chỉnh. Những phάt hiện mới đᾶ cho biết Thành Hồ cό hai giai đoᾳn với 2 chức nᾰng khάc nhau trong lịch sử vὺng đất Phύ Yên:

– Giai đoᾳn sớm trước thế kỷ XI: Thành Hồ với chức nᾰng là trung tâm quân sự, kinh tế và vᾰn hόa cὐa một tiểu vὺng/ tiểu quốc cὐa vưσng quốc Chᾰmpa (Môn Độc quốc).

– Giai đoᾳn muộn, thế kỷ XV – XVI: Thành Hồ cό chức nᾰng là “kinh đô” cὐa một tiểu quốc ở đây là nước Hoa Anh.

Thành Hồ nằm ngay cửa ngō chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền nύi, phίa sau khu vực Thành Hồ là vὺng cao nguyên đất đὀ bao la. Tᾳi đό đᾶ tὶm thấy nhiều di tίch di vật Chᾰmpa như ở Bἀo Lộc và Đσn Dưσng (Lâm Đồng), phế tίch đền thάp ở Đᾰk Lᾰk, Gia Lai và Kon Tum. Những dấu tίch vᾰn hόa Chᾰmpa ở Tây Nguyên đᾶ chịu ἀnh hưởng nhất định từ cάc trung tâm vᾰn hόa Chᾰmpa ở miền Trung, trong đό cό trung tâm Thành Hồ (Phύ Yên). Những ἀnh hưởng ấy thể hiện rō nhất trên thάp Yang Prong (Đᾰk Lᾰk) được xây dựng vào cuối thế kỷ XIII, trên khung cửa vẫn cὸn nguyên bài vᾰn cho biết thάp do nhà vua Jaya Sinkavarman III xây dựng. Cάc vết tίch kiến trύc cὸn lᾳi cὐa thάp Yang Mun, Yang Prong cho thấy ἀnh hưởng vᾰn hόa Chᾰmpa thế kỷ XIII – XV và cὸn kе́o dài đến thế kỷ XVI.

Sang thế kỷ XVII do những biến động lịch sử nên Thành Hồ mất dần vai trὸ cὐa nό khi vὺng đất này sάp nhập vào lᾶnh thổ Đᾳi Việt (xứ Đàng Trong cὐa chίnh quyền chύa Nguyễn).

Như vậy cό thể hὶnh dung nước Hoa Anh thế kỷ XV – XVI tưσng tự một tiểu quốc Chᾰmpa trước đây, với thành phần dân cư chίnh là người Chᾰm sinh sống ở đồng bằng và miền ven biển, phίa tây giάp Nam Bàn cὸn cό một số tộc người thiểu số khάc. Cuộc sống tưσng đối yên ổn, tiếp tục lối sống từ trước đό cἀ về phưσng thức kinh tế và sinh hoᾳt xᾶ hội. Hoa Anh là “vὺng đệm” giữa Đᾳi Việt và Chiêm Thành, sau nᾰm 1471 phần lớn người Chᾰm vào sống tᾳi Chiêm Thành (Phan Rang) hoặc chᾳy lên miền nύi. Cῦng do tίnh chất “vὺng đệm” nên chắc rằng tᾳi đây thỉnh thoἀng vẫn xἀy ra xung đột tranh chấp, đây cῦng là nguyên nhân làm cho vὺng đất Phύ Yên tuy khά rộng rᾶi màu mỡ nhưng lύc này dân cư không đông. 

