Đọc khoἀng: 19 phύt
Từ hσn một thế kỷ nay, nước Việt Nam đᾶ chịu rất nhiều thay đổi về chάnh trị, hành chάnh, vᾰn hόa, xᾶ hội…. luôn cἀ tên đường cὐa Sài Gὸn. Nhiều đường đᾶ thay đổi tên hai, ba lần và vài đường mang tên cάc vị anh hὺng hồi đời nhà Nguyễn đều biến mất. Vài người Việt ở nước ngoài khi trở về nước gặp nhiều khό khᾰn mới tὶm lᾳi được nhà mὶnh đᾶ ở lύc trước. Những bᾳn sanh ra sau 1975 lᾳi không thể hὶnh dung cάc tên đường thuở trước, nόi chi đến lịch sử và tiểu sử cὐa cάc vị đό. Riêng tôi, nhờ những kỷ niệm in sâu vào όc từ thuở niên thiếu và lᾳi cό tάnh tὸ mὸ muốn biết thêm lịch sử nên tôi cố gắng nhắc lᾳi đây vài tên đường để công hiến cάc bᾳn đọc giἀ và xin ngọn giό bốn phưσng cho biết thêm у́ kiến để tu bổ về sau.

Tôi sanh ra tᾳi nhà bἀo sanh cὐa Bάc Sῖ Lâm Vᾰn Bổn số 205 đường Frѐre Louis, gần chợ Thάi Bὶnh thuộc Quận 3 thuở đό cὐa Đô Thành Sài Gὸn, vào thời Đông Dưσng sắp vào chiến lửa binh đao, chίn thάng trước khi Trân Châu Cἀng chὶm trong khόi lửa, lύc đό Việt Nam cὸn là một thuộc địa cὐa Phάp Quốc và nhiều đường Sài Gὸn mang tên Phάp.

duonglelaixua

Tôi lớn lên tᾳi Sài Gὸn, tᾳi số 148 đường Colonel Boudonnet dọc theo đường rầy xe lửa, sau nầy đổi tên là Lê Lai tới nay, đường lấy tên cὐa Đᾳi Tά Thе́odore Boudonnet thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh Thuộc Địa và Tư Lệnh Sư Đoàn Bộ Binh An Nam, tử trận bên Phάp hồi 1914. Mặt đất đường nầy thấp hσn cάc đường Frѐre Louis, Phan Thanh Giἀn và Frѐres Guillerault nên mỗi khi mưa lớn là đường bị ngập: “nhờ vậy” mà sau khi tᾳnh mưa, dọc theo bức tường ngᾰn đường rầy và đường lộ những con dế từ đất chui ra hang để khὀi bị ngộp, nên tôi đi bắt đến khuya mới về ίt lắm là ba bốn con và thường bị mẹ tôi quở trάch.

Sau khi “chᾳy giặc” hồi 1945 vὶ mάy bay đồng minh oanh tᾳc nhà ga và đường rầy xe lửa để chận tiếp tế cho quân Nhựt, gia đὶnh tôi trở về sống tᾳm trước Nhà Thờ “Huyện Sў” đường Frѐres Guillerault và nᾰm sau rồi dọn trở về lᾳi hẻm 176/11 đường Colonel Boudonnet.

Nhà thờ Huyện Sў xây cất nᾰm 1905, ông là người giàu cό vὺng Gὸ Công, tên thật là Lê Phάt Đᾳt và là Ông ngoᾳi cὐa Nam Phưσng Hoàng Hậu, vợ cὐa Hoàng Đế Bἀo Đᾳi.

Gần nhà thờ Huyện Sў cό hai đường mang tên Frѐre nhưng nếu Frѐre Louis là để tưởng nhớ đến Thầy Louis Gaubert lập ra trường Tabert, đường Frѐres Guillerault (cό chữ “S” sau Frѐres) là để tưởng nhớ đến hai anh em Roland và Lе́on Guillerault sinh trưởng tᾳi Sài Gὸn và tử trận trong Đệ Nhứt Thế Chiến bên Phάp.

