Đọc khoἀng: 26 phύt

Hiện nay người Việt rất hᾶnh diện và tự hào nhận mὶnh là con Rồng Chάu Tiên. Cάc tộc phίa nọc, dưσng Lửa mẹ nhận mὶnh là Con Tiên Chάu Rồng, cὸn cάc tộc phίa nὸng, âm Nước cha nhận mὶnh là con Rồng chάu Tiên (cần phἀi phân biệt hai cάch nόi theo nὸng nọc, âm dưσng này cὐa hai ngành Tiên và Rồng cho đύng ngữ phάp giống phάi, Dịch tίnh trong ngôn ngữ Việt, xem Tiếng Việt Huyền Diệu).

Cό một sự cọc cᾳch ở đây là Tiên là người mà lᾳi đi đôi với một linh thύ Rồng. Người phἀi lấy người sao lᾳi lấy một linh thύ? Vὶ cό sự cọc cᾳch này, tôi xin nhắc lᾳi dài dὸng một chύt về bἀn thể và vật biểu cὐa Tiên để cho vấn đề được sάng tὀ.

Qua bài viết Nhận Diện Danh Tίnh và Bἀn Thể Mẹ Tổ Âu Cσ ta đᾶ biết Mẹ Tổ Âu Cσ thuộc ngành nọc Lửa, Viêm Đế-Đế Minh-Kὶ Dưσng Vưσng. Lửa thάi dưσng vῦ trụ là Càn, mặt trời và lửa thiếu dưσng thế gian là Li, đất dưσng (đά, nύi lửa, nύi dưσng). Điều này thấy rō qua câu nόi cὐa Lᾳc Long Quân khi nhận mὶnh cό mᾳng thὐy và Mẹ Tổ Âu Cσ cό mᾳng hὀa: ‘ta là nὸi rồng đứng đầu thὐy tộc, nàng là giống tiên sống trên đất, tuy khί âm dưσng hợp lᾳi mà sinh ra con nhưng thὐy hὀa…’  «nàng là giống tiên sống trên đất» (Lῖnh Nam chίch quάi).

Ta cό thể kiểm chứng bἀn thể lửa ở cōi trời là lửa thάi dưσng Mặt Trời và lửa ở cōi thế gian là lửa thiếu dưσng, đất dưσng, nύi dưσng cὐa Mẹ Tổ Âu Cσ:

.Qua sử miệng.

1. Âu Cσ cό bἀn thể là Lửa thάi dưσng, Mặt Trời.

-Một truyền thuyết cho thấy Mẹ Tổ Âu Cσ cό một khuôn mặt là thάi dưσng thần nữ.

Theo Đặng Vᾰn Lung trong Vᾰn Hόa Luy Lâu và Kinh Dưσng Vưσng (NXB Hội Nhà Vᾰn, 1998), ở làng Diềm, xᾶ Hὸa Long, huyện Yên Phong ‘cό một ngôi nghѐ (đền) quay mặt ra vực Lở, tên chữ là vực Nhật Tἀo – mặt trời buổi sớm – trong vực cό hang ổ cὐa loài thὐy quάi. Đό là nσi thờ vị thành hoàng cό tên sau đây: “Đưσng cἀnh thành hoàng, quốc vưσng thiên tử Nhữ Nưσng Nam Nữ Nam Hἀi đᾳi vưσng”.

Người ta không biết bà là người ở đâu, chỉ biết buổi thiếu thời bà đến làng này mὸ cua bắt ốc. Một hôm bà cắt cὀ trên đồi Quἀ Cἀm, ngẫu hứng hάt câu:

Tay cầm bάn nguyệt xênh xang,
Muôn vàn cây cὀ lᾳi hàng tay ta.

Lύc đό cό thuyền cὐa vua Thὐy Tề đi kinh lу́ trên sông Cầu. Vua nghe câu hάt cό khẩu khί đế vưσng, Vua trông lên thấy đάm mây vàng rực rỡ che trên đầu bà. Vua biết là người nhà trời bѐn xin cưới làm vợ. Bà ưng thuận và đi theo Thὐy Tề xuống vực Lở.

Nhân dân thưσng nhớ bà lập nghѐ thờ.

Tάc giἀ Đặng Vᾰn Lung cho biết làng Diềm tên chữ Hάn là Viêm Xά (biến âm d = v, Diềm = Diêm, que làm ra lửa = Viêm, nόng). “Viêm Ấp… gợi ta nhớ đến Viêm Đế, Viêm Giao và sự liên quan đến tục thờ Mặt trời’. Ông so sάnh truyền thuyết này với truyền thuyết Âu Cσ và cho rằng hai người cό nhiều điểm tưσng đồng.

Tôi xin bổ tύc. Trước hết là làng Diềm, làng Diêm, Viêm Xά liên hệ với thần mặt trời Viêm Đế. Mẹ Tổ Âu Cσ thuộc ngành nọc lửa thάi dưσng Viêm Đế. Làng Diềm, làng Diêm làng “Lửa Thάi dưσng” liên hệ tới Âu Cσ, vὶ thế mà ngôi đền thờ cὐa bà quay mặt ra vực Lở cό tên chữ Hάn là Nhật Tἀo, mặt trời buổi sớm. Tên Nhữ Nưσng với h câm, Nhữ = Nữ cὺng nghῖa với nàng, u, o tức ruột thịt với Âu. Nhữ Nưσng = Nữ Nưσng = O Nưσng = Âu Nưσng = Âu Cσ. Vὶ bà là mặt trời mọc lύc tinh mσ, là thάi dưσng thần nữ nên trên đầu bà cό đάm mây vàng. Bà lấy vua Thὐy Tề, đây là hὶnh bόng cὐa Lᾳc Long Quân.

Tόm lᾳi Nhữ Nưσng, Nữ Nưσng chίnh là hὶnh bόng cὐa Âu Cσ. Mẹ Tổ Âu Cσ cό một khuôn mặt là mặt trời tinh mσ hôn phối với mặt trời hoàng hôn Lᾳc Long Quân.

Vὶ Mẹ Tổ Âu Cσ là mặt trời tinh mσ nên mới được thờ tᾳi ngôi nghѐ Nhật Tἀo.

-Qua Ca dao tục ngữ ta cῦng thấy:

Ông giᾰng mà lấy bà giời,
Mồng nᾰm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Câu này άm chỉ bà giời (mặt trời nữ) Mẹ Tổ Âu Cσ lấy ông trᾰng Lᾳc Long Quân. Trᾰng là một thứ mặt trời đêm, một khuôn mặt âm trội cὐa mặt trời hoàng hôn Lᾳc Long Quân (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

2. Âu Cσ cό bἀn thể là Lửa thiếu dưσng thế gian, đất dưσng, Nύi.

Theo truyền thuyết, Âu Cσ dẫn 50 con lên nύi.

….

