Đọc khoảng: 13 phút

Trong tiếng Việt, chữ “” là một trong những chữ thuộc loại đa dạng vì có nhiều tiếng đôi. Vì có một số độc giả thuộc giới trẻ lớn lên ở hải ngoại, nên mỗi chữ đơn hay chữ đôi liên hệ đến chữ cà đều có kèm theo một giải thích ngắn. Những chữ đặc biệt thì giải thích dài dòng hơn.

Vào khoảng thập niên 1965-75, nhà văn Bình Nguyên Lộc (BNL) có viết nhiều quyển sách nói về sự liên hệ giữa tiếng Việt và tiếng nói của những nước thuộc Đông và Nam Á (Đ&N Á) như: Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (NGML), Lột trần Việt ngữ, Tự vựng đối chiếu 10 ngàn từ (giống nhau giữa các dân tộc Đ&N Á). Trong quyển NGML, BNL cũng đã cho rất nhiều chữ trong tiếng Việt do nguồn gốc mà ông gọi là “Mã Lai” (Mã Lai là tên của một ngôn ngữ, chớ không phải xứ hay quốc gia Mã Lai hoặc chủng tộc Malaysia mà chúng ta thường nghe tới). Ông Lộc cũng cho chúng ta nhiều chữ mà rất nhiều chủng tộc ở vùng Đông Nam Á, bao gồm Khmer, đều dùng với âm và nghĩa giống nhau hay trại đi do điều kiện địa lý, hay ngôn ngữ.

Vào năm 2004, qua một buổi nói chuyện ở Viện Việt Học tại Westminster, California, bác sĩ kiêm học giả Nguyễn Hy Vọng (NHV) cho chúng ta biết ông cũng đã viết xong quyển Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt” (TĐNGTV, Cognatic dictionary of the Vietnamese language). Theo ông, VN, Khmer (Cam Bốt), một số sắc tộc Đồng bào Thượng VN, Thái Lan, Myanmar (tên cũ: Burma hay Miến Điện), một số sắc tộc thuộc Trung Quốc v.v. có chung một nguồn gốc ngôn ngữ mà ông xác định là thuộc nhóm ngôn ngữ “Môn” (đọc là “Mòn”.) Cũng theo NHV, quyển sách của ông liệt kê ra khoảng 27 ngàn chữ đồng âm đồng nghĩa nói trên, trong đó có nhiều ngàn chữ giống nhau giữa VN và Khmer. Ông chưa xuất bản quyển từ điển. Tuy nhiên một phần nhỏ của quyển sách đã được đưa vào CD và chúng tôi có nhận được một CD do ông tặng, trong đó có nhiều trang về chữ cà.

Một số chữ như: cà chớn, cà thọt, cà ròn v.v. là những chữ thuộc một trong hai loại vừa nói bên trên: tiếng Việt gốc Khmer hay những tiếng đồng âm đồng nghĩa giữa Việt Nam và Khmer.

Bệnh Cà Chớn | nguoivietdallas

Một số chữ lại có nguồn gốc từ các nước khác như Anh, Ấn Độ, Pháp, Thái Lan. Có một số chữ cà dùng từ Nam chí Bắc (cà độc dược, cà phê, cà pháo, cà tím, cà kê dê ngỗng, cà mèn, cà mên, cà rịt cà tang v.v. Nhưng một số chỉ thông dụng ở miền Lục Tỉnh (Nam Bộ) mà thôi như: cà dái dê, cà dĩa, cà na, cà chía, cà khịa, cà ràng, cà ròn, cà tăng (trong số nầy có một số chữ cà có gốc Khmer).

Đa số những chữ cà đều liên hệ đến hành động, cử chỉ, dáng đi; hay là tên các loại trái cà. Một số lớn những chữ cà dù ở danh sách phần A hay phần C bên dưới, đều có trong CD vừa nói bên trên của học giả Nguyễn Hy Vọng.

Chỉ riêng có ba chữ Cà da, cà đuối và Chắc Cà Đao là ở trong quyển Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam của học giả Vương Hồng Sển. Vài chữ khác là do chúng tôi nhớ đâu viết đó.