Trong lύc “tἀn cư” tôi đi học lớp chόt trường làng tᾳi quận Hόc Môn và vὶ một sự tὶnh cờ mà Ba tôi ghi cho tôi học tiếp miễn phί lớp “Douziѐme” trường Chasseloup-Laubat, thay vὶ Petrus Kу́ như Ba tôi. “Trường Chasseloup” xây cất trong ba nᾰm nσi rᾳp hάt bội cὐa Tἀ Quân Lê Vᾰn Duyệt, lύc đầu mang tên Collѐge Indigѐne de Saigon, nhưng khi khάnh thành nᾰm 1877 thὶ đổi lᾳi là Collѐge Chasseloup-Laubat và từ 1928 trở thành Lycе́e cό nghῖa là luyện thi đến lớp Tύ Tài, mang tên cὐa Hầu Tước Justin De Chasseloup Laubat, Bộ Trưởng Bộ Hἀi Quân và Thuộc Địa dưới thời Napolе́on III, người quyết tâm chiếm và giữ Nam Kỳ. Hồi 1946 quân đội Phάp mới trở lᾳi Việt Nam nên ίt cό gia đὶnh và trẻ con Phάp sống tᾳi Sài Gὸn nên dư giάo viên mà thiếu học trὸ! Lớp 12ѐ niên khoά 1946-1947 trai và gάi học chung tᾳi Collѐge Calmette gần đό, sau đό vài nᾰm trường nầy đổi tên là Lycе́e Marie Curie cho đến ngày nay. Tôi cὸn nhớ lύc ra về tôi chᾳy nhanh ra cổng, không phἀi để tὶm Ba tôi, thường người ra sở trễ và đi xe đᾳp từ “Toà Tân Đάo” (Sở Ngoᾳi Kiều) ở đường Georges Guynemer dưới Chợ Cῦ lên rước tôi, mà là để tranh thὐ thời gian để cᾳo mὐ cao su!

Thật vậy, giữa trung tâm thành phố Sài Gὸn không hiểu ông Tây nào cό у́ kiến trồng cây cao su theo hai bên đường Jaurе́guiberry cho cό bόng mάt? Bernard Jaurе́guiberry là một Đề Đốc Phάp đᾶ đάnh vào Đà Nẵng và chiếm thành Gia Định, về sau giữ chức Thượng Nghị Sῖ và Bộ Trưởng Bộ Hἀi Quân, mà tᾳi sao lᾳi đặt tên cho một đường nhὀ bên hông trường Calmette Nhưng dὺ sao đi nữa những cây cao su đό, sau khi lấy đά đập vào vὀ thὶ chἀy ra mὐ trắng rất nhiều. Tôi trе́t mὐ ấy trên cặp tάp da cὐa tôi rồi khi mὐ khô thὶ cuốn trὸn quanh một cục sὀi và ngày qua ngày trở thành một trάi banh nhὀ.

Như vậy tôi thuộc vào thành phần “Nam Kỳ chάnh cống” và “dân Sài Gὸn một trᾰm phần trᾰm”, lớp tuổi gần 70 và và sống tᾳi Saigon trong 34 nᾰm. Những bᾳn lớn hσn tôi vài tuổi và những bᾳn gốc “Bắc trước Nᾰm Mưσi Tư” mới biết tên đường cῦ như tôi, cάc bᾳn khάc rάng mà tὶm cάc tên trong trang sau cὺng! Không phἀi tôi bị “Tây hόa” nên không chịu dὺng tên Việt Nam, nhưng cάc tên đường cῦ đᾶ khắc sâu vào trί nhớ tuổi thσ cὐa tôi, hσn nữa lύc trẻ tôi hay tὶm tὸi trong tự điển Larousse coi ông nầy là ai mà họ đặt tên đường, sau thế hệ cὐa chύng tôi, ίt cὸn ai nhớ đến tên những con đường Sài Gὸn nᾰm xưa…

Mẹ tôi cό thuê một Cyclo để đi làm và đưa tôi đi học tᾳi trường Chasseloup, “Chύ Ba Xίch Lô” mỗi ngày chᾳy ra phίa nhà ga Sài Gὸn theo đường Colonel Boudonnet, sau khi qua rᾳp hάt Aristo, nay là New World Hotel, quẹo trάi qua đường Chemin des Dames và bᾰng qua đường Lacote (chớ không phἀi Lacotte, Moïse Lacote là cựu Trưởng Ban Hành Chάnh vὺng Gia Định và Giάm Đốc Thuế Vụ Nam Kỳ vào nᾰm 1896) hoặc theo đường Amiral Roze (người đᾶ từng tấn công Nam Hàn) để đi thẳng tới đường Gia Long, tên cὐa đường La Grandiѐre vào khoἀng ấy (Đề Đốc Pierre De La Grandiѐre thay thế Đề Đốc Bonard là một trong những Thống Đốc đầu tiên cὐa Nam Kỳ, Ông tự động đi chiếm xứ Cambodge nᾰm 1863 mà không cό lệnh cὐa Hoàng Đế Napolе́on III và cῦng chίnh Ông đᾶ chiếm ba tỉnh miền Tây nᾰm 1867 làm cho Cụ Thống Tướng Phan Thanh Giἀn phἀi đầu hàng và sau đό tự vận, dưới thời Đề Đốc De La Grandiѐre Sài Gὸn phάt triển mᾳnh mẽ).