Như thế qua sử miệng, Mẹ Tổ Âu Cσ thuộc ngành nọc, lửa. Lửa vῦ trụ là Càn cό một khuôn mặt là nữ thần mặt trời và lửa thế gian là Li, đất dưσng (đά, nύi lửa, nύi dưσng) cό một khuôn mặt là non, nύi.

.Qua ngôn ngữ học

-Qua mẫu tự ABC.

Âu biến âm với au là đὀ (đὀ là lửa, là tὀ, là mặt trời) và Cσ là cô, phάi nữ. Hάn Việt Cσ là “mў hiệu cὐa đàn bà vί dụ Âu-cσ. Cῦng đọc là ky” (Đào Duy Anh, Hάn Việt từ điển). Vậy Âu Cσ cό bἀn thể là Cô-Lửa, Nàng Lửa, Nàng Mặt Trời Thάi Dưσng và Âu hiểu theo U thὶ Mẹ Tổ Âu Cσ là U Lửa, U Mặt Trời Thάi Dưσng, U đất nύi.

-Qua chữ viết nὸng nọc vὸng trὸn-que

Từ AU cό gốc A, trong chữ viết nὸng nọc vὸng trὸn-que, A là một dᾳng nọc mῦi tên (mῦi mάc, rᾰng cưa, rᾰng sόi)  cό nghῖa là nọc, dưσng, lửa, thάi dưσng, mặt trời. Cὸn U là dᾳng âm thάi dưσng cὐa nὸng O (âm, nữ). ÂU trong chữ nὸng nọc vὸng trὸn-que cό nghῖa là Mặt Trời Nữ.

.Qua Sử Sάch

Cάc học giἀ Việt hiện nay phần lớn cho Mẹ Tổ Âu Cσ cό chὐ thể là Chim, Nύi cho ᾰn khớp với truyền thuyết ‘nᾰm mưσi con lên nύi, nᾰm mưσi con xuống biển’ và với ‘con rồng chάu tiên’. Cό người đᾶ viết ra công thức: Âu-Cσ = Tiên = Chim = Nύi = Đất.

.Qua Việt Dịch

Tên cάc vị tổ phụ và tổ mẫu cὐa Việt Nam đều diễn tἀ theo Dịch.

Theo dân gian Việt Nam, trong cάc buổi tế lễ ngày nay, nhiều nσi vẫn gọi cάc tổ phụ cὐa chύng ta là CHÀNG tức gọi theo cάc Lang, cάc con trai Hὺng Vưσng và cάc tổ mẫu gọi là cάc NÀNG tức gọi theo cάc Mệ Nàng, con gάi Hὺng Vưσng.

Vắn tắt ta cό:

.Đế Minh là Đế Ánh Sάng tức lửa vῦ trụ Càn (quẻ Càn gồm ba nọc III trong Dịch nὸng nọc).

Gọi theo dân gian là Chàng (I) Lửa (II) thάi dưσng, vῦ trụ.

.Vụ Tiên,

Đế Minh Càn III cό một khuôn mặt là lửa thάi dưσng vῦ trụ hôn phối với vợ Vụ Tiên cό khuôn mặt nὸng nọc, âm dưσng ngược lᾳi là nước thάi âm OO không gian O tức OOO, quẻ Khôn.

Vụ Tiên là con Le Le, vịt nước OO ở bầu vῦ trụ, bầu trời O (le le là loài vịt trời) tức Khôn OOO.

Gọi theo dân gian là Nàng (O) Nước thάi âm (OO) vῦ trụ.

.Kὶ Dưσng Vưσng

Kὶ Dưσng Vưσng là con Hưσu Sừng, Hưσu Đực cό nhῦ danh Lộc Tục (Lộc Đục, Lộc Đực) là đất lửa thế gian Li (IOI).

Gọi theo dân gian là Chàng (I) thiếu dưσng (OI) Đất lửa, Nύi Trụ thế gian.

.Long Nữ hay Thần Long

Kὶ Dưσng Vưσng (IOI) cό một khuôn mặt là lửa thiếu dưσng hôn phối với vợ Long Nữ cό khuôn mặt nὸng nọc, âm dưσng ngược lᾳi là nước thế gian O thiếu âm IO tức Khἀm OIO.

Long Nữ cό cốt là rắn nước thάi âm OO nhưng dưσng hόa thành rồng bay lên trời được. Nước thάi âm OO đun nόng (dưσng hόa) một nửa O biến thành nọc I, biến thành hσi (nước), khί giό thiếu âm IO. Như thế Thần Long, Long Nữ cό mᾳng thiếu âm hσi nước, khί giό ở cōi trời thế gian ứng với một khuôn mặt sinh tᾳo cὐa Khἀm OIO.

Lưu у́:

Theo Dịch Trung Hoa Khἀm vi thὐy, nước.

Trong khi, như đᾶ thấy ở trên, Khἀm OIO trong Dịch nὸng nọc vὸng trὸn-que cό một khuôn mặt thiếu âm (IO) khί giό ở phίa nὸng âm O.

Gọi theo dân gian Việt Nam là Nàng (O) Khί Giό thiếu âm (IO).

Khἀm cό phần thiếu âm IO nên nếu hiểu theo nghῖa là nước thὶ phἀi hiểu nước đây là nước thiếu âm ở tiểu vῦ trụ, thế gian phίa nὸng O (trong khi Vụ Tiên Khôn OOO là nước thάi âm OO ở cōi trời phίa nὸng O).

.Lᾳc Long Quân

Lᾳc Long Quân là lửa-nước cό một khuôn mặt sấm Chấn (IOO).

Theo Dịch Trung Hoa là Chấn vi lôi, sấm, động.

Trong Dịch nὸng nọc vὸng trὸn-que, Chấn IOO cό nghῖa là Nọc I thάi âm OO. Gọi theo dân gian Việt là Chàng (I) Nước thάi âm (OO).

Chấn là lửa-nước thάi âm, là lửa trời-mưa, chớp-mưa cό một khuôn mặt là sấm mưa. Khuôn mặt sấm này là khuôn mặt sấm cōi trời thế gian (Lᾳc Long Quân Chấn cό một khuôn mặt là sấm thế gian cό nhà ở đầu Nύi Mẹ Tổ Âu Cσ).

Chấn IOO cῦng phân tίch ra OO, là nước thάi âm và I, nọc, dưσng (I) tức nước dưσng chuyển động (mây cōi trời). Ở cōi thế gian nước dưσng, chuyển động là sông, biển (Lᾳc Long Quân Chấn cό một khuôn mặt thế gian là Biển).

.Âu Cσ

Lᾳc Long Quân Chấn IOO cό một khuôn mặt là nọc nước hôn phối với vợ Âu Cσ cό khuôn mặt nὸng nọc, âm dưσng ngược lᾳi là OII tức Tốn cό một khuôn mặt là lửa II âm O.

Theo Dịch Trung Hoa, Tốn vi phong, giό.

Đây là hiểu Tốn OII với khuôn mặt nὸng O là không gian và thάi dưσng II tức không gian thάi dưσng, là khί giό.