Chữ gốc Thái Lan

Cà khệch: ngờ nghệch, khờ khạo.Thai: kà-khêk (4).
Cà nhong, cà nhõng: đi long bong không định hướng, không mục tiêu. Thai: kh-yong; pay khyong = đi cà nhõng.
Xáp lá cà. Thái: ra ca = con gà. Xáp lá cà = Đánh cận chiến giống như hai con gà đá nhau nên gọi đánh xáp ra ca. Không biết từ lúc nào ra ca trở thành lá cà. Chuyện biến giọng là một hiện tượng tự nhiên trong ngôn ngữ.

Chữ gốc Ấn Độ

Cà ri: Có ba nghĩa: “1. Bột gia vị gốc Ấn Độ gồm nhiều thứ: hột cây cà-ri, nghệ, gừng, đinh hương, ớt, vị . . .Ếch ướp cà-ri. 2. Món ăn dùng cà-ri. Cà-ri gà, cà-ri cá. 3. Ám chỉ người Ấn-Độ (có ý trêu chọc). Trông có vẻ cà-ri lắm.”. Ngày nay, chữ “cà ri” vẫn còn thông dụng.
Cà sa: (S = Sanskrit: kasaya; P = Pali: kesa) hay áo cà sa có nghĩa là áo hoại sắc = áo nhuộm màu bùn, dùng màu từ vỏ cây làm cho bớt vẻ hoa hòe, sặc sỡ. Tu sĩ thường dùng 3 áo (tam y): Chiếc áo ngoài, và là chiếc áo đầu có tên là tăng già lê (S:sanghati). Hai áo kia gồm “áo giữa” hay uất đa la tăng (S:ttarasanga) và áo trong hay an đà hội (S:antarvàsaka). Theo nguyên nghĩa, áo cà sa gồm những miếng vải vụn (lượm được ở các đống rác) ráp lại. Áo shanghati gồm 9 miếng; áo uttarasanga, 7 miếng; và áo antarvàsaka, 5 miếng. Trung Hoa còn gọi áo cà sa là phước điền y, giải thoát y, hay vô cấu y (áo không nhuốm bụi đời).

Chữ có nguồn gốc Pháp

Cà bông hay ma cà bông (vagabond = người đi lang thang không có chỗ ở nhất định)
Cà da (carde) = bàn chải để chải lông ngựa; Động từ carder = đánh cà da = chải lông cho suông, cho mượt). Chữ nầy chỉ thông dụng trong giới nuôi ngựa ngày xa xưa thời Pháp thuộc, khoảng thập niên 1940-50 về trước.
Cà men = cà mên, hay gào mên: (gamelle): vật dụng đựng thức ăn.
Cà nong: (canon) = súng đại bác, đại pháo.
Cà nong: (trong bài thơ ở phần cuối tác giả của bài thơ dùng chữ nầy để chỉ dương vật).
Cà phê: (café) loại cây có hột đậu dùng làm thức uống.
Cà rá = nữ trang đeo ở ngón tay, thường có nhận hột xoàn (kim cương) do chữ carat mà ra.
Cà vạt: hay cà ra oách, (Pháp: cravate, Anh: tie = dây trang hoàng đeo vòng qua cổ và thòng trước ngực. Giáo sư Phan Tấn Tài cho biết thêm nhiều chi tiết về chữ carat vừa nói. Có hai chữ ca ra với hai nghĩa khác nhau:
– Cà rá < ca ra (carat): Trong hợp kim vàng, 1 ca ra là 1/24 (4,16 phần ngàn), là mệnh danh vàng trong hợp kim hệ thống vàng-đồng hay hệ thống vàng-bạc ngày xưa. Cà rá (carat theo nghĩa 1 = mệnh danh vàng), xác định thành phần hay phNm chất vàng. Các loại vàng thông dụng 333, 585, 750, 999 tức vàng 8, 14, 18, 24 ca ra của ngày xưa. Mệnh danh hợp kim vàng ngày nay không dùng ca ra (1/24) mà là 1/1000. Thí dụ vàng 18 ca ra, ngày nay là vàng 18/24×1000 = 750. Cà rá đã việt hóa bình thường hiểu theo nghĩa của carat hợp kim.
– Ca ra (carat) cũng là đơn vị trọng lượng của khoáng chất quí như kim cương: Một ca ra kim cương là 2 décigramme [(0,2 gramme(g) hay 200 miligramme(mg)], gốc từ ngữ carat là keration = trái cồng. Hột trái cồng dùng làm đơn vị trọng lượng trong việc buôn bán kim cương ngày xưa. Vậy ca ra theo nghĩa 2 (kim cương) là đơn vi trọng lượng kim cương. Hai từ “carat” không dính líu nhau về phương diện vật lý.
Cái cà vạt và cái cà rá sống vượt thời gian. N gày nay nó vẫn còn thông dụng cho cả hai phái, chỉ thay đổi màu và phNm chất tùy theo số lượng “anh hai” (tiếng lóng để chỉ tiền). Cà rem (crème): chất sữa béo đông lạnh, như cà rem cây, cà rem va ni (vanille).
Cà rốt (carotte): loại củ màu vàng đỏ dùng nấu súp, hoặc trộn xà lách.

