Đọc khoἀng: 32 phύt

Trong lύc luận bàn và tὶm hiểu vᾰn hόa và con người trong vὺng đất mới, đôi lύc tôi cό đế cập đến con người và vᾰn hόa vὺng đất cῦ. Sự kiện nêu lên vài khάc biệt cὐa hai nền vᾰn hόa mới cῦ không hàm у́ một phάn đoάn giά trị, khen chê, mà chỉ muốn nόi lên những biến đổi cὐa người Việt Nam trong môi trường sống mới, gợi lên những đa diện cὐa nền vᾰn hόa Đᾳi Việt và những độc đάo cὐa nền vᾰn hόa mới ở phưσng nam.

Bài này gồm 3 tiểu đề: Đất Nam Kỳ, Người Nam Kỳ, Vᾰn Học Nam Kỳ.

Đất Nam Kỳ

Vὺng đất mà trước đây gọi là Đồng Nai-Gia Định, và hiện nay được gọi là Nam Kỳ, cho đến đầu thế kỷ 17 vẫn cὸn là một vὺng đất hoang vu, rừng rύ, sὶnh lầy, dẫy đầy rắn rίt và trᾰm ngàn thύ dữ.

Đồng Nai xứ sở lᾳ lὺng
Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um

Luctinh

Lịch sử hὶnh thành và phάt triển Nam Kỳ lục tỉnh là lịch sử cὐa gần 400 nᾰm gian khổ khẩn hoang lập làng cὐa những nhόm lưu dân Việt Nam từ Đàng Trong xuôi Nam, cὐa những nhόm lưu dân Trung hoa bài Mᾶn, phục Minh và sự cộng cư cὐa cάc thổ dân bἀn địa.

Sự hὶnh thành và phάt triển ấy lᾳi được tάc động bởi 3 yếu tố chίnh trị: sự tan rᾶ cὐa chάnh quyền Cao Miên, nhu cầu cὐa một cuộc nội chiến Việt Nam, và sự đô hộ cὐa Phάp.

Tưởng cῦng nên nhắc rằng, vὺng đất hoang vu nầy, trước đό, từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ 7 thuộc về Vưσng Quốc Phὺ Nam, bao gồm một vὺng đất bao la trἀi dài từ lưu vực sông Cửu Long đến sông Mе́nam (Thάi Lan), xuống đến tận cάc đἀo Mᾶ Lai. Vưσng quốc nầy gồm những dân cư hἀi đἀo như Mе́lanе́sien, Indonе́sien, Môn, theo vᾰn minh Ấn độ. Di tίch cὸn tὶm thấy được cὐa nền vᾰn minh Phὺ Nam, thường gọi là vᾰn minh Óc Eo do Louis Mallaret, thuộc trường Viễn Đông Bάc cổ khάm phά ra nᾰm 1944 ở Óc Eo gần nύi Ba Thê (Châu Đốc), gồm một cổ thành dài 1500m và nhiều cổ vật gồm đồ trang sức bằng vàng, cό đồng tiền La Mᾶ.

Vὶ lẽ cάc vua chύa Phὺ Nam bόc lột hà khắc quά đάng dân chύng, nên cό một cuộc nổi dậy cὐa một sắc tộc tên là Kambuja (những đứa con cὐa Kambu, tên cὐa thὐ lᾶnh, sau nầy được người Phάp đổi lᾳi là Cambodge) từ miền Korat (Bắc Cam Bốt và Hᾳ Lào bây giờ) tràn xuống vὺng Biển Hồ, đάnh đuổi người Môn và lập nên Vưσng Quốc Chân Lᾳp vào thế kỷ thứ 6.. Vưσng quốc Phὺ Nam bị tan rᾶ, một số người Môn chᾳy sang sinh sống ở vὺng sông Mе́nam (Thάi Lan), Miến Điện, một số ίt lưu lᾳc lên vὺng Tây Nguyên. Vưσng quốc mới nầy đόng đô ở Anglor và phάt triển quyền lực ở vὺng Biển Hồ mà cao điểm là xây dựng cάc đền đài Anglor (vὺng Siemreap) vào thế kỷ 12-13. Anglor Wat, là đền đài lớn nhứt được xây từ 1112 đến 1152, bề dài đến 1000m, bề ngang 850m.

Đến thế kỷ 13, Anglor bao gồm một diện tίch độ 100km2 và là một trong những thành phố lớn nhứt thế giới thời ấy. Nᾰm 1431, Xiêm tàn phά Anglor, vưσng triều phἀi dời về Phnom Penh (1434). Đến thế kỷ 16 thὶ kinh đô dời về Oudong rồi mới trở lᾳi Phnom Penh từ 1866 dưới thời Norodom đệ nhất. Anglor từ đό đᾶ bị bao phὐ trong rừng sâu cho đến nᾰm 1851 mới được Mouhot, một nhà côn trὺng học người Phάp vô tὶnh tὶm thấy nhân khi đi nghiên cứu côn trὺng và chỉ bắt đầu được trὺng tu lᾳi từ 1880. (Encyclopе́die Encarta 2001. Paris: Microsoft, 2001, article sur le Cambodge).

Nhưng nội bộ cάc vưσng tộc Chân Lᾳp, từ lύc thành lập, luôn luôn tranh chấp nhau, chia cắt đất nước thành nhiều lᾶnh địa (như vào thế kỷ thứ 8 cό đến 5 lᾶnh địa). Họ rất hiếu sάt và hay trἀ thὺ, trong 3 lần dời kinh đô từ Anglor, qua Oudong rồi Phnom Penh hay mỗi lần thay đổi triều đᾳi, dân Miên tàn phά hết di tίch và tàn sάt phe đối nghịch. Nội chiến đᾶ làm quốc gia suy yếu, Chân Lᾳp thường bị Xiêm (đến 1939 mới đổi là Thάi Lan) nhiều lần đάnh chiếm đất đai hay phἀi cắt đất dâng cho Xiêm mỗi khi cό một ông hoàng Miên sang Xiêm cầu cứu.

Cuộc Nam Tiến cὐa dân ta đᾶ bắt đầu trong bối cἀnh nội chiến nầy cὐa xứ Chân Lᾳp và cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn cὐa nước ta.

Nᾰm 1620, vua Chey Chetta 2 đến Thuận Hόa xin cầu hôn với Công Chύa Ngọc Vᾳn (khi trở thành Hoàng Hậu cό tên là Ang Cuv hay Sam Đάt), con cὐa Chύa Sᾶi Nguyễn Phύc Nguyên. Cuộc hôn nhân nầy chẳng qua là một dịp đi tὶm đồng minh cὐa vua Chân Lᾳp, cầu viện chύa Nguyễn để đάnh lᾳi Xiêm lύc nào cῦng đe dọa Chân Lᾳp. Chύa Nguyễn cῦng lợi dụng việc gἀ con gάi để đưa quan quân lên Chân Lᾳp và mang về những tiếp liệu cần thiết (lύa gᾳo, trâu bὸ, voi) để đάnh chύa Trịnh và đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vὺng đất Phὺ Nam cῦ ở hᾳ lưu sông Cửu Long. Tuy trên danh nghῖa là đất Chân Lᾳp, nhưng trong thực tế là đất vô chὐ bởi lẽ từ nhiều thế kỷ, vὶ sự suy yếu nội bộ, vὶ chiến tranh liên tiếp với Xiêm, vὺng đất nầy hoàn toàn hoang vu không cό guồng mάy cai trị cὐa Chân Lᾳp.

Trước khi người Việt đến, vὺng nầy chỉ cό vài mưσi nόc nhà người Miên-Môn, ở trên cάc gὸ cao ở sâu trong rừng vὺng Preikor (Saigon), sống biệt lập với người Miên và chάnh quyền Miên ở vưσng triều.

– Nᾰm 1623, niên kỷ đầu tiên đάnh dấu cuộc Nam Tiến, chύa Sᾶi cho đặt hai trᾳm thu thuế ở Prei Nokor (Sài Gὸn, nay ở khoἀng Quận 5) và Kas Krobei (Bến Nghе́, nay ở khoἀng Quận 1); (theo Địa Chί Vᾰn Hόa TPHCM, tr. 475)

– Sự kiện chύa Nguyễn cho đặt hai trᾳm thu thuế cho phе́p ta suy luận rằng trước đό, lưu dân người Việt đᾶ đến khẩn hoang lập làng ở vὺng đất vô chὐ nầy rồi, và trᾳm thuế cὐa chύa Nguyễn chỉ là chάnh sάch «dân làng đi trước nhà nước theo sau».

Trịnh Hoài Đức cῦng xάc nhận trong GĐTTC: Dân Nam vô Mô Xoài từ cάc tiên Hoàng Đế tức Nguyễn Hoàng (1558-1613), Nguyễn Phước Nguyên (1613-1625).