Giό đây mang âm tίnh vὶ khởi đầu bằng hào âm O.

Trong Dịch nὸng nọc vὸng trὸn-que, Tốn OII cό nghῖa là nὸng âm O thάi dưσng II.

Gọi theo dân gian Việt là Nàng (O) Lửa (II), O Thάi Dưσng (II), thάi dưσng nữ, mặt trời nὸng, âm nữ.

Âu Cσ cό một khuôn mặt Tốn, Nàng Lửa, Thάi Dưσng Thần Nữ.

Tốn OII cῦng phân tάch ra là thiếu dưσng OI nọc dưσng I. Tốn OII cό một khuôn mặt thiếu dưσng đất ngành nọc dưσng. Âu Cσ cό một khuôn mặt Đất, Nύi (dẫn 50 con lên nύi) ngành nọc dưσng Viêm Đế-Đế Minh-Kὶ Dưσng Vưσng.

Như thế qua cάc quẻ Dịch ứng với truyền thuyết và cổ sử Việt, Mẹ Tổ Âu Cσ cῦng cό mᾳng lửa cό hai khuôn mặt chίnh là lửa thάi dưσng vῦ trụ, là mặt trời nữ thάi dưσng, là lửa thiếu dưσng thế gian là đất dưσng nύi.

Vật Biểu cὐa Mẹ Tổ Âu Cσ.

1. Vật biểu ở cōi trời

Vật biểu ở cōi trời là một loài chim.

Như đᾶ biết mặt trờilửa thuộc ngành nọc, dưσng cό một biểu tượng là một loài chim mang dưσng tίnh nọc, dưσng. Thần mặt trời Viêm Đế họ Khưσng (Sừng) cό chim biểu là chim mὀ Sừng, chim Rὶu, chim Việt, chim Cắt, Anh ngữ là Hornbill (‘mὀ sừng’) (Việt Là Gὶ?).

Như thế Âu Cσ thuộc ngành nọc, chim lửa, mặt trời cό một khuôn mặt biểu tượng là một loài chim mάi mang dưσng tίnh lửa, mặt trời.

Ta thấy rō trong sử miệng, truyền thuyết Mường xάc thực Mẹ Tổ Âu Cσ đẻ ra một bọc trᾰm trứng chim.

Về sử đồng cὐa đᾳi tộc Đông Sσn, cάc cổ vật đồ đồng Điền Việt ở Nam Trung quốc mang tίnh nọc dưσng trội cὐa vὺng cao, vὺng nύi so với đồ đồng và trống đồng Đông Sσn trong địa bàn Việt Nam mang tίnh nọc âm Lᾳc Việt cὐa vὺng thấp, vὺng đồng bằng, sông biển. Cό tάc giἀ đᾶ gọi đồ đồng Điền Việt là Đông Sσn Nύi. Điền Việt mang sắc thάi Âu Việt trội. Trống đồng nὸng nọc, âm dưσng cὐa đᾳi tộc Đông Sσn cῦng mang tίnh lưỡng hợp nὸng nọc, âm dưσng theo vὺng nύi cao (Âu Việt), vὺng đất thấp (Lᾳc Việt), theo Tiên và Rồng.

Đồ đồng Điền Việt cὸn ghi khắc lᾳi rất nhiều hὶnh bόng chim tổ cὐa ngành nọc dưσng, lửa, mặt trời là chim rὶu, chim Việt, chim mὀ cắt trên trống đồng và cό cἀ nhựng chiếc rὶu Việt đàu chim cắt… (Trống Đồng: Đồ Đồng Điền v à Đông Sσn)

2. Vật biểu ở cōi thế gian.

Vật biểu ở cōi thế gian là một loài thύ bốn chân sống trên mặt đất. Âu Cσ cό thύ biểu thuộc loài thύ mang dưσng tίnh lửa, cό sừng. Vὶ là phάi nữ nên cό thύ biểu là con nai sao. Sao là vật sάng về đêm tưσng ứng với mặt trời đêm cὐa phίa nὸng âm nữ. Người Mường là tộc nύi ngày nay cὸn thờ nai sao biểu tượng cho bà Ngu Cσ (người Mường coi trọng sự thờ phượng nai sao hσn thờ cά chе́p Lᾳc Long Quân).

Tόm tắt lᾳi, Âu Cσ thuộc ngành nọc, lửa, mặt trời cό bἀn thể là Nàng Lửa, ở cōi trời cό một khuôn mặt là Thάi Dưσng Thần Nữ, cό chim biểu (mάi) mang dưσng tίnh lửa, mặt trời và ở cōi thế gian là lửa đất,Nύi dưσng cό thύ biểu là nai sao.

Cάc Nhà Nho Thần Thoᾳi Hόa Âu Cσ Thành Tiên.

Cάc nhà nho thần thoᾳi hόa Âu Cσ thành Tiên. Tiên là một giai nhân ở trên trời (nàng tiên, tiên nữ, giάng tiên) hay ở trên nύi.

Qua từ Tiên này, Mẹ Tổ Âu Cσ cό một khuôn mặt người cōi trời và một khuôn mặt thế gian thuộc ngành đất nύi.

Ta thấy khuôn mặt ‘giai nhân cōi trời’ cὐa Tiên không đύng trọn vẹn với bἀn thể Nàng Lửa, Thάi Dưσng Thần Nữ cὐa Âu Cσ. Cό lẽ cάc nhà nho nghiêng nhiều về khuôn mặt bἀn thể đất nύi cὐa Âu Cσ khi thần thoᾳi hόa Âu Cσ thành Tiên.

Tόm lᾳi cάc nhà nho đᾶ dὺng từ Tiên chỉ Âu Cσ nghiêng nhiều về khuôn mặt lửa thiếu dưσng Li đất dưσng, nύi thế gian nhάnh Kὶ Dưσng Vưσng, thuộc ngành lửa vῦ trụ, lửa trời Càn Viêm Đế.

Ta thấy rō từ Tiên không diễn tἀ hết được cάc khuôn mặt chίnh cὐa Âu Cσ và như đᾶ nόi ở trên, cọc cᾳch với Rồng.

Cάc Nhà Nho thần Thoᾳi Hόa Lᾳc Long Quân Thành Rồng.

Như đᾶ biết quά rō ràng qua bài viết Nhận Diện Bἀn Thể và Danh tίnh Lᾳc Long Quân là Lᾳc Long Quân cό bἀn thể nước dưσng, Chàng Nước, ở cōi tᾳo hόa, cό cốt là con rắn nước mang dưσng tίnh, nên không cần nhắc lᾳi dài dὸng ở đây.

Nhà nho Việt đᾶ thần thoᾳi hόa rắn nước thành rồng.

Ngày nay chύng ta nhận mὶnh là Con Rồng Chάu Tiên là ngἀ theo ngành cha ở xᾶ hội phụ quyền mang tίnh chὐ.

Con Rồng Chάu Tiên cό gốc là Con Rắn Chάu Chim.