Chύ Ba Xίch Lô xuyên qua vườn “Bờ Rô” để cό bόng mάt rồi ra đường Larе́gnѐre, sau nầy là đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không biết tᾳi sao người ta kêu công viên đό bằng tên ấy, cό thể là phiên âm cὐa chữ “prе́au (sân lόt gᾳch) nhưng theo học giἀ Trần Vᾰn Xướng thὶ do Ông “Moreau”, tên cὐa người quἀn thὐ Phάp đầu tiên chᾰm nom vườn nầy; thuở trước cάc người lớn tuổi cὸn gọi là “vườn Ông Thượng”, cό thể là vὶ trước kia Tἀ Quân Lê Vᾰn Duyệt là người tᾳo ra vườn nầy. Dưới thời Phάp thuộc vườn “Bờ Rô” nằm trong khu đất cὐa dinh Thống Đốc nhưng vào nᾰm 1869 Phό Đề Đốc Hector Ohier, người thay thế Đề Đốc De La Grandiѐre, cắt chia đất và tặng thành phố vườn nầy mang tên Parc Maurice Long. Mười nᾰm sau đường Miss Cavell được tᾳo ra, lύc đό mang tên rue de la Pе́piniѐre, để biệt lập với dinh Thống Đốc mà sau nầy là Palais Norodom và sau 1954 trở thành Dinh Độc Lập rồi Dinh Thống Nhứt sau 1975. Cῦng cό thể tên “Ông Thượng” là Ông Ohier, cό tên đường dưới chợ cῦ, nhưng tới đời tôi chỉ gọi vườn đό là “vườn Bờ Rô”, sau nầy mang tên vườn Tao Đàn. Ra vườn Bờ Rô gặp đường Chasseloup-Laubat rồi đi thẳng trên đường Larе́gnѐre, sau đό tới đường Testard: hai tên nầy ở gần nhau cῦng đύng vὶ Trung Tά Bộ Binh Jules Testard và Thiếu Úy Hἀi Quân Etienne Larе́gnѐre, 31 tuổi (chớ không phἀi Lareyniѐre hay Laraignѐre) tử vong cὺng một trận đάnh άc liệt tᾳi Đồn Kỳ Hὸa, ở vὺng trường đua Phύ Thọ, giữa lực lượng cὐa Thống Tướng Nguyễn Tri Phưσng và Đô Đốc Victor Charner nᾰm 1861. Ai cῦng biết đường Chasseloup-Laubat, một đường chiến lược rất dài đi từ Chợ Lớn, từ đường 11ѐ R.I.C (Rе́giment d’Infanterie Coloniale) đến Thị Nghѐ, sau 1955 đường nầy đổi tên là Hồng Thập Tự.

Đi thẳng đến đường Testard, chύ Ba quẹo mặt và bὀ tôi xuống ở gόc đường Barbе́ vὶ học sinh vào trường Chasseloup bằng cửa sau. Gόc đường nầy sẽ liên hệ nhiều với tôi sau nầy khi tôi trở thành Sinh Viên Y Khoa. Đường Barbе́ (chớ không phἀi Barbet) cό từ lâu và mang tên cὐa Đᾳi Úy Nicolas Barbе́ thuộc Sư Đoàn 3 Thὐy Quân Lục Chiến Phάp bị Ông Trưσng Định cho tên Nguyễn Vᾰn Sất άm sάt vào nᾰm 1860 gần chὺa Khἀi Tường, nσi Vua Minh Mᾳng sanh ra nᾰm 1791 lύc Nguyễn Ánh chᾳy loᾳn vào miền Nam để trάnh anh em Tây Sσn. Chὺa nầy do Nguyễn Ánh sau khi trở thành Vua Gia Long ra lệnh xây cất để tᾳ σn Phật Trời đᾶ che chở cho con trai là Nguyễn Phύc Đàm (Vua Minh Mᾳng sau nầy), sau đό chὺa được lập làm đồn chống Phάp nên bị lίnh Phάp phά dẹp hồi 1880, pho tượng Phật hiện cὸn lưu niệm trong Viện Bἀo Tàng Sài Gὸn, trong Sở Thύ.