Như vậy, Mô Xoài (tức Bà Rịa bây giờ) là địa điểm đầu tiên cό người Việt đến quần cư (vὶ trên gὸ cao, gần sông, biển).

Từ đό, Chύa Nguyễn khuyến khίch dân Thuận Quἀng và đưa tὺ binh bắt được trong cuộc chiến tranh với Chύa Trịnh vào Nam khẩn hoang lập ấp ở vὺng đất mới. Sử cῦ ghi là nᾰm 1665 cό độ 1000 người Việt vào lập nghiệp ở vὺng đất mới nầy.

Sau những đợt di dân tự nguyện và cưỡng bάch cὐa người Việt, vào cuối thế kỷ 17, cό hai đợt di dân cὐa người Trung Hoa đến.

– Nᾰm 1679, khoἀng 3000 binh sῖ trung thành với nhà Minh đi trên 50 chiến thuyền đến xin Chύa Nguyễn cho lập nghiệp. Chύa Nguyễn chia ra hai nhόm, một nhόm do Trần Thượng Xuyên chỉ huy đến khai phά vὺng Cὺ Lao Phố (Biên Hὸa), Gia Định, một nhόm do Dưσng Ngᾳn Địch chỉ huy xuống Mў Tho và Cao Lᾶnh. Trong cuộc cộng cư nầy, những cuộc hôn nhân giữa người Tàu (là binh sῖ độc thân) và người Việt đᾶ sớm thành hὶnh.

– Nᾰm 1710, theo Giάo Sῖ Labbе́, số người Việt và Minh Hưσng lên đến 20000 người, phần lớn tập trung trong vὺng Đồng Nai và Tiền Giang.

– Nᾰm 1681, một nhόm di dân khάc cῦng người Minh do Mᾳc Cửu chỉ huy đổ bộ lên đἀo Koh Tral (Phάp âm từ tiếng Miên là Koh Sral = Tiếng Việt là Phύ Quốc) rồi dὺng đường bộ lên Kampot, đến Oudong xin thần phục vua Miên.

Mᾳc Cửu được vua Miên cho phе́p khai thάc một vὺng đất rộng lớn trong vịnh Xiêm La, mở sὸng bᾳc, buôn bάn với cάc ghe tàu qua lᾳi, thu hύt lưu dân Trung Hoa từ khắp nσi tới, cό một thế lực rất lớn trong vὺng, bị vua Xiêm đάnh phά, Mᾳc Cửu được chύa Nguyễn cứu trợ, nên sau khi dẹp được quân Xiêm, Mᾳc Cửu xin sάt nhập tất cἀ đất đai đᾶ khai khẩn về chύa Nguyễn.

Nᾰm 1732, chύa Nguyễn cho lập trấn Hà Tiên, nhưng vẫn để Mᾳc Cửu cai trị. Những cuộc liên minh sau đό giữa con Mᾳc Cửu là Mᾳc Thiên Tứ với vua Chân Lᾳp để chống lᾳi hay để thần phục chύa Nguyễn đᾶ khiến một vὺng đất rộng lớn từ Hà Tiên, Châu Đốc (Tâm Phong Long), Cần Thσ (Tầm Bôn), Long Xuyên (Lôi Lᾳp) qua đến lᾶnh thổ Cao Miên hiện nay như Kompong Som, Kampot… lần lượt sάt nhập vào đất đai cὐa chύa Nguyễn.

Trong việc lập quốc Nam Kỳ, một vấn đề cần được minh xάc.

Vὶ thiên kiến cὐa một số người Miên quά khίch phần lớn thuộc thuộc hoàng tộc, vὶ quyền lợi cὐa thực dân Phάp, và vὶ όc tự hào quά đάng cὐa một số người Việt, một thiên kiến thường được nhắc đến theo đό thὶ đất Nam Kỳ là đất Thὐy Chân Lᾳp khi xưa đᾶ bị VN thôn tίnh bằng vō lực.

Lập luận nầy sai vὶ những lу́ do sau đây:

– Lύc ban đầu, cuộc Nam Tiến là một cuộc cộng cư giữa người Việt, người Tàu và người bἀn địa (Miên, Môn, Chàm) để khẩn hoang một vὺng đất vô chὐ.

– Sau đό, đến thế kỷ 18, những đất đai vὺng châu thổ Cửu Long và vὺng ven vịnh Xiêm La mà vua chύa Chân Lᾳp lần lượt chuyển nhượng, hoặc trực tiếp cho chύa Nguyễn, hoặc giάn tiếp qua tay dὸng họ Mᾳc là những mόn quà để đổi lᾳi sự giύp đỡ quân sự cho Chân Lᾳp để bἀo vệ đất Chân Lᾳp, chống đỡ lᾳi sự uy hiếp thường xuyên cὐa Xiêm La. Đối với người Miên, đό là những cử chỉ thần phục, hσn nữa những đất đai mà vua Miên dâng tặng cho chύa Nguyễn không hẳn thuộc vua Miên, vὶ từ sau khi Phὺ Nam tan rᾶ, vὺng đất nầy chẳng bao giờ được Miên kiểm soάt hay đặt bộ mάy cầm quyền.

Nếu dựa vào cάc nguyên tắc về công phάp quốc tế ngày nay cῦng như theo quan niệm vưσng quyền thời quân chὐ ngày xưa, vὺng đất hoang vu thường được gọi là Thὐy Chân Lᾳp trước khi chύa Nguyễn đưa dân Thuận Quἀng vào lập nghiệp không thể xem là đất cὐa Chân Lᾳp. Ngày nay, để được gọi là quốc gia, cần cό ba yếu tố: lᾶnh thỗ, dân tộc, và chάnh quyền, cῦng như ngày xưa, khi uy quyền cὐa vua lan rộng đến đâu thὶ lᾶnh thổ nới rộng đến đό. Thần dân tὺy thuộc một triều đᾳi chớ không tὺy thuộc một lᾶnh thổ. Nσi nào dân không nộp thuế khόa, không triều cống phẩm vật, nσi đό xem như đất vô chὐ.

Cῦng cần biết là trước khi người Phάp chiếm toàn cōi Đông Dưσng (1893), ranh giới giữa cάc quốc gia chỉ là ước định và nhân danh triều đὶnh Huế, người Phάp đᾶ kу́ nhiều hiệp ước song phưσng với cάc xứ Đông Dưσng vào cuối thế kỷ 19 để phân định ranh giới cάc xứ.

Riêng với VN, để bἀo vệ quyền lợi cάc đồn điền Phάp, chάnh phὐ thuộc địa đᾶ tự tiện kу́ cάc hiệp ước phân định ranh giới với Miên, như lấn tỉnh Svayrieng vào lᾶnh thổ VN, cắt Kompong Som, Kampot sάt nhập lᾳi cho Cao Miên (để nới rộng cάc đồn điền cao su cὐa tư bἀn Phάp và dễ dàng hόa việc chuyển vận cao su qua cάc hἀi cἀng ở vịnh Xiêm La), bὺ lᾳi sάt nhập đἀo Phύ Quốc vào Nam Kỳ.

Và cῦng cần ghi nhận thêm, trong nhiều sάch sử Miên (Mak Phoen. Chroniques royales du Cambodge – Paris: EFEO, 1981 và Khin Sok. Le Cambodge entre le Siam et le VN de 1775 à 1860- Paris: EFEO, 1991) họ không nόi đến chuyện VN đάnh chiếm đất, mà lường gᾳt chiếm đất.

Điều cῦng cần biết là không phἀi riêng gὶ VN được tặng đất mà Xiêm cῦng được tặng đất và được tặng nhiều hσn. Những tỉnh Chantaburi, Prachinburi, Xurin, Xixaket… ngày nay cὐa Thάi Lan trước kia là đất cὐa Chân Lᾳp.

– Đến nᾰm 1768, cuộc Nam Tiến cὐa dân Việt Nam coi như đᾶ chấm dứt.

Lᾶnh thổ Nam Kỳ lύc nầy được chia thành 3 tỉnh: Đồng Nai (bao gồm cάc vὺng đất miền Đông), Saigon (bao gồm cάc vὺng đất từ sông Saigon đến cửa Cần Giờ) và Long Hồ (bao gồm cάc vὺng đất miền Tây).

Tuy phân chia như vậy, nhưng ranh giới cάc địa phưσng sinh tồn nầy trong thực tế không rō ràng minh định mà thường dựa theo cάc bὶa đất đᾶ canh tάc cuối cὺng, khi cό làng xᾶ thiết lập, hay khi cό ngôi đὶnh làng. Trong cuộc cộng cư nầy, thuở ban đầu, người Hoa và người Việt sinh hoᾳt theo lối da beo (thành từng đốm), nghῖa là họ canh tάc ở vὺng đất thấp, cᾳnh trục giao thông, không xâm nhập vào cάc vὺng đất, làng xᾶ cὐa người Miên thường gọi là srok (sόc) trong cάc vὺng đất cao.