Chữ cà của dân Lục Tỉnh (Những chữ gốc Khmer hay chữ có âm/nghĩa gần giống giữa Khmer và Việt Nam)

Cà: trái cà. Khmer (Khm): kar, klar.
Cà chất: tên một loại gỗ cứng. Khm: ph-ch ất.
Cà chớn: lười biếng, vô tư cách, vô trách nhiệm. Khm: kh-chơi, kchưl = cà chớn; kần chrới = vô trách nhiệm; kàm chơi = nhác nhớm.
Cà đước = Cà hước, hay Cà hớp (hay cà ngáp): thiếu hơi thở, phải hả miệng hít hay hớp thêm hơi. Cá cà hớp cà hớp = ngộp hơi, hả hớp nước và ngậm miệng nhanh liên tục. N gười “ngáp ngáp” là người sắp chết vì thiếu hơi thở. Khm: kh-yơch, kh-lâch (nghẹn cuống họng).
Cà giựt: đi, chạy không tự nhiên, ngập ngừng. Anh ấy bi bịnh nên đi cà giựt cà giựt. Xe gần hỏng máy nên chạy cà giựt cà giựt. (= cà giật, cà giục cà giặc)
Cà kê, cà kê dê ngỗng: nói lòng vòng nói kéo dài từ chuyện nầy sang chuyện khác.
Cà kê: khề khà (cà kê dê ngỗng). Khm: r-kề r-cà.
Cà rà: lNn quNn gần sát một bên. Cà rề cà rề: chậm chạp; đi cà rề cà rề biết bao giờ mới tới, làm việc cà rề cà rề biết bao giờ mới xong.
Cà mèn: con nít còn nhỏ. Khm: kh-mèng
Cà nhóp, cà nhót: dáng đi; đi cà nhắc với một chân hơi cao do nhón lên vi bị đau. Khm: k-nhok, k-chok
Cà nhắt: khập khểnh. Khm: kh-nhak; Dao nhăk nhok = đi ỏng ẹo.
Cà Mau: tên vùng cực N am của VN . Khm: Tuk Khmau = đất đen.
Cà na. Khm: kana. Cà na là loại cây/trái của chi canarium, hình dáng trái cà na không khác gì trái olive và cũng có các màu sắc lúc trái chín như olive: có loại màu đen, có loại màu xanh lợt, có loại màu trắng, cho nên loại cà na đen (loại làm mứt bán trong các tiệm tạp hóa) với tên khoa học canarium pimela được gọi là “chinese black olive”. N ói về vùng sinh sống chánh, Miền N am VN được liệt kê vào hàng đầu, rồi tới Mã Lai, Thái Lan (Thailand), N am Trung quốc. Trái cà na trong tiếng Việt còn được gọi là quả tráp (phương Bắc), Trung quốc gọi là lãm, Khmer gọi là kana. Cùng trong chi canarium có loại cây hạt pili được người Phi Luật Tân (Philippines) gọi là kanari. Cà na là từ ngữ trở thành tên gọi của một chi trong khoa học thảo mộc (canarium), bắt nguồn từ tiếng N am Dương (Indonesia), Khmer hoặc Việt.
Cà om. Khm: ko-om = một loại dụng cụ dùng đựng chất nước với dung tích độ vài lít. VN còn gọi cà om là cái “hũ” hay cái “tỉn”.