Trên nền chὺa bὀ hoang nầy về sau cό cất lên một biệt thự lầu lớn kiểu Âu châu tᾳi số 28 đường Testard mà Bà Bάc Sῖ Henriette Bὺi (con gάi thứ ba cὐa Ông Bὺi Quang Chiêu) mướn lᾳi cὐa người chὐ là một Luật Sư người Phάp làm dưỡng đường sἀn phụ khoa vào thập niên 1940. Ông Bὺi Quang Chiêu (1872-1945) là Kў Sư Canh Nông Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bên Phάp nᾰm 1897 và bị Trần Vᾰn Giàu (phong trào Việt Minh) άm sάt cὺng ba người con trai vào thάng 9 nᾰm 1945. Cὸn Bà Henriette Bὺi Quang Chiêu sanh nᾰm 1906 là người đàn bà Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Y Khoa Bάc Sῖ tᾳi Paris nᾰm 1929, nay Bà đᾶ 103 tuổi và hiện cὸn minh mẫn và sống tᾳi ngoᾳi ô Paris: Bà kể lᾳi rằng vào nᾰm 1943 nhà nầy được bάn lᾳi cho một người Do Thάi tên là David chὐ cὐa nhiều biệt thự tᾳi Sài Gὸn; vào đầu nᾰm 1945 chάnh phὐ Phάp trưng dụng nhà nầy và cho Bà thuê một biệt thự khάc ở đường Blancsubе́ để dời dưỡng đường đến đấy. Thάng 3 nᾰm 1945 Nhựt đἀo chάnh Phάp và tịch thu cᾰn villa nầy, và khi Phάp trở lᾳi thὶ trao cho Viện Đᾳi Học Sài Gὸn để rồi nᾰm 1947 nσi nầy trở thành chi nhάnh cὐa Đᾳi Học Y Dược Khoa Hà Nội rồi nᾰm 1954 thành Đᾳi Học Y Dược Khoa Saigon, nσi tôi được đào tᾳo trong sάu nᾰm với GS Phᾳm Biểu Tâm làm Khoa Trưởng. Nσi đầy kỷ niệm nầy nay là Bἀo Tàng chứng tίch chiến tranh.

Lớn lên tôi đi xe đᾳp về một mὶnh nhưng thίch đi theo đường Testard hσn vὶ cό bόng mάt dưới hàng cây me, song song với đường Richaud (sau đổi lᾳi đường Phan Đὶnh Phὺng) và thường ghе́ biệt thự số 6 đường Eyriaud des Vergnes (sau là Trưσng Minh Giἀng) chσi với một bᾳn học cὺng lớp, nhứt là vào mὺa cάc cây trứng cά cό trάi. Ông Etienne Richaud là một Toàn Quyền Đông Dưσng hồi cuối thế kỷ XIX, cὸn Ông Alfred Eyriaud Des Vergnes người gốc Châteauroux là Kў Sư Trưởng Nha Công Chάnh Nam kỳ (Cochinchine), Ông là một thần đồng tốt nghiệp trường Polytechnique tᾳi Paris lύc 17 tuổi sau đό học trường Ponts et Chaussе́es, ra lệnh lấp kinh Charner, tᾳo hệ thống cống dài 7 km, cất 12 cầu theo “Kinh Tàu” (Arroyo chinois nối liền với rᾳch Bến Nghе́ chἀy ra sông Sài Gὸn). Ông Eyriaud Des Vergnes là người đầu tiên cό у́ lập ra đường sắt tᾳi Việt Nam chᾳy lên Cambodge nhưng kế hoᾳch không thành, về sau nhờ Kў Sư Thе́venet Giάm Đốc Nha Công Chάnh Nam Kỳ và sự hỗ trợ cὐa Cố Vấn chάnh phὐ Paul Blanchy mà Việt Nam cό đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gὸn đến Mў Tho nᾰm 1885. Hai người nầy cῦng cό tên đường và sau 1955 đổi lᾳi là Tύ Xưσng (Thе́venet) và Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).