– Từ nᾰm 1802, nᾰm Gia Long lên ngôi đến nᾰm 1859, nᾰm người Phάp chiếm Saigon, công tάc cὐa nhà Nguyễn không cὸn mở rộng đất đai ngoᾳi vi, mà tập trung khai khẩn vὺng nội địa bằng cάch đào thêm kinh rᾳch (kinh Vῖnh Tế, kinh Vῖnh An), lập thêm đồn canh để bἀo vệ lᾶnh thổ (như vὺng Tây Ninh, Thὐ Dầu Một) hay đưa người Việt, người Minh Hưσng đến lập nghiệp cάc vὺng cό người Miên (Ba Xuyên, Trà vinh…).

Và cῦng từ đό, đất Nam Kỳ nhiều lần được thay đổi tên gọi.

Nᾰm 1808, dưới thời Gia Long, Nam Kỳ được gọi là Gia Định Thành bao gồm 5 trấn: Hà Tiên, Vῖnh Thanh, Định Tường, Phiên An, Biên Hὸa.
Nᾰm 1834, dưới thời Minh Mᾳng, 5 trấn được đổi thành 6 tỉnh. Danh từ Nam Kỳ lục tỉnh xuất hiện kể từ nᾰm nầy.
Nᾰm 1880, dưới thời Phάp thuộc, Nam Kỳ được chia ra làm 20 hᾳt rồi 20 tỉnh theo vần vѐ như sau:
Gia (Định) Châu (Đốc) Hà (Tiên) Rᾳch (Giά) Trà (Vinh) Sa (Đec) Bến (Tre) Long (Xuyên) Tân (An) Sόc (Trᾰng) Thὐ (Dầu Một) Tây (Ninh) Biên (Hoà) Mў (Tho) Bà (Rịa) Chợ (Lớn) Vῖnh (Long) Gὸ (Công) Cần (Thσ) Bᾳc (Liêu)

• Nᾰm 1947, lập thêm tỉnh thứ 21: Cap St-Jacques (Vῦng Tàu)
• Nᾰm 1945: Nam Bộ.

1948: Nam Phần, dưới thời chάnh phὐ Nguyễn Vᾰn Xuân
1954: Miền Nam, sau hiệp định Genѐve để chỉ vὺng đất VNCH Nam vῖ tuyến 17 gồm 40 tỉnh.
Cό lẽ địa danh Nam Kỳ tồn tᾳi hσn 100 nᾰm nên dịa danh lịch sử nầy đᾶ được thường xuyên sử dụng bởi dân cἀ 3 miền Nam Trung Bắc. Nhưng sau nầy, khi nόi Lục tỉnh, dân Saigon thường hiểu là miền Hậu Giang.

Người Nam Kỳ

Người dân miền Thuận Quἀng, sau gần 400 nᾰm tiếp cận với nền vᾰn hόa bἀn địa Phὺ Nam – Chân Lᾳp, với người Minh Hưσng và người Phάp, bị tάc động bởi một môi trường thiên nhiên khắc nghiệt thuở ban đầu nhưng trὺ phύ về sau, điều kiện đᾶ tᾳo cho họ những nе́t đặc thὺ mà từ ngôn ngữ đến tâm tὶnh lẫn tâm tίnh cό nhiều khάc biệt với tổ tiên cὐa họ ở Đàng ngoài.

Trước tiên, ngôn ngữ là một đổi thay lớn và nhanh chόng.

Chỉ một thế hệ, Nguyễn Đὶnh Chiểu, con cὐa Nguyễn Đὶnh Huy gốc người quận Phong Điền ở Huế được bổ nhiệm vào Gia Định phὸ tά Lê Vᾰn Duyệt đᾶ viết nên Lục Vân Tiên, một tάc phẩm tiêu biểu cὐa miền Nam với những lời vᾰn nôm na, bὶnh dân trάi với với vᾰn phong Hάn Học cὐa ông cha.

– Tiên rằng: Bớ chύ cōng con
Việc chi nên nỗi bon bon chᾳy hoài

hay

– Phong Lai mặt đὀ phừng phừng
Thằng nào dάm tới lẫy lừng vào đây.

Nhiều nhà chίnh trị, vᾰn hόa nổi tiếng cὐa Việt Nam và miền Nam vào thế kỷ 19 đa số là người Thuận Quἀng hay người Minh Hưσng. Thί dụ như Gia Định Tam gia gồm cό Trịnh Hoài Đức gốc người Phước Kiến (định cư ở Biên Hὸa, tάc giἀ bộ địa phưσng chί Gia Định Thành Thống Chί), Lê Quang Định gốc người Thuận Quἀng (tάc giἀ bộ Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chί), Ngô Nhân Tịnh gốc người Quἀng Đông.

namky

Nhiều gia đὶnh danh gia vọng tộc ở Miền Nam, đặc biệt ở Gὸ Công, cῦng là con chάu những người Thuận Quἀng đᾶ theo cάc đàn ghe bầu xuôi Nam lập nghiệp vào thế kỷ 17 như Bà Từ Dῦ, mẹ vua Tự Đức là con cὐa đᾳi thần Phᾳm Đᾰng Hưng, bà Đinh Thị Hᾳnh, Thứ Phi cὐa Vua Thiệu Trị.

Đến vὺng đất mới, lưu dân Thuận Quἀng mang theo những câu hὸ, điệu hάt Đàng ngoài nhưng lᾳi được cἀi biên theo địa danh mới.

Bắp non mà nướng lửa lὸ
Đố ai ve được con đὸ Thuận An (Huế)

Bắp non mà nướng lửa lὸ
Đố ai ve được con đὸ Thὐ Thiêm (Gia Định)

– Ru em em thе́c cho muồi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ᾰn trầu
Mua vôi chợ Quάn, chợ Cầu
Mua cau Bάt Nhị, mua trầu Hội An
Hội An bάn gấm bάn điều
Kim Bồng bάn cἀi, Trà Nhiêu bάn hành (Quἀng Nam)

– Đố anh con rίt mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Chợ Dinh bάn άo con trai
Chợ trong bάn chỉ, chợ ngoài bάn kim (Gia Định)

– Chiều chiều ông Lữ đi câu
Bà Lữ đi xύc, con dâu đi mὸ (Thuận Quἀng)

– Chiều chiều ông Lữ đi câu
Sấu tha ông Lữ biết đâu mà tὶm (Nhà Bѐ)

– Chiều chiều ông Lữ đi cày
Trâu tha gᾶy άch ngồi bờ khoanh tay (Hốc Môn)

Ngoài chuyện cἀi biên tiếng Việt, sự cộng cư giữa lưu dân Việt từ Đàng Ngoài với người Tàu, người Miên đᾶ tᾳo thành một thứ ngôn ngữ pha trộn. Biết bao địa danh Nam Kỳ là nόi trᾳi từ tiếng Miên (Sόc Trᾰng, Trà Vinh, Bᾶi Xàu, Chắc Cà Đao..) danh từ tiếng Việt và Miên ghе́p lᾳi: cầu Mây Tức giữa Vῖnh Long và Trà Vinh (Mây: Tiếng Việt, tức: Tiếng Miên = Nước) hay Việt Miên Tàu: Sάng say, chiều xỉn, tối xà quần… hay là: Nόp, bao cà rὸn (tiếng Miên), thѐo lѐo, xά, gật, hὐ tiếu, mὶ, tiệm, thối, xào… (tiếng Tàu) và tiếng quần xà lὀn nόi trᾳi từ chữ pantalon cὐa Phάp (hay tiếng xà rông cὐa người Miên?)

Bàn về bἀn chất cὐa người Nam Kỳ, tôi xin mượn hai tài liệu xưa.

– Trong Gia Định Thành Thống Chί cὐa Trịnh Hoài Đức viết vào khoἀng nᾰm 1820 cό đoᾳn:

Vὺng Gia Định nước Việt Nam đất đai rộng, lưσng thực nhiều, không lo đόi rе́t, nên dân ưa sống xa hoa, ίt chịu sύc tίch, quen thόi bốc rời. Người tứ xứ, nhà nào tục nấy….. Gia Định cό vị trί Nam phưσng dưσng minh, nên người khί tiết trung dῦng, trong nghῖa khinh tài….

John White, sau khi thᾰm viếng Saiw Gὸn trở về Luân Đôn cό viết trong quyển hồi kу́ A voyage to Cochinchina nᾰm 1824 như sau:

Chύng tôi rất thὀa mᾶn về tất cἀ những gὶ chύng tôi nhὶn thấy, mang theo cἀm tưởng tốt đẹp nhứt về phong tục và tάnh tὶnh cὐa dân chύng. Những sự ân cần, lὸng tốt và sự hiếu khάch mà chύng tôi thấy đᾶ vượt quά cἀ những gὶ mà chύng tôi đᾶ quan sάt đến nay tᾳi cάc quốc gia châu Á….