Cà ràng. Khm: kran, k-raal = một loại lò bếp, có đáy chứa tro và than. Bếp lò nầy làm bằng đất sét nung, có hai phần rộng, phần rộng phía trước là phần lò lửa, trên miệng có gắn 3 cái chấu (ông táo) để bắc nồi ơ, phần rộng thứ hai là chỗ chứa củi đang chụm. Phần rộng này cũng là nơi chứa tro và than đỏ để làm thành cái bếp nướng (nướng kẹp tre). ((“Đây là kiến trúc lò thông dụng ở tất cả những ngôi nhà nền đất Hậu giang (Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau). Lò có đáy là để tránh hơi ẩm từ lòng đất rút vào củi lúc đốt lửa. Kiến trúc lò này cũng thích ứng để sử dụng “đất cháy” của vùng Cà Mau, khi sử dụng đất cháy, phần rộng thứ hai được dùng làm nơi hâm đất cho thoát hơi nước trước khi đưa vào vùng lò đốt (phần rộng thứ nhứt). Kiến trúc “cà ràng” cũng được thông dụng trong tất cả những nhà sàn vùng Tân Châu, Châu Đốc…, ở nhà sàn, cái đáy của cà ràng còn giữ vai trò bảo vệ cái sàn chống hỏa hoạn, kiến trúc cà ràng cũng rất thông dụng trên những chiếc ghe của dân chài lưới, hoặc những ghe có người sống như nhà lưu động, hoặc nhà hàng lưu động. Cà ràng là một trong những biểu tượng của văn hóa hội nhập suốt từ thời khai hoang miền Nam cho tới những năm 70 của thế kỷ 20.”.))
Cà ròn. Khm: karông = một loại bao nhỏ đa dụng, đan bằng sợi bàng có thể chứa đựng khoảng 20 đến 40 lít, thông dụng nhứt là cà ròn 1 giạ (40 lít); trong lúc bao “bố tời” (chữ Việt gốc Quảng Đông) là loại bao lớn (3 giạ, 120 lít) dùng đựng gạo.
Chắc Cà Đao: tên một con rạch và cũng là tên một chợ nhỏ (nay là thị trấn An Châu) gần thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Học giả Vương Hồng Sển, ghi lại hai giải thích là: Theo ông Nguyễn văn Đính, thì địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khm chắp kdam (= bắt cua) mà ra vì vùng nầy xưa kia có nhiều cua. Theo nhà văn Sơn Nam, Chắc Cà Đao do chữ Prek Pedao; Prek = rạch; pédao = loại dây mây; rạch có nhiều dây mây. Học giả VHS nói ông nghĩ rằng giả thuyết của N guyễn văn Đính hợp lý hơn.
Cà rịt (rịch?) cà tang: từ từ, không gắp rút. Khm: krich, k-krich.
Cà tăng: (Khm ?) cái phên bằng tre dùng làm vách ngăn phòng, hay vách bao vòng quanh, đường kính vài mét, cao khoảng 1 đến 2 mét để ví (đựng) lúa, còn gọi là cái “bồ lúa”.
Cà tong: ốm tong teo. Khm: kr-taong = cà tong cà teo.
Cà thọt: (đi chân thấp chân cao). Khm: kòn chọt = xiêu vẹo.

Bài thơ về Cà của người Nam bộ xưa

TÌNH CÀ

Anh cà tửng nên quen em cà chớn
Anh cà phê, cà pháo, em cà chua
Tình cà giựt, cà rem phơi nắng trưa
Em cà khịa đòi anh mua cà rá.