3. Sau khi nhận quyền trấn thὐ Quἀng Nam (1570), nᾰm 1578 Đoan Quận công Nguyễn Hoàng đᾶ cử Lưσng Vᾰn Chάnh làm Tri huyện Tuy Viễn, một trong hai huyện cὐa Bὶnh Định giάp với nước Hoa Anh, và giao nhiệm vụ chiêu tập lưu dân đến Cὺ Mông, Bà Đài, khẩn hoang ở Đà Diễn. Theo Đᾳi Nam liệt truyện tiền biên, Lưσng Vᾰn Chάnh người huyện Tuy Hὸa tỉnh Phύ Yên. Tiên tổ là người Bắc Hà, lύc trước làm quan với nhà Lê đến chức Đô chỉ huy sứ. Đầu nᾰm Mậu Ngọ (1558) ông theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Khoἀng nᾰm Mậu Dần (1578), người Chiêm Thành đến lấn cướp. Ông mang quân đến Đà Diễn, đάnh chiếm lấy Thành Hồ. Sau đό chiêu tập dân Chiêm khai khẩn đất hoang ở Cὺ Mông, Bà Đài, cho dân di cư đến đây. Lᾳi mộ dân khẩn hoang trên triền nύi sông Đà Diễn, chia lập thôn ấp, ngày dần đông đύc. Như vậy cό thể hiểu, vào nᾰm 1578 Nguyễn Hoàng cử Lưσng Vᾰn Chάnh vào huyện Tuy Viễn với nhiệm vụ chὐ yếu là giữ yên ranh giới phίa nam với Hoa Anh – thực chất là với Chiêm Thành vὶ Hoa Anh là vὺng ngᾰn cắt giữa Đᾳi Việt và Chiêm Thành. Nhưng do “người Chiêm đến lấn cướp” (Hoa Anh) nên Lưσng Vᾰn Chάnh đᾶ “đάnh chiếm Thành Hồ” – “thὐ phὐ” cὐa Hoa Anh nhằm ngᾰn chặn у́ định cὐa Chiêm Thành chiếm lᾳi đất cῦ. Cὺng với biện phάp quân sự, ông thực hiện biện phάp kinh tế là chiêu mộ dân vào khai khẩn nσi đất hoang vὶ dân cư ở đây thưa thớt, cό lẽ do trước đό phần lớn người Chᾰm đᾶ vào sinh sống tᾳi nước Chiêm Thành cὐa Bô Trὶ Trὶ hay lὺi lên vὺng nύi cư trύ cὺng cάc tộc người khάc trong nước Nam Bàn. Biện phάp kinh tế này đᾶ tᾳo sự ổn định cho Hoa Anh, đồng thời cῦng tᾳo điều kiện thuận lợi để người Việt từ vὺng Thuận Quἀng vào vὺng này ngày càng đông đύc. Trên cσ sở đό vào nᾰm 1597 Tổng trấn Thuận Quἀng Nguyễn Hoàng đᾶ cό công vᾰn lệnh cho Lưσng Vᾰn Chάnh, Tri huyện Tuy Viễn, trấn An Biên đem dân vào khai khẩn vὺng đất Phύ Yên. Công vᾰn này thực chất như sự công nhận thực tế “lưu dân đi trước nhà nước theo sau” – một quy luật trong quά trὶnh Nam tiến cὐa người Việt. Nghῖa là từ sau nᾰm 1578 tᾳi nước Hoa Anh đᾶ cό khά nhiều người Việt sinh sống, hὸa đồng với người Chᾰm và một số tộc người khάc. Đến thời điểm 1597 chίnh quyền chύa Nguyễn – do những nhu cầu về chίnh trị, đồng thời cῦng nhận thấy thời cσ đᾶ thuận lợi – nên đᾶ công khai ra lệnh “đem dân khai khẩn” vὺng đất Phύ Yên.

Nội dung công vᾰn nᾰm 1597 cὐa Nguyễn Hoàng như sau(10). Nguyên vᾰn: 

Thị Phὺ Nghῖa hầu Lưσng Vᾰn Chάnh nᾰng tὸng quân nhật cửu hữu công, quyền Tuy Viễn huyện, An Biên trấn, vᾰn:

Liệu suất Bà Thê xᾶ trục hᾳng nhân số tίnh khάch hộ cάc phưσng tὸng hành ứng vụ. Nhưng suất thὐ khάch hộ nhân dân tự Cὺ Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Niễu đẳng xứ, thượng chί nguồn di, hᾳ chί hἀi khẩu, kết lập gia cư địa phận, khai canh hoang nhàn điền thổ để thu nᾳp thuế như lệ.

Nhược sự chὐ nhiễu dân, khάm đắc xử tội.

Tư thị.

Quang Hưng, nhị thập niên,

Nhị nguyệt sσ, lục nhật

Tổng trấn tướng quân

Chi ấn.

Bἀn dịch:

Dᾳy Phὺ Nghῖa hầu Lưσng Vᾰn Chάnh đᾶ giữ việc quân lâu ngày cό công trᾳng, quyền coi huyện Tuy Viễn, trấn An Biên rằng:

Hᾶy liệu đem số dân xᾶ Bà Thê đᾶ trục vào hᾳng dân và cάc thôn phường khάch hộ theo hầu công việc, lấy riêng số dân khάch hộ cάc xứ Cὺ Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Niễu, trên từ nguồn mọi dưới đến cửa biển, kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nᾳp thuế như lệ thường. Nhược bằng vὶ việc mà nhiễu dân, điều tra ra sẽ bị xử tội.