Như thế Tiên Rồng phἀi hiểu là cό gốc là Chim nọc, dưσng và Rắn nὸng, âm và là vật biểu diễn tἀ nὸng nọc, âm dưσng nên mang trọn vẹn у́ nghῖa biểu tượng cὐa Vῦ Trụ Tᾳo Sinh, cὐa Vῦ Trụ giάo, cὐa Dịch lу́.

Chim nọc và Rắn nὸng đẻ ra những khuôn mặt khάc nhau, những loài chim, rắn khάc nhau mang tίnh nὸng nọc, âm dưσng khάc nhau ứng với từng cōi trong tam thế, ứng với từng giai đoᾳn trong qui trὶnh Vῦ Trụ Tᾳo Sinh. Trong ngành nọc Việt Mặt Trời, tất cἀ chim biểu đều mang tίnh dưσng, lửa mặt trời dὺ ở nhάnh nọc dưσng hay nhάnh nọc âm cὐa ngành này (xem Thế Giới Loài Vật trong Giἀi Đọc Trống Đống Nὸng Nọc Âm Dưσng Đông Nam Á).

Ta cần phἀi phân biệt hai khuôn mặt chίnh cὐa vật biểu chim và rắn: một là ở cōi đᾳi vῦ trụ, tᾳo hόa và hai là ở cōi tiểu vῦ trụ, cōi đất thế gian.

1. Cōi đᾳi vῦ Trụ, Tᾳo Hόa.

Ở cōi tᾳo hόa, dưới diện sinh tᾳo, chim rắn mang у́ nghῖa biểu tượng cho hai cực nὸng nọc, âm dưσng. Cực dưσng cό một khuôn mặt là chim-nọc mặt trời thάi dưσng và cực âm cό một khuôn mặt là rắn-nὸng không gian thάi âm.

Trong vᾰn hόa Việt, ở cōi đᾳi vῦ trῦ trụ cό vật tổ là chim nọc, chim rὶu, chim cắt, chim Việt, chim biểu cὐa mặt trời Viêm Đế thάi dưσng và là rắn nὸng, nước, rắn biểu cὐa không gian Thần Nông thάi âm.

Một vί dụ chim cắt và rắn nước cὸn ở hὶnh dᾳng thiên nhiên đi với nhau thấy ở trên một trống đồng Điền Việt, Nam Trung Quốc.

Hὶnh vật tổ chim cắt ở tang trống và rắn nước ở chân trống cὐa Bάch Việt thấy trên một trống đồng Đông Sσn Điền Việt.

Trong chuyến đi thᾰm Phάp quốc cάch đây hai tuần, chύng tôi gặp được hὶnh bόng chim nọc-mặt trời thάi dưσng và rắn nὸng-không gian thάi âm nước diễn tἀ dưới dᾳng thần thoᾳi hόa là chim nọc cό mào hὶnh mặt trời lửa thάi dưσng và rắn-nὸng không gian cό thân hὶnh sόng nước thάi âm tᾳi hồ nước Stravinsky ở Trung Tâm Georges Pompidou, Paris:

Chim cό mὀ lớn như mὀ rὶu, cό mầu đὀ là mầu cὐa lửa, mặt trời và mào hὶnh mặt trời nọc tia sάng thάi dưσng. Rắn cό hὶnh sόng nước và phun nước. Nhὶn dưới dᾳng Vῦ Trụ Tᾳo Sinh, Dịch lу́ thὶ đây là dᾳng lưỡng hợp chim mặt trời thάi dưσng-rắn nước không gian thάi âm.

Trong ngành Việt Mặt trời thάi dưσng thὶ chim lửa mặt trời thάi dưσng là chim cắt Hồng hoàng và rắn nước mặt trời thάi dưσng là rắn Lᾳc thάi dưσng [rắn mang thάi dưσng tίnh như cό hὶnh sόng gẫy khύc hὶnh nọc mῦi tên (mῦi mάc, rᾰng cưa, rᾰng sόi) hay cό mào, cό sừng]. Đây l à một dᾳng cὐa truyền thuyết Hồng Lᾳc.

Hai khuôn mặt chim và rắn thάi dưσng trong ngành Việt Mặt Trời này thấy rō qua cάc đồ gỗ khắc vật tổ cὐa người Ao-Naga, một thứ Âu-Long, Âu Lᾳc ở cực Tây địa khối Vân Nam:

Rὶu đầu chim mὀ cắt biểu tượng cho nhάnh Việt nọc mặt trời thάi dưσng ứng với chim cắt hồng hoàng và con rắn cό hὶnh sόng gẫy cό gόc cᾳnh mang dưσng tίnh biểu tượng cho nhάnh Việt nὸng mặt trời thάi dưσng ứng với Rắn Lᾳc.

.Chim cắt là vật tổ ngành nọc, lửa, mặt trời thấy rō như dưới άnh sάng mặt trời Hừng Việt qua:

-Sử miệng: Tổ Hὺng tối cao tối thượng cὐa Người Việt Mặt Trời Xίch Quỉ là Thần Mặt Trời Viêm Đế cό họ Khưσng (sừng) nên cό chim biểu là con chim mῦ sừng, Anh ngữ là hornbill, tức chim cắt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Sử đồng: Chim cắt cὸn khắc ghi rất nhiều trên trống đồng nὸng nọc, âm dưσng (Giἀi Đọc Trống Đồng Nὸng Nọc Âm Dưσng Đông Nam Á) và cάc rὶu Điền Việt đầu chim cắt (xem Trống Đồng: Đồ Đồng Điền và Đông Sσn).

-Sử sάch

Hὺng Vưσng thế gian dὸng thần mặt trời Viêm Đế, thuộc ngành Viêm Việt Mặt Trời thάi dưσng. Hὺng Lang ngành lửa theo mẹ Âu Cσ lên nύi cό một khuôn mặt chim biểu tượng là con chim cắt Lang (chim cắt khoang trắng, đốm trắng) thấy rō trong lịch sử qua việc Hai Bà Trưng đặt tên thὐ đô là Mê Linh. Qua bài viết Ý Nghῖa Ngày Lễ Hai Bà Trưng ta đᾶ biết Mê Linh là biến âm cὐa tiếng Ê Đê Mling, Mlang là tên một loài chim cắt (cao cάt), chim rὶu, chim Việt. Mᾶ Lai ngữ linglang là con chim cắt lông sặc sỡ ở Miền Nam Mᾶ Lai. Ta thấy rō (chim cắt) Lang cῦng cό nghῖa là Chàng (con trai, trai trάng). Chàng cῦng cό nghῖa là Đục (chisel) (cάc lang, cάc chàng, cό chàng, cό đục). Chim lang, chim chàng là chim đục, chim rὶu, chim cắt.