Anh cà nhong không đi làm gì cả
Thân cà tàng chỉ có khNu cà nông.
Em cà rỡn le lưỡi giống cà rồng
Nên tình mãi cà bông hạch cà đụi

Anh cà rề chờ đón em mỗi tối
Cùng sánh vai cà thọt tới cà ri
Em cà sàng lại chỉ muốn ăn mì
Đành cà rịt cà tang đi quán khác

Cà khịa hoài anh chưa thể kiếm chác
Nên cà khùng chửi em giống cà na
Chộp cà mên em dộng anh dập cà
Tình cà đong cà đưa xa từ đó.

Em thù anh đi lên đèo Cà Ná
Anh buồn tình xuống tận xứ Cà Mau
Cà nhỏng hoài chưa tìm được tình sau
Thân cà tong cà teo sầu cà chớn.

Hành động, nơi chốn, cử chỉ, hình dáng:

Cà: làm cho mòn, làm cho nhỏ, nát ra: cà nhỏ, cà nát, cà nhuyễn, cà cho bóng láng.
Cà: kìa. Ví dụ anh ấy đứng đàng kia cà (kia kìa).
Cà bơ cà bất (cù bơ cù bất): có vẻ xơ xát.
Cà ạch cà đụi (cà hạch cà đụi): có vẻ nặng nhọc.
Cà chía: điệu nhạc giật có nguồn gốc Triều Châu .
Cà đong cà đưa: đong đưa qua lại, không rõ ràng, không nhất định ở phía nào, phe nào.
Cà huynh cà hoang (dáng đi). Hai cánh tay đánh đòng xa dang ra xa khỏi thân mình trong lúc đi một cách chậm chạp, tỏ vẻ quan trọng, bệ vệ.
Cà khật, cà khật cà khùng = cà khật cà khẹo: không bình thường.
Cà khao, cà kheo, cà khêu: cách đi, dáng đi khi dùng khúc gỗ để cao hơn .
Cà khịa: có vẻ gây gổ trong lúc nói chuyện.
Cà lăm, cà lăm cà lặp: nói lập đi lập lại một tiếng (một chữ) nhiều lần, với khoảng cách xa trước khi nói thêm tiếng khác.
Cà lắp cà bắp: nói không được suôn sẻ, lập đi lập lại câu nói nhiều lần.
Cà lơ, cà lơ xít xụi: trù trừ, không làm một việc gì rõ ràng, không có quyết định rõ rệt.
Cà mèng: xấu, xoàng, tệ.
Cà nhắc: đi không tự nhiên với hai chân bước không bằng nhau vì một chân bị đau.
Cà nhắp cà nhắp hay nhắp nhắp: giật nhè nhẹ; cà nhắp cần câu cho mồi di chuyển, hy vọng cá thấy mồi và cắn mồi.
Cà nhom: ốm nhom, gầy yếu.
Cà niểng: dáng đi có khi nghiêng hay xiêu vẹo một bên.
Cà răng căng tai: một phong tục liên hệ đến quan niệm về sắc đẹp,của một số sắc dân ở Phi Châu (Africa) và một số sắc dân ở cao nguyên Việt Nam. Họ dùng vật cứng, giũa hay cà cho răng mòn gần sát nướu răng(lợi răng), và căng trái tai ( phần thòng của vành tai, nơi thường dùng đeo nữ trang), cho xệ xuống, càng dài càng được xem là đẹp.
Cà rà: lNn quNn gần sát một bên.
Cà riềng: nói nhây = cà riềng cà tỏi. (riềng và tỏi là tên hai loại củ, dùng chung để chỉ sự cằn nhằn, sự nói nhây, nói lòng vòng về một việc gì.
Cà rón cà rén: đi một cách rụt rè e ngại như sợ người khác nhìn thấy.
Cà rồng = cà bông: đi lang thang không mục tiêu.
Cà rỡn: nói đùa, nói giỡn, nói nửa thật nửa chơi.
Cà sàng: đổi ý, đổi hướng.
Cà tàng = cà xóc : làm phách, làm tàng, kiêu căng, hỗn láo.
Cà tong 1= cà tong cà teo: ốm
Cà tong 2: tên một loại hưu cao cổ.
Cà tửng: nhảy lên, xuống nhiều lần ở cùng một chỗ, không di chuyển.
Cà thẻ: tiếng Việt mới do dân Việt ở Hoa Kỳ chế ra. N ó bắt nguồn từ cái thẻ credit card hay còn gọi là thẻ nhựa. Cà thẻ hay kéo thẻ = người bán hàng dùng dụng cụ “cà” bánh xe cao su trên thẻ nhựa của người mua để in số thẻ vào biên nhận, và người mua phải ký tên vào xác nhận dịch vụ và số tiền phải trả, (sau nầy khi có loại dụng cụ có cái khe, người mua “kéo” cái thẻ nhựa qua cái khe, để dụng cụ đọc số
thẻ > kéo thẻ).
Cà ùm cà ùm: tiếng cọp gầm.
Cà vom: một loại ghe hay thuyền dài, nhưng bề ngang hẹp, thường chỉ có chèo ở sau phần lái.
Cà xiểng cà niểng: dáng đi nghiêng qua một bên, hay nghiêng qua nghiêng lại.
Cà xóc: (xem cà tàng)
Cà xom: đi khom lưng tay không đánh đòng xa.
Cà trật cà vuột: chuyện làm gặp trở ngại, chưa thành công.
Dập cà: trái cà bị dập, trong bài thơ trên, tác giả dùng chữ cà để chỉ ngọc dương.