Nay dᾳy.

Nᾰm Quang Hưng thứ hai mưσi,

Thάng hai, ngày mὺng sάu.

Ấn

Tổng Trấn Tướng Quân.

Vᾰn bἀn trên đᾶ cung cấp những thông tin quan trọng.

Thứ nhất, vào khoἀng thời gian trước sau 1597 Tổng trấn Thuận Quἀng Nguyễn Hoàng cὸn đang ở phίa Bắc ứng phό với nhà Mᾳc, giύp vua Lê trong việc bang giao với nhà Minh. Nᾰm Quу́ Tỵ Quang Hưng thứ 16 (1593), nᾰm này họ Mᾳc mất… thάng 5 Thάi phό Đoan quận công Nguyễn Hoàng từ Thuận Hόa đίch thân đem tướng sῖ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lᾳy chào, đem sổ sάch về binh lưσng, tiến, lụa, vàng bᾳc, châu bάu, kho tàng cὐa hai trấn Thuận Hόa và Quἀng Nam dâng nộp. Nᾰm 1596 vua Lê sai ông và nhiều quan lᾳi khάc đến cửa Trấn Nam Giao để sứ nhà Minh “xem cό thực là con chάu nhà Lê hay không… nhưng nhà Minh dây dưa thoάi thάc, đὸi lấy người vàng ấn vàng theo lệ cῦ, không chịu đến khάm thành ra quά kỳ hᾳn”. Nᾰm 1597, thάng 4 ông lᾳi theo nhà vua lên cửa Trấn Nam Giao “cὺng với quan nhà Minh… cử hành hội khάm. Trong lễ giao tiếp, hai bên vui vẻ mừng nhau. Từ đấy hai nước Nam Bắc lᾳi trao đổi với nhau”. Thời gian này Nguyễn Hoàng “nhiều lần được sai đi chinh phᾳt, cha con cὺng gắng sức, hoàn toàn không cό у́ gὶ khάc”. Nᾰm 1599 thάng 4, Trịnh Tὺng được vua Lê Kίnh Tông tấn phong Đô Nguyên sύy, Tổng Quốc Chίnh, Thượng phụ Bὶnh an vưσng, mở phὐ, đặt quan lᾳi riêng, họ Trịnh bắt đầu tập tước vưσng. Nᾰm 1600 tướng thὐy quân là Kế quận công Phan Ngᾳn làm phἀn. Sai Thάi ύy Nguyễn Hoàng đem quân đi đάnh, ông lập mưu trốn về Thuận Hόa, để con trai và chάu nội lᾳi làm con tin(11). Chắc hẳn trong thời gian ở Kinh đô Nguyễn Hoàng đᾶ nhận biết trước tὶnh thế chίnh quyền “vua Lê – chύa Trịnh” nên càng nung nấu у́ định thiết lập giang sσn riêng ở Đàng Trong. Vὶ vậy ông đᾶ không lσi lὀng điều hành công việc ở Thuận Quἀng, đặc biệt quan tâm đến việc phάt triển vὺng trấn nhậm về phίa nam. Công vᾰn này chίnh là một trong những hành động cụ thể thể hiện у́ định đό.

Thứ hai, vᾰn bἀn trên là một chứng cớ vô cὺng xάc thực và quу́ hiếm cho biết một thời điểm quan trọng trong quά trὶnh khai phά phần lᾶnh thổ phίaNam cὐa xứ Đàng Trong. Đό là từ cuộc Nam chinh cὐa Lê Thάnh Tông (1471) đến khi người Việt chίnh thức lập làng mᾳc trên vὺng đất Phύ Yên theo chὐ trưσng cὐa chίnh quyền (Đàng Trong) là 126 nᾰm, một thời gian khά dài đὐ để cho những lưu dân người Việt trước đό và người Chᾰm tiếp xύc, giao lưu và hợp tάc sinh sống làm ᾰn. Ngoài ra cῦng cần chύ у́ rằng, vào nᾰm 1494 vua Chiêm Thành là Bô Trὶ Trὶ mất. Đây là người được vua Lê Thάnh Tông phong cho làm vua đất Chiêm Thành (vὺng Phan Rang) vào nᾰm 1471. Vào giữa thế kỷ XVI vua Chiêm Thành là PoAt (theo niên giάm từ 1553 – 1579) cῦng mất vào khoἀng 1578(12)Chύa Nguyễn đᾶ lợi dụng cσ hội này lấn vào “vὺng đệm” Hoa Anh mà không lo sợ sự phἀn ứng từ Chiêm Thành. Vὶ vậy khi lệnh này được thực thi thὶ trên vὺng đất Hoa Anh hầu như không cό phἀn ứng nào đάng kể.