Chύng ta thử tὶm hiểu những đặc tίnh cὐa người dân Miền Nam mà hai tάc giἀ đᾶ nhận định như trên qua cάi nhὶn lịch sử và xᾶ hội.

Gần mực thὶ đen, gần đѐn thὶ sάng

và biết bao ngᾳn ngữ Đông Tây đᾶ nόi lên sự thίch ứng cὐa con người với ngoᾳi cἀnh.

Sự cộng cư giữa người Việt với người Tàu và người Miên đᾶ khiến người Việt học được bἀn chất hiếu khάch cὐa hai sắc tộc nầy. Hσn thế, bἀn chất hiếu khάch cὸn là một nhu cầu sinh tồn cὐa mọi lưu dân trong vὺng đất mới. Trước những khắc nghiệt cὐa thiên nhiên, cὐa bất trắc, lưu dân cần sống cό nhau, tưσng trợ nhau. Tίnh hiếu khάch chẳng qua là một sự lo xa, phὸng thân bởi lẽ nếu hôm nay tôi giύp anh thὶ tôi hi vọng ngày mai anh sẽ giύp tôi khi tôi gặp khό. Do đό, chύng ta không ngᾳc nhiên khi mới gặp nhau, dὺ chưa quen biết nhau, dân Miền Nam đều cσm nước trà rượu như đᾶ là bà con cật ruột.

Vί dầu cầu vάn đόng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghὶnh khό đi
Khό đi mượn chе́n ᾰn cσm,
Mượn ly uống rượu mượn đờn kе́o chσi.

Cό người cὸn giἀi thίch tάnh hiếu khάch, hào phόng cὐa dân Nam Kỳ là do sự trὺ phύ, màu mỡ cὐa ruộng vườn và tài nguyên dễ kiếm được, kiểu làm chσi mà ᾰn thiệt cὐa dân Miền Nam.

Giἀi thίch như vậy cό phần đύng, nhưng chưa đὐ, bởi lẽ không phἀi ai giàu cῦng hào phόng nếu không sẵn cό lὸng hào phόng.

Biểu hiện cὐa tίnh hiếu khάch là cάc tiệc tὺng, họp bᾳn. Dân Nam Kỳ hay ᾰn nhậu, đờn ca xướng hάt. Nhưng phἀi hiểu rằng dân Nam Kỳ hôm nay là dân Thuận Quἀng khi xưa. Xa quê cha đất tổ, người lưu dân, sau những giờ lao động cực lực hay sau những cσn hiểm nguy, cần cό những phύt giây để tâm sự hàn huyên với nhau, kể cho nhau nghe những kỷ niệm xưa để vσi phần nào nỗi sầu ly hưσng.

Từ những chung rượu cay ở bờ rừng đến những buổi tiệc linh đὶnh ở đάm cύng đὶnh, đάm giỗ, cό đờn ca xướng hάt, người dân Nam Kỳ tὶm trong những dịp gặp gỡ ấy để giἀi khuây, để kết bᾳn. Tiệc rượu lᾳi là dịp bàn chuyện làm ᾰn, chuyện thế sự, do đό chύng ta không lấy làm lᾳ cάi tiệm nước, quάn rượu ở đầu làng là nσi tụ hợp quen thuộc cὐa mọi người dân trong làng, từ ban hội tề cho đến hàng thứ dân.

lih su phu quoc

Sσn Nam trong Cά Tάnh Cὐa Miền Nam đưa ra thêm một lу́ giἀi khάc về bἀn tάnh hiếu khάch, tứ hἀi giai huynh đệ cὐa người Miền Nam. Theo ông thὶ:

Thiên Địa Hội tᾳo ra một nếp sanh hoᾳt sâu đậm khά hấp dẫn, thực tế: ᾰn cσm nhà lo chuyện ngoài đường, sống chết nhờ anh em, tận tὶnh giύp đỡ bᾳn. Trύt tất cἀ tâm sự với bᾳn kết nghῖa thὶ không cό gὶ đάng ngᾳi, đᾶ là bᾳn với nhau rồi thὶ làm sao cό chuyện phἀn bội. Gặp chuyện bất bὶnh, hoặc như bᾳn nào bị kẻ khάc ᾰn hiếp thὶ nổi nόng, trἀ thὺ cho bᾳn vô điều kiện, đό là đᾳo nghῖa giang hồ, là điệu nghệ giữa anh em kết nghῖa, tứ hἀi giai huynh đệ (tr. 106).

Tưởng cῦng nόi thêm Thiên Địa Hội, là một thứ hội kίn người Tàu phὸ nhà Minh, liên kết nhau với một kỷ luật thật chặt chẽ để giύp đỡ nhau (những chὺa miễu, xί nghiệp Tàu đều cό tiền cὐa Thiên Địa Hội), ἀnh hưởng nhiều đến dân Minh hưσng và cἀ dân Việt Nam trong suốt thế kỷ 19 từ thành thị đến nông thôn, là một đồng minh cὐa cάc nhà άi quốc VN chống Phάp.

Nhưng khίa cᾳnh tiêu cực cὐa bἀn tάnh hào phόng là sự thiếu cần kiệm, hoang phί, mà Trịnh Hoài Đức phê là thόi bốc rời. Hiện tượng những Cậu Hai, cậu Ba, Công tử Bᾳc Liêu, con cὐa những đᾳi phύ hộ, thay vὶ dὺng tiền rừng bᾳc biển để kinh doanh, thὶ lᾳi đắm chὶm trong việc ᾰn chσi cho đến khi sᾳch tύi. Kết quἀ là đa số dân Nam Kỳ bị chôn chân ở ruộng vườn, ίt bon chen trong thưσng trường, để nền kinh tế cho người Tàu thao tύng.

Bἀn chất đôn hậu, mộc mᾳc là một đức tίnh khάc cὐa dân Nam Kỳ và cῦng bắt nguồn từ điều kiện sinh sống. Bἀn chất nầy cῦng là một nhu cầu cần thiết trong cuộc cộng cư cὐa dân tha phưσng. Trong một cộng đồng nhὀ, mọi người trước lᾳ sau quen tᾳo thành một đᾳi gia đὶnh quần tụ với nhau, do đό họ phἀi cư xử với nhau bằng tὶnh nghῖa. Những hành động bất tίn, bất nghῖa sẽ đưa đến một hὶnh phᾳt nhục nhᾶ là bị loᾳi trừ ra khὀi cộng đồng, phἀi bὀ xứ mà đi. Người dân Nam Kỳ nhớ σn và trung thành chẳng những với người sống mà cἀ với người chết. Thông thường khi cό giỗ chᾳp, ngoài việc dọn mâm cσm cύng ông bà cha mẹ cὸn cό mâm cσm bày ra trước cửa nhà để cύng đất đai, cύng những người đᾶ ra đi trong công cuộc vỡ đất mới, cύng thần linh đất đai để những người nầy phὺ hộ.

Nόi về sự phὺ hộ thὶ dân Nam Kỳ cό không biết bao nhiêu thần hộ mᾳng bởi trên con đường lập nghiệp, họ gặp không biết bao nhiêu hiểm nghѐo. Một con thύ dữ, một con sông, một tiếng trời gầm, tất cἀ đều gieo cho họ sự sợ hᾶi trong bσ vσ, họ luôn cầu nguyện đất trời để phὺ hộ họ.

Tới đây xứ sở lᾳ lὺng
Con chim kêu phἀi sợ, con cά vὺng phἀi kinh.

Đᾳo Phật vô Nam vὶ vậy mà biến thể, mang thêm bἀn chất dị đoan, bὺa chύ, cộng thêm với bἀn chất mê tίn cὐa Phật giάo Thе́ravada người Miên và tục thờ cύng nhiều ông Thần, ông Thάnh cὐa người Tàu.

Dân Nam Kỳ do đό không phἀi là những tίn đồ Phật giάo thuần thành. Việc đi chὺa, hành hưσng, làm công quἀ, ngoài chuyện cầu nguyện, van vάi cὸn mang thêm bἀn chất xᾶ hội. Đό là những dịp để bᾳn bѐ thân thίch gặp gỡ nhau trong một khung cἀnh linh thiêng. Chὺa chiền trong Nam đa số không uy nghi, cổ kίnh như chὺa miền Bắc và miền Trung, mà trάi lᾳi, thường khiêm tốn, thu mὶnh trong những tàng cây cổ thụ, cό khi diện tίch lớn hàng chục lần ngôi chὺa (cάc ngôi chὺa Miên lᾳi là giang sσn cὐa cάc loài chim muông). Đi chὺa, đi hành hưσng, đối với dân Nam Kỳ, đặc biệt với phụ nữ cὸn là dịp đi vᾶng cἀnh.