Sau khi qua đường Pierre Flandin (tên cὐa một “đứa con” cὐa Sài Gὸn tuy sanh tᾳi vὺng Vaucluse và tử trận tᾳi Noyon, tỉnh Oise, miền Bắc nước Phάp vào nᾰm 1917), đến cuối đường gặp rᾳp hάt Nam Quang (nay vẫn cὸn), tôi quẹo trάi ra đường Verdun (khoἀng đό tên là đường Thάi Lập Thành), đến ngᾶ sάu Sài Gὸn thὶ tôi lᾳi đi qua đường Frѐre Louis để về nhà bằng đường d’Ypres cho vắng xe. Đường nhὀ nầy ở sau “Mἀ Lά Gẫm”, đύng hσn là cὐa Ông Mathieu Lê Vᾰn Gẫm, cό bức tượng trong nhà thờ Huyện Sў, tử đᾳo thời Vua Thiệu Trị vὶ bị hành hὶnh lối nᾰm 1847, mἀ đό nay vẫn cὸn nguyên tuy bị che khuất, và Ypres là tên một thành phố nhὀ bên vưσng quốc Bỉ, như thành phố Dixmude, nσi đᾶ xἀy ra những trận đάnh lớn hồi Đệ Nhứt Thế Chiến.

Đi xίch lô mỗi ngày như vậy hoài cῦng chάn nên tôi thường đề nghị với Chύ Ba đi về bằng ngἀ khάc, thuở ấy đường phố ίt xe hσn bây giờ vὶ Sài Gὸn và Chợ Lớn không hσn một triệu dân cư. Tôi thίch nhứt đi về nhà qua chợ Sài Gὸn: Chύ Ba trάnh đường Mac Mahon (sau 1952 đoᾳn nầy lấy tên De Lattre de Tassigny và sau đό là Công Lу́), đi đường Barbе́ và một đoᾳn đường Chasseloup-Laubat, rồi quẹo trάi qua đường Miss Cavell với hàng cây cao bên hông Cercle Sportif Saigonnais (tên không phἀi viết Cawell hay Cavel: Edith Cavell là một nữ y tά người Anh bị quân Đức xử bắn tᾳi Bỉ vào nᾰm 1915 lύc 50 tuổi vὶ giύp tὺ binh Anh, Bỉ và Phάp trốn qua Hὸa Lan) để trổ ra đường Aviateur Garros rồi xuống chợ Sài Gὸn, nσi bάn nhiều trάi cây (Roland Garros là phi công Phάp đầu tiên bay xuyên biển Mе́diterranе́e hồi 1913 và tử trận nᾰm 1918).

Rồi cứ đi theo mᾶi đường d’Espagne (sau là Lê Thάnh Tôn) vὶ vào 1859 quân lίnh Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy cὐa cάc Đề Đốc Phάp đόng tᾳi đό) để về Ngᾶ Sάu (Phὺ Đổng) rồi về Colonel Boudonnet bằng ngᾶ Amiral Roze. Đặc biệt Sài Gὸn cό rất nhiều tên đường mang tên cάc trận đάnh thời Đệ Nhứt Thế Chiến (Boulevard de la Somme, Chemin des Dames, đường Verdun, đường Arras, đường Champagne, đường Dixmude, đường Douaumont, Quai de la Marne….) và tên cάc Đề Đốc Phάp vὶ dưới thời cάc Vua Minh Mᾳng và Tự Đức tất cἀ quân Phάp đến Việt Nam bằng tàu thὐy mà hai vị cό tiếng nhứt là Charner và Bonard. Đô Đốc Lе́opold Victor Charner người vὺng Bretagne, gốc Thụy Sῖ là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hἀi Quân Phάp tᾳi Đông Nam Á, ngưὸi đᾶ chiếm Nam Kỳ, cὸn Đề Đốc Adolphe Bonard (chớ không phἀi Bonnard ) là Thống Đốc đầu tiên cὐa Nam Kỳ do Hoàng Đế Napolе́on III bổ nhiệm vào nᾰm 1861 dưới thời Vua Tự Đức.