.Rắn nước ở dᾳng thiên nhiên cὸn thấy ghi khắc rō ở đầu cάc con thuyền trên trống Ngọc Lῦ I, Hoàng Hᾳ, Sông Đà… Rắn đᾶ thể điệu hόa thành rắn thần thấy ở đầu cάc thuyền trên trống Hữu Chung, Quἀng Xưσng…

Qua ba bộ sử miệng, sử đồng và sử sάch rō ràng cốt lōi vᾰn hόa Việt là lưỡng hợp chim cắt và rắn nước ở cōi tᾳo hόa, đᾳi vῦ trụ.

2. Cōi sinh tᾳo đất thế gian.

.Về chim biểu ở cōi sinh tᾳo thế gian thὶ cό chim biểu là loài chim mang dưσng tίnh sống nhiều trên mặt đất. Vί dụ trong dὸng chim cắt thὶ ở cōi thế gian là chim cắt đất (ground hornbill) hay cάc loài chim mang dưσng tίnh, lửa khάc như chim trῖ, gà (trong trὸ chσi Việt Dịch thế gian Bầu Cua Cά Cọc, con gà đội lốt chim cắt là chim biểu cho nọc mặt trời thế gian ngành mặt trời Viêm Đế lưỡng hợp với Tôm biểu tượng cho nὸng nước thế gian ngành không gian Thần Nông) (Việt Dịch Bầu Cua Cά Cọc).

.Trên trống đồng cὸn ghi khắc hὶnh bόng cάc chim tổ này như chim cắt đứng trên mặt đất thấy trên trống Duy Tiên; chim trῖ, gà thấy trên nόc nhà ở trống Ngọc Lῦ I và cάc trống khάc.

Mẹ tổ Âu Cσ với khuôn mặt nύi đất cό thể cό chim biểu mang tίnh lửa mặt trời nữ là một loài chim cắt,  trῖ, gà (mάi) mang tίnh thάi dưσng âm (như lông, mὀ cό mầu au đὀ, mầu hồng)…

.Về rắn biểu ở cōi sinh tᾳo thế gian cὐa ngành nọc mặt trời thάi dưσng thὶ là một loài rắn sống trên đất hay là một loài bὸ sάt bốn chân sống trên mặt đất âm, đất cό nước (đầm lầy) như rắn cό sừng, cά sấu. Riêng cά sấu là thύ biểu cὐa tộc Giao Việt (hay Dao Việt). Cά sấu Dao Việt cό thể thần thoᾳi hόa thành rồng-cά sấu, giao long cό bốn chân, lưỡi không thѐ ra khὀi miệng.

Hὶnh bόng giao long cὸn thấy ghi khắc lᾳi nhiều trên đồ đồng cὐa đᾳi tộc Đông Sσn và trên trống đồng nὸng nọc Đông Sσn (như trên trống Hὸa Bὶnh).

Cần phἀi phân biệt Rồng Giao long cό cốt cά sấu với rồng long Trung Quốc cῦng cό bốn chân, không cό lưỡi lѐ ra.

Lưu у́:

Tuy nhiên cần phἀi phân biệt là giao long chỉ là thύ biểu cὐa tộc Giao Việt nằm trong nhάnh Lᾳc Việt cὐa đᾳi tộc Bάch Việt. Rồng-Rắn Nước mới là thύ biểu tối cao ở cōi đᾳi vῦ trụ cὐa cἀ đᾳi tộc Việt, cὐa cἀ Bάch Việt.

Tiên Rồng Là Nền Vᾰn Hόa Muộn.

Ta thấy rō những nền vᾰn hόa đᾶ thần thoᾳi hόa là những nền vᾰn hόa muộn. Vί dụ nền vᾰn hόa Trung Quốc với cάc linh thύ long, ly, qui, phượng là nền vᾰn hόa muộn. Thoᾳt khởi thὐy đầu όc con người cὸn ‘hiện thực’, thực tế thường lấy cάc thύ, vật cό trong thiên nhiên cὸn giữ nguyên dᾳng tự nhiên (như chim, rắn) làm vật tổ. Nền vᾰn hόa nguyên sσ là vᾰn hόa thần vật tự nhiên. Về sau theo đà tiến hόa, đầu όc con người trở thành trừu tượng hσn nên thần thoᾳi hόa cάc thύ, vật thiên nhiên thành những linh vật thần kỳ để làm vật tổ. Nền vᾰn hόa đᾶ thần thoᾳi hόa vὶ vậy là nền vᾰn hόa muộn. Tiên và Rồng thuộc nền vᾰn hόa muộn. Nhất là, như đᾶ nόi ở trên, Tiên không diễn tἀ được trọn vẹn bἀn tίnh Lửa cὐa Âu Cσ và sự cọc cᾳch giữa Tiên và Rồng lᾳi càng cho thấy Tiên Rồng không hoàn chỉnh, cό sự gὸ е́p một cάch ‘nhân tᾳo’, cό tίnh cάch giἀ tᾳo.

Hiển nhiên rō như ban ngày Tiên Rồng là nền vᾰn hόa muộn sau này do cάc nhà nho Việt Nam thần thoᾳi hόa từ nền vᾰn hόa nguồn cội lưỡng hợp cὐa chύng là Chim (nọc, lửa, mặt trời)-Rắn (nὸng, nước, không gian).

Tiên Rồng biểu Tượng Bằng Phượng Rồng.

Rồng Phượng ngày nay được người Trung quốc coi là quốc biểu. Chỗ nào cό người Trung quốc, chỗ nào cό tiệm ᾰn Tầu là thấy cό hὶnh rồng phượng. Cάc chὺa chiền, cσ sở vᾰn hόa Việt Nam sau này và hiện nay diễn tἀ Tiên Rồng bằng phượng rồng. Cό nhiều nσi lấy nguyên con rồng phượng cὐa Trung quốc.

Hᾶy lấy vài ba vί dụ:

-Hὶnh Phượng Rồng Trung quốc thấy trong ngày giỗ Tổ Hὺng Vưσng.

(nguồn: vietnamdanden.blogspot.com).

-Phượng rồng kiểu Trung quốc thấy trong Huế Festival.

Phượng rồng trong Huế Festival (nguồn: tourconduongdisan.com).

Phượng Rồng này do cάc thiếu nữ Việt Nam xinh đẹp rước chắc chắn cό ẩn у́ là Tiên Rồng.

Nếu thật sự dὺng diễn tἀ Tiên Rồng thὶ Rồng phἀi do phάi nam rước thay vὶ phάi nữ.

-Hὶnh ἀnh Tiên Rồng thấy qua hὶnh phượng rồng Trung quốc trong buổi lễ khάnh thành tượng Đức Thάnh Trần Hưng Đᾳo ở Little Saigon, Quận Cam, Nam California.

Lễ khάnh thành tượng Đức Trần Hưng Đᾳo tᾳi Little Saigon, Quận Cam, California ngày 13-9-2014 vừa qua (nguồn: haingoaiphiemdam.com).

Đây là một điều không nên làm.

Hᾶy Trở Về Nguồn Cội Việt.