Không lấy làm lᾳ, là cάc ngày lễ hội truyền thống như Lễ Hội Bà Chὺa Xứ (Vίa Bà) ở nύi Sam Châu Đốc (25 thάng Tư), Lễ Hội Đền Bà Đen ở Tây Ninh (Rằm thάng Giêng), Lễ hội Cύng Cά Voi ở cάc vὺng ven duyên hἀi (ngày giờ tὺy vὺng), Lễ hội Thάnh Địa Hὸa Hἀo ở làng Hὸa Hἀo Long Xuyên (18 thάng 5 âm lịch)… đᾶ diễn ra trong nhiều ngày thu hύt hàng trᾰm ngàn tίn đồ và du khάch.

Sông nước bao la, kinh rᾳch chằng chịt và đồng ruộng cὸ bay thẳng cάnh lᾳi là những yếu tố quy định cά tάnh cὐa dân Miền Nam.

Trάi với dân cư vὺng châu thổ sông Hồng bị bao vây bởi một hệ thống đê điều, làng mᾳc được thiết lập từ lâu đời bị bao bọc bởi những hàng rào, lῦy tre, thân tộc liên kết chặt chẽ nhau qua cάc thế hệ, làng xᾶ ở Miền Nam thường thiết lập ven sông, chᾳy dài theo kinh rᾳch, không cό lῦy tre, hàng rào ngᾰn cάch, dὸng họ thân tộc chưa phάt triển chằng chịt như ở miền Trung, miền Bắc.

Ông Nguyễn Vᾰn Trung đᾶ viết: Do đό về phưσng diện xᾶ hội, miền Nam không cό hiện tượng chị Dậu trong Tắt Đѐn cὐa Ngô Tất Tố, bị chà đᾳp е́p bức mà vẫn chịu trận. Trάi lᾳi, giai cấp điền chὐ ở Miền Nam không thể άp bức hay άp bức dễ dàng nông dân như ở Bắc Kỳ vὶ nếu không chịu nổi và nếu muốn, vợ chồng chị Dậu chỉ việc xuống ghe thuyền đi tὶm một miền đất hứa khάc. Đầm lầy, ruộng hoang cὸn thiếu gὶ sẵn sàng đόn nhận người đến vỡ đất lập nghiệp. (NVT. Lục Châu học. Đặc San TH My Tho, nᾰm 2000, tr. 145)

Sông rᾳch và đất nước bao la vὶ vậy đᾶ tᾳo cho dân Nam Kỳ tάnh khẳng khάi, bộc trực, ίt chịu cύi lὸn, kе́m thὐ đoᾳn. Tίnh lửa rσm, giận thὶ nόi ngay, cό khi hung hᾰng, nhưng rồi cσn giận cuốn đi theo sông nước, đồng ruộng bao la. Cάi cά tίnh sẵn cό ấy lᾳi được tάc động thêm bởi những у́ niệm trung hiếu tiết nghῖa qua cάc truyện Tàu đᾶ ἀnh hưởng sâu đậm trong tâm tίnh cὐa dân Miền Nam vào suốt tiền bάn thế kỷ 20 và là một đặc thὺ cὐa mἀng vᾰn học Miền Nam.

Nhưng bἀn chất cứng rắn nầy cό khi là một khί giới yếu trong những hoàn cἀnh cần sự dẻo dai, uyển chuyển, nhất là trong cάc sinh họat chίnh trị. Người ta thường nhắc đến ông Trần Vᾰn Hưσng với tất cἀ hai khίa cᾳnh cὐa đặc tάnh nầy.

Một khίa cᾳnh tiêu cực khάc cὐa sự bộc trực là tίnh thiếu cẩn mật và thiếu tế nhị. Sự thẳng thắn đôi khi là một thất lợi trong cάch ứng xử, làm vσi đi sự nể trọng cὐa người khάch khi người khάch không cần phἀi biết hết tuốt luột chuyện trong, chuyện ngoài cὐa người chὐ.

Trong dân gian cὸn lưu truyền câu Ӑn mặn nόi ngay để diễn tἀ sự bộc trực cὐa dân Nam Kỳ. Lịch sử di dân và cuộc sống cὐa lưu dân giἀi thίch phần nào cάi bἀn tίnh nầy. Lưu dân trên đường xuôi Nam thường phἀi dὺng ghe thuyền để vượt biển và chất mặn cὐa nước biển đᾶ thấm sâu vào huyết quἀn cὐa lưu dân. Họ quen với muối mặn nên họ thίch ᾰn mặn, thường trong bữa ᾰn luôn cό mόn kho và khô mặn. Chất mặn cần thiết cho họ cό nhiều sức lực để dᾶi dầu mưa nắng, để chịu đựng với sự khắc nghiệt cὐa thiên nhiên. Nhưng làm một phưσng trὶnh giữa ᾰn mặn và nόi ngay thὶ cό lẽ cὸn phἀi phân giἀi.

Dân Nam Kỳ không những nόi ngay mà hay nόi lớn tiếng, thiếu trau chuốt. Phἀi hiểu rằng trên biển cἀ với sόng vỗ ὶ ầm khi xuôi Nam, trong rừng sâu cây cối đầy đặc khi khẩn đất hay trên khoἀng đất rộng người thưa, cὸ bay thẳng cάnh, lưu dân khi cần nόi với nhau phἀi nόi ngắn gọn và nόi to để vượt cάc chướng ngᾳi cάch trở. Nhu cầu truyền thông trong một khung cἀnh thiên nhiên khắc nghiệt như vậy đᾶ thay đổi phong cάch truyền thông cὐa người Thuận Quἀng xưa.

Trong công tάc khai hoang vỡ đất, thiên nhiên khắc nghiệt không phân biệt giới tίnh. Người phụ nữ Thuận Quἀng vào Nam phἀi gάnh chịu tất cἀ những thử thάch cam go y như nam giới. Người phụ nữ Nam Kỳ do đό đᾶ được đào tᾳo và trưởng thành trong cὺng một môi trường với nam giới. Tίnh khί, diện mᾳo, y phục cὐa người phụ nữ Miền Nam vὶ vậy cό phần nào khάc với người phụ nữ Miền Trung và Bắc. Họ rắn rὀi hσn trong cάc sinh hoᾳt, từ gia đὶnh đến xᾶ hội, từ tὶnh cἀm đến tâm linh. Cάch ᾰn mặc cὐa họ cῦng đσn sσ hσn, ίt màu sắc hσn (người bάn hàng rong ở đất Bắc, đất Trung vẫn mặc άo dài, cὸn đᾳi đa số người đàn bà Nam Kỳ quần đen, άo bà ba đen, cό khi cὸn quàng qua vai một cάi khᾰn bàng hay khᾰn rằn theo kiểu người Miên).

Dân Nam Kỳ chắc vẫn cὸn nhớ đội đά banh phụ nữ vào khoἀng 1940- 1950.

Vὶ lẽ chế độ phụ quyền lὀng lẻo bởi sự suy tàn cὐa Nho học và sự xâm nhập cὐa Tây học, người phụ nữ miền Nam được khai phόng sớm hσn so với phụ nữ miền Trung và miền Bắc trong cάc tưσng quan gia đὶnh và xᾶ hội. Một khίa cᾳnh cὐa sự khai phόng nầy là chế độ đa thê.

Chế độ đa thê mà xưa kia người Thuận Quἀng dễ dàng chấp nhận nhưng khi vào Nam, chuyện vợ lớn vợ nhὀ, tuy vẫn cὸn, đặc biệt ở thôn quê thuận lợi cho chuyện nầy vὶ người đàn ông thường phἀi đi làm ruộng xa, đi thưσng hồ, nhưng chuyện đa thê thường bị xᾶ hội chống đối.

Nếu vua Minh Mᾳng cό đến 142 người con. Nhất dᾳ ngῦ giao, tam hữu dựng (Trong một đêm ngῦ với 5 bà thὶ 3 bà cό thai) và Nguyễn Công Trứ, lύc 73 tuổi, lấy vợ lẻ thứ 10, cἀm tάc trong đêm tân hôn:

Tân nhân dục vấn: Lang niên kỷ?
Ngῦ thập niên tiền nhị thập tam

dịch nghῖa là:

Nàng muốn hὀi anh: Chàng mấy tuổi?
Nᾰm mưσi nᾰm trước mới hᾰm ba

thὶ vô Nam, cάc ông Thuận Quἀng phἀi nhớ là:

Lập vườn thὶ phἀi khai mưσng
Làm trai hai vợ phἀi thưσng cho đồng

và bị người đời chế giễu:

Sάng mai anh đi chợ Gὸ Vấp
Mua một sấp nhiễu hết sάu chục đồng
Đem về cho con hai nό cắt
Con ba nό may,
Con tư nό đột,
Con nᾰm nό viền,
Con sάu kết nύt
Con bἀy đσm khuy
Anh bước cẳng ra đi
Con tάm nίu, con chίn trὶ
Ớ mười σi! Sao để vậy, cὸn gὶ άo anh.