Thứ ba, tuy là lệnh di dân vào vὺng đất mới nhưng Nguyễn Hoàng đᾶ đưa ra lệnh rᾰn đe trừng trị quan lᾳi nếu lợi dụng “chὐ trưσng” này mà nhῦng nhiễu dân chύng. Ta nên hiểu lệnh này không chỉ ngᾰn ngừa việc “nhῦng nhiễu” di dân người Việt mà cὸn, hay chὐ yếu, là đối với người Chᾰm – cư dân bἀn địa. Biện phάp này nhằm yên dân, tᾳo ἀnh hưởng tốt cho chίnh quyền Đàng Trong, chuẩn bị cho những bước đi tiếp theo về phίa nam cὐa chύa Nguyễn.

Thứ tư, từ tư liệu lịch sử này vai trὸ cὐa Lưσng Vᾰn Chάnh được khẳng định là người cό công lớn trong việc khai phά vὺng đất Phύ Yên.

Truyện cổ dân gian cὸn lưu giữ một truyền thuyết về việc Lưσng Vᾰn Chάnh thu phục vὺng Phύ Yên bằng mưu mẹo như sau. Khi ông đưa lưu dân đến khai khẩn vὺng Đà Diễn thὶ vấp phἀi sự chống đối cὐa người Chᾰm. Để yên dân địa phưσng cῦng như để tᾳo sự đồng lὸng trong việc khai phά và xây dựng vὺng đất mới, Lưσng Vᾰn Chάnh chὐ trưσng không giἀi quyết xung đột bằng vῦ lực. Ông đưa ra một lời thάch đố người Chᾰm là ông sẽ xây dựng xong một cάi thάp trên nύi Chόp Chài chỉ trong 3 ngày, nếu không xong ông tự động rύt lui, cὸn nếu xong thὶ người Chᾰm không được chống đối nữa. Người Chᾰm đồng у́ chấp nhận thάch đố vὶ xây thάp là sở trường cὐa họ, họ biết rō là phἀi mất hàng nᾰm mới hoàn thành. Hai ngày trôi qua, và chỉ qua đêm cuối cὺng một ngôi thάp lộng lẫy cao vύt hiện ra trên nύi Chόp Chài. Người Chᾰm vô cὺng thάn phục và cho rằng Lưσng Vᾰn Chάnh được trời giύp. Vὶ vậy họ lᾳi yêu cầu cuộc thi phά hὐy thάp. Lưσng Vᾰn Chάnh đồng у́, và trong khi thάp Nhᾳn đang bị đập phά thὶ trên nύi Chόp Chài ngôi thάp uy nghi bằng giấy nhanh chόng tan biến bằng một mồi lửa. Nᾳn binh đao không xἀy ra, việc khai khẩn Phύ Yên diễn ra một cάch hὸa bὶnh. Theo Địa chί Phύ Yên,Lưσng Vᾰn Chάnh đᾶ đem kinh nghiệm khẩn hoang vὺng Thuận Quἀng άp dụng vào đất Phύ Yên, như chia dân thành từng toάn nhὀ (khoἀng 50 người) và chύ trọng vai trὸ cὐa cάc nhόm gia đὶnh và cάc đᾳi gia đὶnh trong việc khẩn hoang, dὺng cάc chίnh sάch đὸn bẫy như là thuế, quyền sở hữu ruộng đất mới khai hoang để khuyến khίch nhân dân khai phά sἀn xuất. Mặt khάc, nhờ kinh nghiệm làm nông và bἀn chất cần cὺ chịu khό, những người nông dân đᾶ biến vὺng đất này thành làng xόm trὺ phύ đông đύc, một vὺng nông nghiệp phάt triển. Lưσng Vᾰn Chάnh được nhân dân suy tôn là Thành Hoàng, được sắc phong cὐa nhà Nguyễn vào nᾰm 1822 và 1843 làm “Thượng đẳng thần”, lập đền thờ tᾳi xᾶ Phụng Tường huyện Tuy Hὸa, được thờ cύng ở nhiều nσi trong tỉnh Phύ Yên.