Thực phẩm/Động vật/Thảo mộc:

Cà cuống: động vật có mình dẹp, giống loài bọ xích, có chất nước mùi thật đặc biệt, dùng nêm vào nước chấm hay thực phNm khác. Thành ngữ: Cà cuống chết đến đít còn cay = người già rồi mà tánh tình còn khó khăn, mưu mô; cũng có nghĩa chết rồi mà còn để tiếng lại (là người đặc biệt về một chuyện gì).
Cà cưỡng: Theo Tự Điển Việt Nam cà cưỡng còn có tên là sáu sậu, một loài chim “bước đi hoặc nhảy, biết nhái tiếng người”. Chúng tôi đồng ý với Ts Phan Tấn Tài là dân Lục Tỉnh quen gọi nó là con cưỡng (không có chữ cà ở trước), con nhòng hay con sáo.
Cà đuối: tên một loại thảo mộc, gỗ cứng; nhiều công dụng như: làm sườn nhà, sườn xe, đà đường sắt xe lửa, đóng ghe thuyền
Cà Láng: cà nổi tiếng ngon ở một địa danh tên Láng ở miền Bắc Việt N am. Ca dao:
Dưa La, cà Láng, Nem Báng, tương Bần
Nước mấm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét.
Cà phê cà pháo: tiếng cà phê có thêm chữ cà pháo (tiếng đệm) cho có vần điệu.
Xốt cà: nước xốt (sauce) = nước chấm làm từ cà chua.

TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH:

1. Bình N guyên Lộc (1971). N guồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt N am, N xb Xuân Thu xb lại ở HK, Los Alamitos California, USA. (không thấy đề năm nào).
2. Lê N gọc Trụ (1993). Tầm-nguyên tự điển Việt-N am. N xb TP Hồ Chí Minh. VN .
3. Lê N gọc Trụ, Lê Văn Đức (1970). Việt N am Tự Điển, nxb Khai Trí SG/VN
4. N guyễn Hy Vọng (2005). Tự điển nguồn gốc tiếng Việt. CD, Tác giả phát hành. California, USA.
5. Sơn N am (1968 (?). Lịch sử khai hoang Miền N am. N xb Lá Bối, Sài Gòn, VN
6.Vương Hồng Sển (1993). Tự vị tiếng Việt miền N am. N xb Văn Hóa, Tp Hồ Chí Minh, VN .

TƯ LIỆU :

7. Phan tấn Tài (sưu tầm và gởi qua email): Bản đối chiếu tên khoa học, tên VN , và tên Khm một số thủy sản ở miền N am; một số tên các loại thảo mộc.

Nguyễn Hữu Phước