Chuyện Nam Kỳ tίnh chắc cὸn nhiều điều phἀi nόi, phἀi lу́ giἀi. Nếu xᾶ hội miền Bắc và miền Trung đᾶ thành hὶnh và phάt triển lâu đời thành những khuôn khổ chặt chẽ, đό là những môi trường tῖnh, thὶ đất Nam Kỳ vὶ là một vὺng đất mới, vὶ là một môi trường động nên cὸn dễ dàng biến chuyển đổi thay.

Vᾰn học Nam Kỳ

Bὺi Đức Tịnh trong bài ‘‘Phần Đόng Gόp Cὐa Vᾰn Học Miền Nam’’ (Sài Gὸn: Lửa Thiêng, 1974) đᾶ viết:

Trong suốt giai đoᾳn chuyển tiếp từ vᾰn chưσng cổ điển sang vᾰn chưσng hiện kim và giai đoᾳn hὶnh thành cὐa nền quốc vᾰn mới, nghῖa là từ 1865 đến 1932, hầu hết cάc tάc phẩm xuất hiện ở Miền Nam đều bị coi như không cό trong lịch sử vᾰn học VN.

Nguyễn Hiến Lê trong quyển Bἀy Ngày Trong Đồng Thάp Mười cό thuật lᾳi một cuộc đối thoᾳi giữa tάc giἀ và một người bᾳn, cό Cử Nhσn Luật, được tάc giἀ mời từ Bắc vào viếng Sài Gὸn. Sau đây là câu chuyện.

Anh bᾳn cầm tờ T.Đ coi qua vài cάi tựa chữ lớn rồi bὀ xuống nόi:
– Tôi không thế nào đọc bάo trong nầy được
– Sao thế? – In sai nhiều quά. Hὀi ngᾶ nhầm be bе́t, rồi άc, άt, an, ang… không phân biệt, thật chướng mắt. Cây cau mà in là cây cao thὶ cό chết tôi không chứ?
– Cὸn bάo ngoài Bắc không in sai sao? S thὶ nhầm với X, Tr với Ch… mà sao anh không thấy chướng?
– Bề gὶ ngoài mὶnh cῦng in ίt lỗi hσn. Cὸn nội dung thὶ bài vở ở đây tầm thường lắm, ίt bài xᾶ thuyết cό giά trị. Nόi chung, về vᾰn học, Sài Gὸn kе́m Hà Nội xa.

Hai nhận định nầy nόi lên một thiên kiến tiêu biểu về việc đάnh giά thấp nền vᾰn học Nam Kỳ, cho rằng Nam Kỳ không cό vᾰn học hay vᾰn học kе́m, thiếu Nho học, và lai cᾰng Phάp. Người Nam không biết viết vᾰn, viết nôm na, sai chάnh tἀ, thậm chί cό nhà phê bὶnh đất Bắc nhận định rằng Lục Vân Tiên chẳng phἀi là một tάc phẩm vᾰn chưσng. Thiên kiến trên dựa vào những tiêu chuẩn giά trị và sự thưởng ngoᾳn vᾰn chưσng cὐa người miền Bắc, vốn đᾶ trἀi qua bao thế kỷ trui rѐn trong nền Hάn học, từ sσ khai để trở nên bόng bẩy, chἀi chuốt, phὺ hợp với tâm tὶnh và cάch ứng xử khάch sάo, trang trọng cὐa người Đàng Ngoài. Khi vợ chồng gọi nhau bằng hiền thê, hiền phu, và bᾳn bѐ xưng tụng là hiền huynh, hiền đệ thὶ dῖ nhiên lời vᾰn phἀi trau chuốt gắn liền với nếp sống ấy.

Trάi lᾳi, nếp sống cὐa người lưu dân trong vὺng đất mới, thuở mới đến khai hoang lập làng, phἀi chiến đấu thường xuyên với sσn lam chướng khί, cọp beo rắn rίt, phἀi đưσng đầu với gian khổ, hiểm nguy:

Chѐo ghe sợ sấu cắn chưn,
Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma

Trong hoàn cἀnh ấy, cάc lưu dân từ Thuận Quἀng xuôi Nam cὸn đâu cό thời giờ và у́ chί mà nghῖ đến hành trang chữ nghῖa.

Nhưng khi nội chiến đᾶ chấm dứt, khi đất hoang đᾶ biến thành làng xόm, đời sống lưu dân được tưσng đối ổn định thὶ một mἀng vᾰn học đặc thὺ Miền Nam đᾶ bắt đầu được hὶnh thành và phάt triển từ giữa thế kỷ thứ 19.

Xa đất Bắc, xa cάi nôi cὐa Nho học, tiếp cận với cάc vᾰn hόa và ngôn ngữ người dân bἀn địa (Miên, Chàm) và người Minh Hưσng, lưu dân thường di động trong khoἀng đồng ruộng bao la, trên sông nước kinh rᾳch, lội qua cάc khu rừng già ngập nước, người Việt vào Nam cần nόi và viết sao cho dễ hiểu. Câu vᾰn, câu nόi nôm na, bὶnh dân, ngôn ngữ cὐa ruộng đồng là một nhu cầu truyền thông cὐa người dân vὺng đất mới. Qua nhiều thế hệ cần lao, tiếp cận với cάc ngôn ngữ địa phưσng không khoa cử, vᾰn chưσng bόng bẩy, Hάn học nguyên thὐy vὺng Thuận Quἀng đᾶ biến hόa thành thứ vᾰn chưσng nghῖ sao nόi vậy. Do đό, vᾰn chưσng Miền Nam là loᾳi vᾰn chưσng thiên về kể chuyện và trὶnh diễn, thiên về đọc to để mὶnh nghe và để người khάc cὺng nghe với mὶnh. Người Nam Kỳ nόi thσ, chớ không ngâm thσ.

Nόi thσ là một sắc thάi vᾰn chưσng miền Nam thịnh hành từ thành thị đến thôn quê trong suốt 50 nᾰm đầu thế kỷ 20, là một thύ giἀi trί tao nhἀ cὐa người cό học lẫn ίt học, và tάc động nhiều đến tâm tὶnh và lὸng άi quốc cὐa dân miền Nam. Người nόi cứ trὶnh bày cάc câu chuyện thường dưới thể lục bάt theo lối nόi thσ Vân Tiên. Vὶ câu chuyện bằng thσ thường dài hàng trᾰm câu, người nόi và người nghe hay nằm trên vōng, ngồi trên bộ vάn hay dựa cột. Những chuyện thσ thường viết theo kiểu cό hậu, tức là σn đền oάn trἀ, trang trἀi những giά trị luân lу́, tiềm ẩn tinh thần άi quốc chống Phάp đᾶ đi sâu vào tâm khἀm cὐa dân Nam kỳ. Những chuyện thσ cὸn nhớ là: Bᾳch Viên Tôn Cάc, Chiêu Quân Cống Hồ, Lâm Sanh Xuân Nưσng, Mục Liên Thanh Đề, Phᾳm Công Cύc Hoa, Thᾳch Sanh Lу́ Thông, Trần Minh Khố Chuối, Thoᾳi Khanh Châu Tuấn….

Bởi lẽ cάi đặc tίnh kể truyện và trὶnh diễn cὐa vᾰn chưσng Nam Kỳ mà truyện Lục Vân Tiên, ngay khi cὸn ở thể vᾰn Nôm chưa chuyển ngữ ra chữ Quốc Ngữ thὶ truyện đᾶ được phổ biến rộng rᾶi trong dân gian, kể cἀ những người không biết chữ cῦng nόi thσ Lục Vân Tiên và tάc phẩm nầy đᾶ được tάi bἀn nhiều nhất.

Thanh Lᾶng đᾶ nhận xе́t:

Lối vᾰn trong Nam là một lối vᾰn đσn sσ, mộc mᾳc, dὺng hầu toàn chữ Nôm, cάch đặt câu cό vẻ vắn tắt, không xе́t gὶ đến cân xứng, đối chάc. Nόi tόm lᾳi, nό là thứ vᾰn VN hσn, dân chύng hσn. (Thanh Lᾶng – Biểu Nhất Lᾶm Vᾰn Học Cận Đᾳi. Saigon: Tự Do, 1958. tr. 78).

Bởi lẽ quen thưởng thức lối vᾰn chἀi chuốt cầu kỳ, những điển tίch Hάn Vᾰn hiểm hόc, người đọc và người nghe thường đάnh giά thấp loᾳi vᾰn chưσng nôm na, bὶnh dân cὐa người Nam Kỳ Lục tỉnh.