Trên trống đồng nὸng nọc, âm dưσng cὐa đᾳi tộc Đông Sσn biểu tượng cὐa ngành nọc Việt Mặt trời (trống cό nghῖa là đực, dưσng biểu tượng cὐa ngành nọc Việt mặt trời) cὸn khắc ghi rō như thấy trên trống Quἀng Xưσng, hai nhάnh tộc nọc chim cắt (sau này thần thoᾳi hόa thành Tiên):

Tộc người Chim Cắt Mặt Trời nọc thάi dưσng ứng với nhάnh Âu Cσ trên trống Quἀng Xưσng.

và tộc nὸng Rắn Nước mặt trời thάi dưσng (sau thần thoᾳi hόa thành Rồng):

Tộc người Rắn Nước Mặt Trời-Nước thάi dưσng ứng với nhάnh Lᾳc Long Quân.

Trên trống đồng nὸng nọc, âm dưσng cὐa đᾳi tộc Đông Sσn không cό rồng phượng kiểu Trung quốc (ngoᾳi trừ ở những trống đồng cận đᾳi ở Nam Trung quốc đᾶ bị vᾰn hόa Trung quốc đồng hόa).

Nếu muốn diễn tἀ Tiên Rồng theo thần thoᾳi hόa, ta phἀi diễn tἀ Tiên là một loài chim cό mὀ lớn, cό mῦ sừng như chim cắt. Con chim được cho là chim phượng đời nhà Lу́ cὸn mang thấp thoάng dάng dấp cὐa  chim cắt Việt.

Đầu chim phượng trang trί nόc nhà đời nhà Lу́ (nguồn 60S.com.vn).

Đầu chim phượng này cό mὀ cường điệu như mὀ rὶu, cό mῦ sừng hὶnh rὶu nhọn giống chim cắt, chim Việt. Trong khi chim phượng Trung quốc cό cốt là con chim trῖ thuộc họ nhà gà cό mὀ như mὀ gà và cό mồng như mào gà. Con chim phượng đời nhà Lу́ cό thể cὸn mang cốt chim cắt Việt. Cῦng nên biết chim phượng cὐa Trung quốc cό cốt là chim trῖ, thuộc họ nhà gà, sống nhiều trên mặt đất mang khuôn mặt thế gian trong khi chim cắt sống trên ngọn cây cao mang khuôn mặt cōi trời, vῦ trụ, tᾳo hόa. Vᾰn hόa Việt ‘trên trời’ cao hσn vᾰn hόa Trung quốc ‘dưới đất’.

Cὸn Rồng thὶ phἀi lấy rồng cό cốt rắn nước không cό chân và cό lưỡi thѐ ra ngoài miệng như rắn rồng cὐa người đἀo Lombok mới chίnh thống (xem dưới). Cὸn không thὶ phἀi lấy rồng cό thân cuộn sόng nước như rồng đời nhà Lу́ cῦng tᾳm chấp nhận được.

Một mẫu rồng cốt rắn đời nhà Lу́, Viện Bἀo Tàng Lịch Sử Hà Nội (ἀnh cὐa tάc giἀ).

Rō như ban ngày rồng nhà Lу́ cό cốt rắn nước Việt.

Tôi nόi tᾳm được là vὶ rồng nhà Lу́ cό bốn chân cὐa giao long, thύ biểu cὐa Giao Việt chỉ là một tộc cὐa Lᾳc Việt trong đᾳi tộc Bάch Việt.

Tiên Rồng cὐa chύng ta phἀi cό nguồn gốc tối cao tối thượng ở cōi tᾳo hόa, đᾳi vῦ trụ, phἀi cό cốt là chim cắt-rắn nước mới chίnh thống.

Nếu muốn giữ Tiên Rồng cho vᾰn vẻ thὶ chim Tiên phἀi là chim cắt thần thoᾳi hόa mà thành và Rồng là rồng cό cốt rắn nước khổng lồ (anaconda) thần thoᾳi hόa mà thành.

Mặc dὺ, cό thể người Hoa Hᾳ vốn là dân vō biền chỉ thờ chim biểu tượng cho nọc, dưσng, mặt trời như diều hâu, ό, ưng và khi tiếp xύc với người Việt, họ bị đồng hόa bởi vᾰn hόa lưỡng hợp chim-rắn cὐa Bάch Việt, rồi họ lấy chim rắn cὐa Bάch Việt thần thoᾳi hόa thành phượng rồng cὐa họ (Xin nhắc lᾳi rồng long Trung quốc cό cốt cά sấu, cό bốn chân, lưỡi không thѐ ra. Cά sấu chỉ cό ở vὺng sông biển, đầm lầy thuộc địa bàn Bάch Việt, không cό cά sấu ở phưσng bắc và họ vốn là dân du mục, vō biền không thờ cά sấu).

Tuy nhiên ngày nay cἀ thế giới khi nhὶn thấy phượng rồng là ngay lập tức cho đό là cὐa người Trung quốc. Vὶ thế để trάnh đôi co, giἀi thίch mất công để chứng minh rồng phượng gốc cὐa người Việt và trάnh lầm lẫn, hiểu lầm, chύng ta không nên lấy phượng rồng (nhất là lấy ‘nguyên con’ cὐa Trung quốc) làm biểu tượng cho Tiên Rồng mà phἀi lấy chim cắt rắn nước thần dưới dᾳng thần thoᾳi hόa làm biểu tượng cho Tiên Rồng.

Theo tôi tốt nhất là lấy hὶnh chim cắt và rắn nước thần trên trống đồng nὸng nọc, âm dưσng cὐa đᾳi tộc Đông Sσn làm biểu tượng cho Tiên Rồng là hay nhất, chίnh thống nhất, mang bἀn sắc thuần Việt nhất, là nguyên thὐy nhất.

Đầu thuyền trên trống Hoàng Hᾳ cό hὶnh chim mὀ rὶu, chim cắt cắm và miệng đang hά to cὐa Rắn Nước thần dưới dᾳng lưỡng hợp Chim Nō Rắn Nường, nguyên thể cὐa Tiên Rồng nhất thể. .
Thuyền đầu rắn nước, đuôi chim mὀ cắt trên trống Sông Đà dưới dᾳng lưỡng hợp Rắn Nước-Chim Cắt Lửa, nguyên thể cὐa Rồng Tiên, Lᾳc Việt.

Muốn lấy theo dᾳng thần thoᾳi hόa thὶ lấy hὶnh chim cắt, rắn nước đᾶ cάch điệu hόa, thể điệu hόa tức là dưới dᾳng thần thoᾳi hόa đύng theo nghῖa Tiên Rồng.

Một chiếc thuyền trên trống Quἀng Xưσng cό đầu hὶnh rắn nước và đuôi là đầu chim cắt đᾶ cάch điệu hόa tức đᾶ thần thoᾳi hόa. Đây là dᾳng Rồng Tiên Rắn Nước-Chim Cắt. Con thuyền này ở dᾳng Lᾳc Hồng (Rắn Lᾳc, Rắn Nάc, Rắn Nước và Hồng là chim Hồng Hoàng, tức chim cắt).