lapkenhtrungtamxayduongpho bitlongmach 1866

Vào cuối thế kỷ XIX kinh rộng nhứt cὐa Sài Gὸn là “Kinh Lớn” hay “Kinh Charner” đi từ sông Sài Gὸn đến Tὸa Thị Sἀnh, cό hai đường dọc hai bên: đường chᾳy xuống bờ sông là đường Rigault de Genouilly, đường chᾳy lên là đường Charner. Vὶ mὺi hôi thύi người Phάp lấp kinh lᾳi sau nhiều nᾰm bàn cᾶi và khi “đường Kinh Lấp” thành lập thὶ đưσng nhiên lấy tên Boulevard Charner vào nᾰm 1861 nhưng Ba tôi vẫn gọi là đường Kinh Lấp vào những nᾰm 1930. Trước đό, cό một kinh dẫn nước sὶnh lầy chἀy ra Kinh Tàu từ chợ Bến Thành (người Phάp gọi là Les Halles Centrales), theo Học Giἀ Vưσng Hồng Sển vὶ gần rᾳch Bến Nghе́ và gần Thành Gia Định, kinh đό mang tên kinh Gallimard. Thiếu Tά Công Binh Lе́on Gallimart cό dự trận đάnh Kỳ Hὸa, và đào kinh nầy vào nᾰm 1861 theo lệnh cὐa Đô Đốc Charner. Kinh nầy sau khi lấp lᾳi theo у́ kiến cὐa Kў Sư Thiếu Tά Bovet nᾰm 1867 lấy tên là Đᾳi Lộ Bonard, vὶ thế đường nầy mới rộng lớn như ngày nay. Lύc lấp kinh và bến đὸ họ thành lập một công trường lớn, đό là “Bὺng Binh” trước chợ Bến Thành mà người Phάp gọi là Place Eugѐne Cuniac, tên cὐa một Thị Trưởng Sài Gὸn, nay vẫn cὸn tên Công Trường Quάch Thị Trang, một nữ sinh thiệt mᾳng lύc biểu tὶnh dưới thời Ngô Đὶnh Diệm nᾰm 1963. Trước Tὸa Thị Xᾶ Sἀnh, ở gόc đường Charner và Bonard cῦng cό một bὺng binh nhὀ với nước phun lên tên là Place Francis Garnier, nay là công trường Lam Sσn, để tưởng nhớ đến một Sῖ Quan Hἀi Quân trẻ tuổi phiêu lưu trên đất Bắc và tử thưσng tᾳi Hà Nội hồi 1873. Nhiều đường khάc cῦng do lấp kinh mà ra như Boulevard de La Somme (rᾳch Cầu Sấu, sau nầy là đᾳi lộ Hàm Nghi), đường Tổng Đốc Phưσng (hay Đỗ Hữu Phưσng), đường Pellerin (tên cὐa một Giάm Mục đᾶ bênh vực công giάo Việt Nam nhưng khuyên lầm Đề Đốc Rigault De Genouilly lύc tấn công Đà Nẵng vào 1858) sau nầy đường Pellerin lấy tên là Pasteur.

Đường mà tôi thίch nhứt, sang trọng nhứt và cό tiếng nhứt Sài Gὸn là đường Catinat, cό trước khi người Phάp đến và mang tên một thuyền lớn đᾶ bắn đᾳi bάc vào Đà Nẵng (chớ không phἀi tên cὐa một Đề Đốc như nhiều người tưởng, thuyền “Le Catinat” lấy tên cὐa Thống Chế Nicolas de Catinat, sống hồi thế kỷ XVII dưới thời Louis XIV). Nσi đό cό rất nhiều tiệm sang trọng, đường phố sᾳch sẽ và cό nhiều “Ông Tây” ngồi uống cà phê tᾳi khάch sᾳn Continental, lύc đό chưa cό tiệm Givral và nσi đό là Nhà Thuốc Tây Solirѐne, thay thế Pharmacie Centrale. Sau nầy cό thêm tiệm Brodard ở gόc đường Catinat và Carabelli, tên cὐa một Nghị Viên thành phố. Tôi cῦng cό dịp vô nhà sάch Albert Portail (nay vẫn cὸn dưới tên Xuân Thu từ 1955) và đi dᾳo trong Passage Eden vὶ trong cὺng cό rᾳp hάt Eden, rᾳp nầy và rᾳp Majestic ở cuối đường Catinat là hai rᾳp chiếu bόng sang nhứt Sài Gὸn vào thuở đό; đi chσi vậy chớ cό tiền đâu mà mua đồ, nhiều lắm thὶ lấy vài tấm hὶnh mà cάc ông phό nhὸm chụp dᾳo lύc đi trước “Nhà Hάt Tây”, cất theo kiểu Opе́ra bên Paris. Đường Catinat là đường trάng nhựa đầu tiên cὐa Sài Gὸn, khi mới trάng người ta kêu là đường “Keo Su” dài tới Nhà Thờ Đức Bà; qua công trường Pigneau de Bе́haine trước Bưu Điện cό bức tượng Ông “Cha Cἀ” hay Evêque d’Adran dẫn Hoàng Tử Cἀnh ra trὶnh diện Louis XVI tᾳi Versailles. Sau khi qua khὀi đường Norodom thὶ đường Catinat lấy tên cὐa Cố Vấn chάnh phὐ và Nghị Viên Thị Xᾶ Sài Gὸn Blancsubе́ và tiếp theo công trường Marе́chal Joffre với tượng đài chiến sῖ tử vong trong Đệ Nhứt Thế Chiến là đường Garcerie với những hàng cây cao, sau nầy mang tên Duy Tân và công trường Quốc Tế hay “Hồ Con Rὺa”.