Sau khi từ Thᾰng Long về Đoan Quận công Nguyễn Hoàng dời vào dinh Cάt Trấn Quἀng Nam, là nσi đất tốt, dân đông, sἀn vật giàu cό, số thuế thu vào nhiều hσn đất Thuận Hόa mà quân số thὶ cῦng bằng quά nửa. Nᾰm 1602, Nguyễn Hoàng sai con là Nguyễn Phύc Nguyên vào làm Trấn thὐ Quἀng Nam. Nᾰm 1604 cἀi đặt và đổi tên cάc khu vự hành chίnh hai xứ Thuận Hόa và Quἀng Nam.

Về thời điểm nᾰm 1611 cάc bộ sử sάch triều Nguyễn đều cό ghi chе́p. Theo Đᾳi Nam thực lục tiền biên: “Tân Hợi nᾰm thứ 54 (1611) bắt đầu đặt phὐ Phύ Yên. Bấy giờ quân Chiêm Thành sang xâm lấn biên giới. Chύa sai Chὐ sự là Vᾰn Phong (không rō họ) đem quân đi đάnh lấy được đất ấy, bѐn đặt làm một phὐ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hὸa lệ thuộc vào. Nhân sai Vᾰn Phong làm lưu thὐ đất ấy”. Cὸn theo Đᾳi Nam nhất thống chί thὶ: “Bἀn triều Thάi Tổ Gia Dụ Hoàng Đế bắt đầu mở mang đất này, đặt Phὐ Phύ Yên với hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hὸa, lập dinh Trấn Biên, sau gọi là dinh Phύ Yên”. 

Việt sử xứ Đàng Trong cὐa Phan Khoang: “Bấy giờ xứ Quἀng Nam vào đến phὐ Hoài Nhân và biên giới cực Nam là huyện Tây Viễn (nay là Tuy Phước), bên kia Tuy Viễn là đất cὐa Chiêm Thành. Nᾰm Hoằng Định thứ 12 (1611) thὶ sang xâm lấn biên giới. Chύa (Thάi Tổ Nguyễn Hoàng) sai chὐ sự là Vᾰn Phong (không rō họ) đem quân đi đάnh, lấy đất Phύ Yên ngày nay, đặt làm một phὐ, chia làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hὸa và sai Vᾰn Phong làm Lưu thὐ phὐ Phύ Yên”(13). Công trὶnh Lịch sử vưσng quốc Chᾰmpa nόi về sự kiện này rō hσn: “Trong khoἀng 10 nᾰm cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Chiêm Thành lᾳi lấn đất Hoa Anh, giết và đuổi những nông dân người Việt vào cư trύ khai khẩn miền đất này. Nᾰm 1611 Nguyễn Hoàng sai Nguyễn Phong làm tướng, đem quân vào đάnh lᾳi, Chiêm Thành bị thua, vua là Po Nit (1603 – 1613) phἀi bὀ đất Hoa Anh rύt quân về phίa nam Đѐo Cἀ. Lần này họ Nguyễn lấy hẳn đất Hoa Anh, lập ra một phὐ mới là phὐ Phύ Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hὸa, lập Dinh Phύ Yên, đόng quân để phὸng giữ… Với việc lập phὐ và dinh Phύ Yên, chύa Nguyễn muốn xάc lập hẳn quyền cai trị cὐa mὶnh trên một miền đất đᾶ cό sự gόp sức khai khẩn cὐa nông dân Việt trong mấy chục nᾰm, muốn chấm dứt sự tranh chấp trên một vὺng đệm để cό thể yên tâm đối phό với cuộc chiến tranh chinh phᾳt cὐa chύa Trịnh, một thử thάch quyết liệt không thể trάnh khὀi đối với chύa Nguyễn ở Đàng Trong”(14). Sau thời điểm này không lâu cὸn cό một sự kiện nữa xἀy ra trên vὺng đất này: Nᾰm Kỷ Tỵ (1629), Lưu thὐ Phύ Yên là Vᾰn Phong giữ chức đᾶ lâu, thân cận với người Chiêm, bѐn dὺng quân Chiêm để làm phἀn, Chύa sai phό tướng Nguyễn Phước Vinh đi đάnh, dẹp yên, và đổi phὐ Phύ Yên thành Dinh Trấn Biên(15). Điều này cho biết vὺng đất Phύ Yên sau khi thuộc sự cai quἀn cὐa chύa Nguyễn cὸn cό nhiều người Chᾰm sinh sống, và chắc rằng xung đột giữa người Chᾰm và chίnh quyền chύa Nguyễn thỉnh thoἀng vẫn xἀy ra.