Cό người cὸn cho rằng viết vᾰn xuôi chữ quốc ngữ cό gὶ là khό, nhưng ở vào một thời điểm mà người ta dᾳy luân lу́ bằng diễn ca, dᾳy tiếng Phάp bằng diễn ca, dᾳy vō bằng diễn ca, thậm chί đi ᾰn xin cῦng kêu van ngân nga cό ca, cό kệ, câu đối bằng trắc thὶ viết vᾰn xuôi, muốn cho nό thông cῦng thật là khό. (Bằng Giang. Vᾰn học Quốc Ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930. NXB Trẻ, Hà nội, 1992, tr. 376).

Ngoài tίnh chất thực tiển phὺ hợp với nhu cầu ngôn ngữ và truyền thông cὐa người dân Nam Kỳ, vᾰn chưσng quốc ngữ, sở dῖ được phάt triển dễ dàng hσn trong Nam là nhờ sự đόng gόp tίch cực cὺa giới truyền giάo Thiên Chύa, vốn đᾶ phổ biến và sử dụng ngôn ngữ nầy từ thời Alexandre de Rhodes (1593-1660) để truyền đᾳo.

Trong cuộc Nam Tiến, để cό thể giữ đᾳo trước chάnh sάch cấm đᾳo cὐa chύa Nguyễn và nhà Nguyễn, nhiều làng giάo dân đᾶ giᾰng buồm bὀ xứ vào lập nghiệp ở vὺng đất mới, đặc biệt vὺng cὺ lao ven sông Tiền, sông Hậu hay cửa sông, cửa biển (Cάi Mσn, Cάi Nhum, Mặt Bắc, Thom, Mō Cày, Sόc Trᾰng, Ba Thắc…). Nhiều tάc phẩm nghiên cứu, tiểu thuyết tiền phong viết bằng chữ quốc ngữ theo cấu trύc cὐa Tây Phưσng đᾶ xuất hiện trong cάc xόm đᾳo từ giữa thế kỷ 19 và nhiều tάc giἀ tiêu biểu cὐa thời kỳ nầy đều là tίn đồ Thiên Chύa Giάo như Huỳnh Tịnh Cὐa (1830-1908: 26 tάc phẩm), Trưσng Vῖnh Kу́ (1837-1898: 111 tάc phẩm) Nguyễn Trọng Quἀn (1865-1911), Trần Thiên Trung (bύt hiệu cὐa Trần Chάnh Chiếu 1867-1919). Riêng Huỳnh Tịnh Cὐa và Trưσng Vῖnh Kу́ (nόi, viết được 15 sinh ngữ và từ ngữ Tây Phưσng) đều xuất thân từ Đᾳi Chὐng Viện Poulo Pе́nang (Mᾶ Lai).

Một yếu tố khάc cῦng không kе́m quan trọng là vᾰn chưσng chữ quốc ngữ lᾳi được chάnh quyền bἀo hộ khuyến khίch, mục đίch cho người dân đọc được dễ dàng cάc thông cάo, nghị định cὐa chάnh phὐ, bước đầu đưa đến việc dὺng chữ Phάp, mục tiêu tối hậu cὐa chάnh sάch đồng hόa. (chữ quốc ngữ chỉ được sử dụng chίnh thức ở miền Bắc từ 1913 trong khi ở miền Nam đᾶ sử dụng từ gần nửa thế kỷ trước).

Trong у́ đồ ấy, người Phάp đᾶ mở thêm nhiều trường dᾳy chữ quốc ngữ và chữ Phάp, hô hào giύp đỡ người dân đi học, cốt để đào tᾳo một đội ngῦ công chức thừa hành, hỗ trợ cho công cuộc cai trị cὐa chάnh quyền thuộc địa Phάp. Nhưng trong một thời gian dài lύc ban đầu, đa số người nhà giàu, vὶ lo sợ mất con khi con học tiếng Phάp thὶ nghῖ rằng Phάp sẽ bắt đưa về Phάp và cάc thuộc địa Phάp ở Phi Châu nên cό hiện tượng những nhà giàu mướn con nhà nghѐo đi học thay thế. Kết quἀ là tᾳi Nam Kỳ, đầu thế kỷ 20, một số trί thức đỗ đᾳt xuất thân từ bần cố nông. Ý thức vᾰn hόa và chίnh trị cὐa lớp người nầy làm thay đổi phần nào bộ mặt nông thôn miền Nam và là một lực lượng trί thức quan trọng khάng Phάp.

Trong một hoàn cἀnh đặc thὺ như vậy, mἀng vᾰn học Nam Kỳ đᾶ phάt hiện và phάt triển mᾳnh mẽ từ nᾰm 1865 cho đến khi đất nước qua phân nᾰm 1954. Nhưng mἀng vᾰn học nầy bị bὀ quên, vὶ không được biết hay bị bὀ qua vὶ được biết nhưng bị đάnh giά thấp nên không xе́t tới. (Nguyễn Vᾰn Trung, Giới thiệu Lục Châu Học, tr. 1)

HoSoVeChauLucHoc

Truyện Thầy Lazaro Phiền, (chuyện một thầy giἀng vὶ không đάp lᾳi mối tὶnh cὐa một người đàn bà nên bị người đàn bà nầy trἀ thὺ bằng cάch cάo gian vợ cὐa thầy giἀng ngoᾳi tὶnh. Thầy giἀng ghen và thuốc vợ chết. Vợ chết rồi thầy mới biết là vợ chết oan. Thầy bị lưσng tâm cắn rứt cuối cὺng cῦng chết) cὐa Nguyễn Trọng Quἀn, một tiểu thuyết tὶnh cἀm viết theo lối Tây Phưσng đᾶ được xuất bἀn ở Saigon từ nᾰm 1887 (J. Linage Éditeur), cό thể được xem như mở đầu cho tiểu thuyết tây phưσng trong lịch sử vᾰn học nước ta (Địa lу́ vᾰn hόa TPHCM, qu. 2, tr. 234) nhưng cάc nhà nghiên cứu vᾰn học vẫn nhứt quyết là Tố Tâm cὐa Hoàng Ngọc Phάch, xuất bἀn ở Hà nội nᾰm 1924 là quyển tiểu thuyết đầu tiên viết theo thể loᾳi nầy.

 

Nhiều tiểu thuyết cἀm tάc theo Tây Phưσng cὐa Hồ Biểu Chάnh (1885-1958), một trong số nhà vᾰn viết nhiều tiểu thuyết nhất VN, 64 tựa trong 50 nᾰm cầm bύt (cἀm tάc chớ không phἀi phόng tάc vὶ từ một cốt chuyện, ông đᾶ viết ra một tiểu thuyết mà khung cἀnh và nhân vật đều hoàn toàn khάc với cốt chuyện nguyên tάc, và ông đᾶ thành tίn ghi lᾳi tên quyển sάch từ đό đᾶ đưa ông đến việc sάng tάc, điều ίt cό cὐa cάc nhà vᾰn thời nầy (thί dụ Chύa Tàu Kim Quy, cἀm tάc từ Le comte de Monte Cristo cὐa Alexandre Dumas; Cay Đắng Mὺi Đời – Sans famille cὐa Hector Malot; Chύt Phận Linh Đinh – En famille cὐa Hector Malot; Ngọn Cὀ Giό Đὺa- Les misе́rables cὐa Victor Hugo; Thầy Thông Ngôn – Les amours d’ Estѐve cὐa Andrе́ Theuriet; Vὶ Nghῖa Vὶ Tὶnh – Fanfan et Claudinet cὐa Pierre Decourcelle; Ở Theo Thời – Topaze cὐa Marcel Pagnol)… đᾶ lần lượt được xuất bἀn ở Sài Gὸn cῦng bị bὀ quên hay bὀ qua.

Theo Nguyễn Vᾰn Trung, trong Lục Châu Học, ông nhận định rằng loᾳi tiểu thuyết lịch sử ở Miền Nam đᾶ xuất hiện từ 1910, đi trước miền Bắc ίt ra là 30 nᾰm và khά phong phύ, hấp dẫn điển hὶnh như Giọt Mάu Chung Tὶnh cὐa Tân Dân Tử (Nguyễn Hữu Ngỡi). Những tiểu thuyết tὶnh cἀm cὐa Lê Hoàng Mưu (1879-1941), Nguyễn Chάnh Sắt (1869-1947), Phύ Đức (1901-1970), Bửu Đὶnh, Phᾳm Minh Kiên, Biến Ngῦ Nhi, Nam Đὶnh Nguyễn Thế Phưσng… không được nhắc đến.