Lưu у́ hai người trên thuyền là hai người Việt mặt trời (cό chữ nὸng nọc vὸng trὸn-que hὶnh vὸng trὸn cό chấm cό một nghῖa, theo duy dưσng, là mặt trời). Đây là người tộc chim hόa trang thành người chim-mặt trời. Một người tay phἀi cầm biểu tượng chim, một người cầm biểu tượng rắn thể điệu hόa. Hai người là con chάu cὐa Tiên Rồng.

Cὸn nếu muốn cho vᾰn vẻ, cho ‘nghệ thuật’ thὶ cάc nhà làm vᾰn hόa, làm nghệ thuật cό thể tha hồ làm theo đầu όc mў thuật, sάng tᾳo cὐa mὶnh mà tô điểm, vẽ vời thêm, thẩm mў hόa thêm… cho nό mang phong thάi Tiên Rồng, miễn là phἀi giữ cốt chim cắt, rắn nước.

Một kiểu mẫu chim cắt rắn nước Tiên Rồng cὸn thấy ở cάc tộc Lᾳc Việt hἀi đἀo ở Nam Đἀo, Đa Đἀo.

Xin nhắc lᾳi cάc tộc Việt ở cάc đἀo này đa số là một thứ Lᾳc Việt hἀi đἀo. Họ cὸn giữ nhiều truyền thống thuần Việt không hề bị ἀnh hưởng cὐa vᾰn hόa Trung quốc. Vὶ thế muốn tὶm những thứ gὶ cὸn mang tίnh thuần Việt, cάc nhà làm vᾰn hόa Việt hᾶy hướng xuống vὺng đἀo này.

Vί dụ người Dayak, Borneo, một thứ Lᾳc Việt hἀi đἀo (cό tάc giἀ cho là Bộc Việt), họ cῦng cό hai vật tổ tối cao tối thượng là chim cắt và rắn nước như Chim Rắn Tiên Rồng chύng ta.

Theo truyền thuyết cὐa người Ngaju, Dayak, Rắn Nước Watersnake Tampon (trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga) là thần Nước Nguyên khởi hay Âm thế (deity of the Primeval water or Nether world). Dưới thời ἀnh hưởng vᾰn hόa Hindu, vị thần này được gọi dưới tên là Bawin Jata Balawang Bulau cό nghῖa là “ thần nữ Jata với cửa vàng” (the feminine Jata with the golden door”). Biểu ngữ “cửa vàng” chỉ âm hộ phάi nữ (the expression “golden door” is a euphemism for the female pudenda) (Hans Scharer, tr.15).

Điểm này, như đᾶ thấy ở trên, giống như ở mῦi cάc con thuyền trên trống đồng âm dưσng Ngọc Lῦ I và cάc trống cὺng nhόm cό hὶnh miệng Rắn Nước hά rộng biểu hiện bộ phận sinh dục nữ cό con chim rὶu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam đâm vào trong (Ý Nghῖa Những Hὶnh Thuyền trong Giἀi Đọc Trống Đồng Nὸng Nọc, Âm Dưσng Đông Nam Á).

Hὶnh ἀnh hai vật tổ rắn nước chim cắt này thấy rất nhiều trong vᾰn hόa Dayak như đᾶ biết Dayak cό cάc thuyền linh hồn rắn nước và chim cắt, cό quan tài rắn nước và chim cắt, cό cάc nhà thờ phượng cό trang trί rắn nước và chim cắt… (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Nhưng hὶnh ἀnh thần tổ tối cao tối thượng rắn nước và chim cắt diễn đᾳt thuyết Vῦ Trụ Tᾳo Sinh thấy rō nhất ở Trên Cây Vῦ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) cὐa Người Dayak.

Cây Đời Sống Sanggaran với chim cắt và rắn nước (vẽ từ vᾰn bἀn Dayak hiện lưu trữ tᾳi Thư Viện Đᾳi Học Leiden, mᾶ số Or.888o0/2)

(Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ở đἀo Lombok, mặc dὺ ngày nay theo Hồi giάo, hὶnh bόng vật tổ chim cắt và rắn nước vẫn cὸn tồn tᾳi. Đặc biệt là rắn đᾶ được thần thoᾳi thành Rắn Thần (cό thể coi một thứ Rắn-Rồng Việt):

Biểu tượng Rắn-Rồng cὐa người Đἀo Lombok, Nam Dưσng (ἀnh cὐa tάc giἀ).

Biểu tượng trên chiếc khay để nhᾳc cụ cổ truyền này cho thấy rất rō hὶnh hai con rắn đᾶ thần thoᾳi hόa nhưng vẫng giữ cốt rắn. Rắn Rồng vẫn cό thân rắn cό vẩy rắn, vẩy cά. Đầu không cό sừng chỉ cό mào mang dưσng tίnh ngành âm. Điểm đặc thὺ nhất cho biết đây là rắn rồng là không cό chân nhưng cό lưỡi lѐ ra khὀi miệng, đây là những điểm chuyên biệt cὐa rắn. Như đᾶ nόi ở trên, Rồng như rồng Trung quốc cốt cά sấu cό chân và lưỡi không lѐ ra khὀi miệng (lưỡi cά sấu dάn sάt vào hàm dưới). Rắn-Rồng Lombok trᾰm phần trᾰm là cό cốt Rắn Nước, Rắn Nάc, Rắn Lᾳc ruột thịt với Rồng-Rắn nước Lᾳc Long Quân (Nam Dưσng: Hὶnh Bόng Âu Lᾳc ở Đἀo Hồi Giάo Lombok, Nam Dưσng). Như thế Rồng Việt chίnh thống là rồng rắn không cό chân và cό lưỡi thѐ ra khὀi miệng.

Đây là khuôn mẫu cho cάc nhà làm vᾰn hόa Việt sάng tᾳo ra con rồng Việt vẫn giữ nguyên cốt rắn.

Tưσng đồng nhất với Tiên Rồng là ở Ai Cập cổ, vὺng Ai Cập Thượng ở trên nύi phίa đầu nguồn sông Nile là tộc Chim Kên Kên và vὺng Ai Cập Hᾳ ở châu thổ sông Nile phίa biển Địa Trung Hἀi là tộc Rắn Hổ Mang (Sự Tưσng Đồng Với Ai Cập cổ).