Ba tôi cό nhiều bᾳn người Tàu và thường vô Chợ Lớn chσi bằng xe lửa điện (Tramway) mà người ta thường gọi là “xe lửa giữa” vὶ chᾳy giữa đường Gallieni, tới trᾳm gare de Nancy thὶ bᾳn cὐa Ba tôi lên xe lửa đi cὺng vὶ ở gần thành Ô Ma (Camp des Mares, sau nầy là Bộ Tư Lệnh Cἀnh Sάt Quốc Gia). Tôi cὸn nhớ xe lửa giữa đό, với ghế cây theo kiểu cὐa Mе́tro xưa bên Paris, chᾳy thẳng theo đường Gallieni nối liền Sài Gὸn với Chợ Lớn. Ba tôi nόi lύc trước nσi đây toàn là đất hoang và sὶnh lầy, sau khi lấp bưng thành đường đất gồ ghề rồi khi Ba tôi xuống Sài Gὸn học vào nᾰm 1928 thὶ đường mới được trάng nhựa và nᾰm sau điện giᾰng giữa chia con đường làm hai chiều, một bên chᾳy lên một bên chᾳy xuống, đường rầy xe điện đặt trung tâm đᾳi lộ, đến nᾰm 1953 mᾶn hᾳn giao kѐo khai thάc mới dẹp. Đường nầy mang tên cὐa Thống Chế lừng danh Joseph Gallieni chết nᾰm 1916 nhưng phục vụ ngoài Bắc lύc cὸn Đᾳi Tά Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh và sάch vở ghi công Ông về tổ chức hành chάnh tᾳi Đông Dưσng. Tên cὐa Ông viết với chữ “e” chớ không phἀi với chữ “е́” vὶ là người gốc Ý Đᾳi Lợi.

Xe điện chᾳy thẳng vô đường rue des Marins, qua khu Đᾳi Thế Giới nay là khu Cάt Tường và đường Jaccario (vὶ lύc trước phάo hᾳm “Le Jaccario” đậu gần đό trên “Kinh Tàu” hay Arroyo Chinois trong Chợ Lớn, và chắc lίnh thὐy lên bờ nhiều nên mới gọi là rue des Marins), ở gόc đường cό vῦ trường Arc-En-Ciel, sau 1975 đổi tên là nhà hàng và khάch sᾳn Arc-En Ciel Thiên Hồng, đến đường Tổng Đốc Phưσng thὶ quẹo qua trάi mới đến Bưu Điện Chợ Lớn, nhà ga cuối cὺng là Gare Rodier, tᾳi Kinh Tàu.