Như vậy, nᾰm 1611 việc lập Phὐ Phύ Yên cὐa chύa Nguyễn Hoàng bắt đầu đάnh dấu quά trὶnh Nam tiến ở Đàng Trong cὐa chίnh quyền Chύa Nguyễn. Thời điểm này cῦng được coi là thời điểm “nước Hoa Anh” chίnh thức chấm dứt sự tồn tᾳi cὐa nό trong khoἀng 140 nᾰm kể từ nᾰm 1471.

Chύ thίch: 

(1) Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư (2003), tập 2, Nxb. Khoa học Xᾶ hội, Hà Nội, tr. 698 – 705.

(2)  Lê Qύy Đôn (1972),  Phὐ biên tᾳp lục, tập 1, Lê Xuân Giάo dịch, Sài Gὸn, tr. 56-57.

(3) Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Vᾰn học, tr. 87.

(4) Lưσng Ninh ( 2004), Lịch sử Vưσng quốc Chᾰmpa, Nxb. Đᾳi học Quốc gia, Hà Nội, tr.184.

(5) Lê Quу́ Đôn (1972), Phὐ biên tᾳp lục, tập 1, Lê Xuân Giάo dịch, Sài Gὸn, tr.213

(6) Đᾳi Nam nhất thống chί (1964), quyển 10, tr.19.

(7) Trần Quốc Vượng (2005), Nam Trung Bộ dưới cάi nhὶn địa vᾰn hόa – dân gian, Tὶm hiểu đặc trưng di sἀn vᾰn hόa vᾰn nghệ dân gian Nam Trung Bộ, Nxb. Khoa học Xᾶ hội, tr.24.

(8) Nguyễn Danh Hᾳnh (2003), Lịch sử Phύ Yên qua nguồn tư liệu tiền cổ, Tᾳp chί Xưa và Nay, số 140.

(9) Lưσng Ninh (2004), Lịch sử Vưσng quốc Chᾰmpa, Nxb. Đᾳi học Quốc gia Hà Nội, tr.185.

(10) Trần Viết Ngᾳc (2004), Về một công vᾰn cὐa Nguyễn Hoàng nᾰm 1517,Tᾳp chί Xưa và Nay, số 140

(11) Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư (2003), tập 3, Nxb. Khoa học Xᾶ hội, Hà Nội.

(12) Lưσng Ninh (2004), Lịch sử Vưσng quốc Chᾰmpa, Nxb. Đᾳi học Quốc gia Hà Nội, tr.186.

(13) Phan Khoang (2000),Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Vᾰn học , tr.125.

(14) Lưσng Ninh (2004), Lịch sử Vưσng quốc Chᾰmpa, Nxb. Đᾳi học Quốc gia Hà Nội, tr.187.

(15) Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Vᾰn học, tr.297

 Tài liệu dẫn.

– Đᾳi Nam nhất thống chί (1964), quyển 10.

– Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư (2003), tập 2, Nxb. Khoa học Xᾶ hội, Hà Nội.

– Lê Qύy Đôn (1972),  Phὐ biên tᾳp lục, tập 1, Lê Xuân Giάo dịch, Sài Gὸn.

– Nguyễn Danh Hᾳnh (2003), Lịch sử Phύ Yên qua nguồn tư liệu tiền cổ, Tᾳp chί Xưa và Nay, số 140.

– Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Vᾰn học.

– Trần Viết Ngᾳc (2004), Về một công vᾰn cὐa Nguyễn Hoàng nᾰm 1517, Tᾳp chί Xưa và Nay, số 140

–  Lưσng Ninh ( 2004), Lịch sử Vưσng quốc Chᾰmpa, Nxb. Đᾳi học Quốc gia, Hà Nội,

– Trần Quốc Vượng (2005), Nam Trung Bộ dưới cάi nhὶn địa vᾰn hόa – dân gian, Tὶm hiểu đặc trưng di sἀn vᾰn hόa vᾰn nghệ dân gian Nam Trung Bộ, Nxb. Khoa học Xᾶ hội.

Nguyễn Thị Hậu

Theo vanchuongviet