Cῦng xin nόi rộng thêm ra một chύt để giἀi tὀa nỗi thắc mắc cὐa một số người là tᾳi sao tôi chứng minh cό sự tưσng đồng giữa Việt Nam với Nam Đἀo, Đa Đἀo, Ai Cập cổ, Ấn Độ, Thổ Dân Mў Châu, Âu châu… Tất cἀ cάc tộc vừa kể đều cό cốt lōi vᾰn hόa dựa trên nὸng nọc, âm dưσng, nguyên lу́ cᾰn bἀn cὐa Vῦ Trụ Tᾳo Sinh, Vῦ Trụ giάo, Dịch. Hiển nhiên cάc tộc trong Bάch Việt hay cό dây mσ rễ mά với Bάch Việt như Nhật, Đᾳi Hàn, Nam Đἀo, Đa Đἀo, Thổ Dân Mў châu… cό vᾰn hόa tưσng đồng với Việt Nam. Cὸn cάc tộc cὸn lᾳi cό vᾰn hόa bị ἀnh hưởng cὐa nền vᾰn hόa nguồn cội cὐa loài người ở vὺng Đông Nam Á, địa bàn cὐa cổ Việt. Tάc giἀ James Churchward trong The Lost Continent of Mu (Lục Địa Mẹ Đᾶ Mất) cho rằng ở vὺng đất Mẹ, Đất Mụ (Mu) ở vὺng Đông Nam Á này (ngày nay một phần đᾶ chὶm xuống biển trở thành Nam Đἀo, Đa Đἀo) là cάi nôi cὐa nền vᾰn minh nhân loᾳi và gần đây Stephen Oppenheim trong Eden in The East (Địa Đàng Phưσng Đông) xάc nhận lᾳi vὺng này mà ông gọi là Sundaland là cάi nôi cὐa vᾰn minh nhân loᾳi. Hai tάc giἀ này chứng minh nền vᾰn minh huy hoàng ở cάi nôi vᾰn hόa này tὀa đi khắp nσi, đến Ấn Độ, Lưỡng Hà rồi từ đό tới Âu châu…

Vὶ vậy cῦng xin nhắc lᾳi, cάc nhà làm vᾰn hόa Việt hᾶy hướng xuống cάi nôi vᾰn hόa này để tὶm những mắt xίch đᾶ mất trong vᾰn hόa Việt, kiểm chứng, kiểm điểm lᾳi những gὶ mà sάch vở và vᾰn hόa Trung quốc đᾶ cố gắng tẩy xόa, bόp mе́o, xuyên tᾳc với mục đίch đồng hόa vᾰn hόa Việt. Từ đό điều chỉnh lᾳi, lấy lᾳi cάi bἀn sắc Việt, cᾰn cước Việt chίnh thống cὐa Việt Nam.

Kể từ nay nếu xây cάc chὺa chiền, đền Hὺng, cάc cσ sở vᾰn hόa xin đừng dὺng rồng phượng, nhất là dὺng rồng phượng cὐa Trung quốc. Nếu muốn giữ theo vᾰn hόa Việt muộn Tiên Rồng thὶ hᾶy dὺng Tiên Rồng cό cốt Chim Cắt-Rắn Nước dưới dᾳng thần thoᾳi cὐa chύng ta.

Tόm lᾳi cốt lōi vᾰn hόa Việt là lưỡng hợp nὸng nọc, âm dưσng, Tiên Rồng. Biểu tượng Tiên Rồng phἀi cό cốt là chim nọc và Rắn nὸng mang trọn vẹn triết thuyết Vῦ Trụ Tᾳo Sinh, Dịch lу́.

Hᾶy lấy hai biểu tượng chim cắt nọc và rắn nước nὸng ứng với Tiên Rồng làm biểu tượng cho vᾰn hόa cὐa Người Việt Mặt Trời, thờ mặt trời trong Vῦ Trụ giάo. Điểm này ᾰn khớp với tất cἀ cάc nền vᾰn hόa thờ mặt trời trong Vῦ Trụ giάo như Ai Cập cổ, Maya, Aztec, cάc tộc thổ dân Mў châu khάc như trong nền vᾰn hόa Mississipi… Tất cἀ đều cό vật biểu là chim nọc và rắn nὸng.

Hᾶy lấy hὶnh ἀnh tộc người mặt trời chim cắt ứng với Tiên và tộc người mặt trời rắn nước ứng với Rồng trên trống đồng Quἀng Xưσng làm mẫu mực.

Tưσng đồng nhất với Tiên Rồng là ở Ai Cập cổ, vὺng Ai Cập Thượng ở trên nύi phίa đầu nguồn sông Nile là tộc Chim Kên Kên và vὺng Ai Cập Hᾳ ở châu thổ sông Nile phίa biển Địa Trung Hἀi là tộc Rắn Hổ Mang (Sự Tưσng Đồng Với Ai Cập cổ).

Cῦng xin nόi rộng thêm ra một chύt để giἀi tὀa nỗi thắc mắc cὐa một số người là tᾳi sao tôi chứng minh cό sự tưσng đồng giữa Việt Nam với Nam Đἀo, Đa Đἀo, Ai Cập cổ, Ấn Độ, Thổ Dân Mў Châu, Âu châu… Tất cἀ cάc tộc vừa kể đều cό cốt lōi vᾰn hόa dựa trên nὸng nọc, âm dưσng, nguyên lу́ cᾰn bἀn cὐa Vῦ Trụ Tᾳo Sinh, Vῦ Trụ giάo, Dịch. Hiển nhiên cάc tộc trong Bάch Việt hay cό dây mσ rễ mά với Bάch Việt như Nhật, Đᾳi Hàn, Nam Đἀo, Đa Đἀo, Thổ Dân Mў châu… cό vᾰn hόa tưσng đồng với Việt Nam. Cὸn cάc tộc cὸn lᾳi cό vᾰn hόa bị ἀnh hưởng cὐa nền vᾰn hόa nguồn cội cὐa loài người ở vὺng Đông Nam Á, địa bàn cὐa cổ Việt. Tάc giἀ James Churchward trong The Lost Continent of Mu (Lục Địa Mẹ Đᾶ Mất) cho rằng ở vὺng đất Mẹ, Đất Mụ (Mu) ở vὺng Đông Nam Á này (ngày nay một phần đᾶ chὶm xuống biển trở thành Nam Đἀo, Đa Đἀo) là cάi nôi cὐa nền vᾰn minh nhân loᾳi và gần đây Stephen Oppenheim trong Eden in The East (Địa Đàng Phưσng Đông) xάc nhận lᾳi vὺng này mà ông gọi là Sundaland là cάi nôi cὐa vᾰn minh nhân loᾳi. Hai tάc giἀ này chứng minh nền vᾰn minh huy hoàng ở cάi nôi vᾰn hόa này tὀa đi khắp nσi, đến Ấn Độ, Lưỡng Hà rồi từ đό tới Âu châu…

Vὶ vậy cῦng xin nhắc lᾳi, cάc nhà làm vᾰn hόa Việt hᾶy hướng xuống cάi nôi vᾰn hόa này để tὶm những mắt xίch đᾶ mất trong vᾰn hόa Việt, kiểm chứng, kiểm điểm lᾳi những gὶ mà sάch vở và vᾰn hόa Trung quốc đᾶ cố gắng tẩy xόa, bόp mе́o, xuyên tᾳc với mục đίch đồng hόa vᾰn hόa Việt. Từ đό điều chỉnh lᾳi, lấy lᾳi cάi bἀn sắc Việt, cᾰn cước Việt chίnh thống cὐa Việt Nam.

Nguyễn Xuân Quang