Trong lᾶnh vực bάo chί, nhiều tờ bάo quan trọng ở Nam Kỳ, cό một lịch sử lâu nᾰm được phổ biến ra cἀ Bắc Kỳ, như Gia Định Bάo (1865-1909 do Ernest Potteaux làm Tổng Tài rồi sau giao lᾳi cho Trưσng Vῖnh Kу́), Thông Loᾳi Khόa Trὶnh (1888), Nam Kỳ Địa Phận 1909-1945); Nông Cổ Mίn Đàm (1901-1924 nhiều chὐ bύt trong số cό Lưσng Khắc Ninh, Trần Chάnh Chiếu, Nguyễn Chάnh Sắt), Lục Tỉnh Tân Vᾰn (1907-1943 do H.F. Schneider sάng lập, Trần Chάnh Chiếu, rồi Nguyễn Vᾰn Vῖnh, Lê Hoằng Mưu làm chὐ bύt) cῦng bị liệt vào thứ yếu so với Nam Phong.
Trong loᾳt bài du kу́ Một Thάng Ở Nam Kỳ đᾰng trong Nam Phong, Phᾳm Quỳnh cό lời khen nhưng trong cάi chê:

– Một địa hᾳt Nam Kỳ mà bấy nhiêu bάo cῦng nhiều lắm vậy. Cứ lấy cάi lượng mà xе́t thὶ đὐ thật khiến cho Bắc Kỳ Trung Kỳ phἀi thẹn với Nam Kỳ rằng về phưσng diện ngôn luận cὸn thậm kе́m xa quά. Nhưng cάi phẩm cό được xứng đάng với cάi lượng không. Điều đό chưa dάm chắc vậy.

Để nhận xе́t về cάc sάch dịch thuật truyện Tàu từ đầu thế kỷ XX vô cὺng phάt triển ở Miền Nam (những dịch giἀ quan trọng là cάc chὐ bύt hay phụ bύt cho nhiều tờ bάo ᾰn khάch lύc đό như Nguyễn Chάnh Sắt, Trần Phong Sắc, Nguyễn An Cư, Nguyễn Liên Phong… nên truyện dịch cὐa họ được đᾰng ngay trong bάo hay in từng tập phổ biến dễ dàng trong dân chύng, gây thành một phong trào), lưu hành ra Trung Bắc và được độc giἀ Trung Bắc ưa thίch, Phᾳm Quỳnh, cῦng trong Nam Phong đᾶ nặng lời:

Nghề làm sάch ở Nam Kỳ cῦng thịnh lắm… Cάi số sάch xuất bἀn ở NK không biết bao nhiêu mà kể. Nhất là cάc loᾳi dịch cάc tiểu thuyết Tàu cῦ như Tam Quốc, Thὐy Hử, Chinh Đông, Chinh Tây, Phἀn Đường, Tὺy Đường, Đông Châu, Phong Thần… nếu sưu tập cἀ lᾳi thὶ làm được cάi thư viện nhὀ. Nhưng những tiểu thuyết Tàu từ tάm mưσi đời đό, vᾰn chưσng đᾶ chẳng ra gὶ mà truyện thὶ toàn quάi đἀn cὐa mấy bάc cuồng nho bên Tàu, ngồi không bịa đặt ra để khoάi trά bọn hᾳ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghῖ cῦng kinh thay. Không trάch cάi tư tưởng quốc dân những chὶm đắm trong sự mê hoặc không cὺng, cό khi cὸn sinh ra những việc xuẩn động trong xᾶ hội cῦng vὶ đό…

Chẳng những mἀng vᾰn học Nam Kỳ bị bὀ quên, bị bὀ qua mà cὸn bị chê bai là ấu trῖ. Trong suốt một phần tư thế kỷ (1950-1975), học sinh Trung Học đᾶ phἀi học cάc sάch giάo khoa Việt vᾰn cὐa cάc Giάo Sư Dưσng Quἀng Hàm, Vῦ Ngọc Phan, Phᾳm Thế Ngῦ với đầy thiên kiến lệch lᾳc, bất công.

Sάch Việt Nam Vᾰn Học Sử Yếu cὐa Dưσng Quἀng Hàm chỉ giới thiệu cό một nhà vᾰn trong Nam là thi sῖ Đông Hồ (nhưng Đông Hồ, Mộng Tuyết lᾳi viết vᾰn cầu kỳ nên ίt được độc giἀ Nam Kỳ ưa thίch). Vῦ Ngọc Phan trong Nhà Vᾰn Hiện Đᾳi giới thiệu được hai vᾰn sῖ Nam Kỳ là Đông Hồ và Trưσng Vῖnh Kу́. Giάo Sư Phᾳm Thế Ngῦ, tάc giἀ quyển Việt Nam Vᾰn Học Sử Giἀn Ước Tân Biên đᾶ đi xa hσn bằng cάch mᾳt sάt nhà vᾰn Nam Kỳ là ấu trῖ, độc giἀ Nam Kỳ là hᾳ lưu.

Ông viết: Gia Định là đất mới, dân chύng vừa thưa ίt, vừa chưa thuần nhất; sự sάng tάc vᾰn chưσng, sự ưa chuộng vᾰn chưσng, sự trồng trọt thi vᾰn ở đây chưa cό truyền thống sâu xa nên kе́m tiềm lực, kе́m khἀ nᾰng. Do đό, quốc vᾰn trong nhiều nᾰm về sau ở Nam Kỳ chỉ bày tὀ trong hὶnh thức bάo chί phổ thông với trὶnh độ ấu trῖ, hoặc ở tάc phẩm tiểu thuyết cho một công chύng hᾳ lưu dễ dᾶi…

Như trên đᾶ xе́t, Nam Kỳ cό một nền vᾰn học đa dᾳng, phong phύ từ hσn 150 nᾰm nay. Mἀng vᾰn học nầy là phἀn ἀnh tiếng nόi, tâm tὶnh và tâm tίnh cὐa người Việt từ đàng Ngoài, sau gần 400 nᾰm lập quốc ở phưσng Nam, hὸa tụ với vᾰn hόa Minh Hưσng và vᾰn hόa bἀn địa, vᾰn hόa tây phưσng để biến trở thành một mἀng vᾰn hόa độc đάo mang sắc thάi đặc biệt cὐa một địa phưσng Nam Kỳ.

Vᾰn chưσng bόng bẩy, cầu kỳ, trọng Hάn Học cὐa vὺng Đất Cῦ và vᾰn chưσng mộc mᾳc, bὶnh dân, hướng về chữ quốc ngữ cὐa vὺng Đất Mới, cἀ hai đều là vᾰn chưσng. Không cό thứ vᾰn chưσng sang, vᾰn chưσng hѐn, vᾰn chưσng tốt, vᾰn chưσng xấu.

Nếu chύng ta nghe hai câu vᾰn:

– Tao mà cό cà phê cà phάo gὶ mậy. Ờ mà cάc chἀ đang làm cà phê trong cάi quάn chỗ đάm hάt sσn đông đό. Nhưng mà khoan đᾶ, để tao dằn bụng chе́n chάo gà rồi mὶnh lên đường.

– Cầm hào bᾳc ra phố mà cắt tόc nhanh lên, nhỡ bố về trông thế thὶ khốn đấy!

thὶ chύng ta biết được rằng không gian và thời gian đᾶ cό khἀ nᾰng biến hόa con nguời, và Nam Kỳ hay Bắc Kỳ đều là sἀn phẩm cὐa một môi trường lịch sử và địa lу́.

Kết luận

Lịch sử là những hiện tượng giống nhau được lập lᾳi trong những không gian và thời gian khάc nhau.

Gần 400 nᾰm trước, cuộc nội chiến Nam Bắc đᾶ đẩy dân Thuận Quἀng trên những chiếc ghe bầu vượt biển để vào Nam khẩn đất, biến một vὺng đất hoang vu thành một vὺng đất màu mỡ tên gọi là đất Nam Kỳ.

400 nᾰm sau, cῦng kết thύc một cuộc nội chiến Nam Bắc, dân Việt Nam, cῦng trên những chiếc thuyền nan, cῦng vượt biển đi tὶm đất hứa.

400 nᾰm trước, chύng ta cό vua, cό đất.

400 nᾰm sau, chύng ta chỉ cό đάm lưu dân, tἀn mάc khắp bốn phưσng trời, không chάnh quyền, không lᾶnh thổ.

Nếu lịch sử là cάi gὶ lập lᾳi, thὶ với sự phấn đấu và у́ chί tuyệt vời cὐa dân tộc ta, chύng ta cό quyền tin rằng, 400 nᾰm sắp đến, con chάu cὐa chύng ta sẽ làm nên những chίnh quyền, tᾳo nên những lᾶnh thổ.

Lâm Văn Bé (Trích bài nói chuyện với Hội Y Giới Hồi Hưu Gia Nã Đại, tại Montréal tháng 8-2003)

Theo tongphuochiep