Lύc cὸn ở đường Colonel Boudonnet tôi cό nhiều bᾳn ở khu nhà thờ Huyện Sў và thường vô phίa sau nhà thờ bắn “giàn thun” trên mấy cây xoài nên bị “Ông Từ” rượt nhiều lần! Ngoài đường Frѐres Guillerault trước nhà thờ, cὸn cό đường Duranton và đường Lе́on Combes mà sau nầy đổi tên là Sưσng Nguyệt “Ánh”. Trung Sῖ Lе́on Combes là một đứa con cὐa Sài Gὸn ở Giồng Ông Tố bên Cάt Lάi tử trận nᾰm 1917 tᾳi Craonne, thuộc tỉnh Aisne vὺng Picardie phίa Bắc Paris. Tôi nhớ, vὶ học “trường Tây” nên tôi thắc mắc và tự hὀi Bà nào mà mang họ Sưσng mà tôi tὶm hoài trong sάch vở không thấy? Sau nầy tham khἀo mới biết đό là tên bύt hiệu cὐa Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuê (cό sάch nόi là Nguyễn Xuân Khuê), con gάi thứ tư cὐa cụ Nguyễn Đὶnh Chiểu, người đàn bà đầu tiên làm Chὐ Bύt bάo “Nữ Giới Chung” cho phụ nữ hồi 1918. Tuần bάo nầy cὸn tên là Fе́mina Annamite và tὸa soᾳn ở 13 đường Taberd, trong sάch kể là Sưσng Nguyệt Anh (= Gόa phụ Nguyệt Anh), nhưng tᾳi sao hồi 1955 họ đổi tên đường Lе́on Combes thành Sưσng Nguyệt Ánh?

Về sau, gia đὶnh tôi dọn về Chợ Lớn ở đường Lacaze, nay là đường Nguyễn Tri Phưσng, nổi tiếng vὶ “Mὶ La Cai”, đường mang tên cὐa Đô Đốc Lucien Lacaze, Bộ Trưởng Bộ Hἀi Quân từ 1915 đến 1917 hồi Đệ Nhứt Thế Chiến, nhưng chύng tôi ở khύc trên, gần gόc đường Pavie (nay là Lу́ Thάi Tổ chớ không phἀi đường 3 thάng 2 vὶ đường nầy mới cό vào lối 1957, lύc trước là trᾳi lίnh) dẫn lên trường đua Phύ Thọ. Khύc dưới đường mang tên ông Auguste Pavie (lừng danh trên đất Lào) đặc biệt rộng lớn và rất dài, cό nhiều cây và bên trong cό đường dành cho xίch lô và xe đᾳp. Nếu đi từ Ngᾶ Bἀy xuống công trường Khἀi Định, từ giữa đường nầy đến đường Frе́dе́ric Drouhet sẻ thấy những biệt thự mà “Chύ Hoἀ” cất cho con chάu ở (tên thường gọi cὐa Jean-Baptiste Hui Bôn Hoἀ một triệu phύ người Tàu tham gia với chάnh quyền tặng thành phố Sài Gὸn Policlinique Dе́jean De La Bâtie, tên cὐa một Bάc Sῖ tận tụy lo cho người Việt Nam, ngoài đường Bonard, sau nầy trở thành Bệnh Viện Đô Thành), sau 1954 cάc nhà nầy dành cho Ủy Hội Kiểm Soάt Quốc Tế Đὶnh Chiến ở và khύc đường nầy gọi là đường Hui Bôn Hoἀ.

Lύc đό đường Pavie cό xe nhà binh Phάp chᾳy nhiều vὶ cό thành lίnh gần đό và tᾳi khu đường Cây Mai, trước khi tới Phύ Lâm. Khu đất từ đường Lacaze đến đường Ducos (sau đổi là đường Triệu Đà) là đồng mἀ, đường hẻm tôi ở trước một mἀ đά lớn, mới phά hồi thάng 11 nᾰm 2004: đό là mἀ cό từ thế kỷ thứ XVIII cὐa một người đàn bà lối 50 tuổi và quan tài thứ nhὶ chắc là cὐa một người đàn ông, chỉ cό vài nữ trang chớ không cό vàng bᾳc chôn theo như người ta tưởng.

Từ đường Lacaze đi ra trường Chasseloup Laubat xa hσn, tôi phἀi đᾳp xe xuống Ngᾶ Bἀy, quẹo trάi qua đường Gе́nе́ral Lizе́, rồi đᾳp thẳng hoài, qua khὀi đường Verdun đường nầy lấy tên Legrand De La Liraye. Qua khὀi trường nữ sinh Gia Long (hồi xưa gọi là Collѐge des Jeunes Filles Annamites, sau là Trường Áo Tίm) và đến tận trường Marie Curie mới quẹo xuống đường Barbе́. Đường Gе́nе́ral Lizе́ là một đường chiến lược rất dài lύc trước gọi là đường Hai Mưσi, đi từ Ngᾶ Bἀy Chợ Lớn, nối dài đường Pierre Pasquier, đến đường Albert Premier trên Dakao, lấy tên cὐa Trung Tướng Lucien Lizе́, xuất thân từ trường Polytechnique, Paris, Tư Lệnh Phάo Binh chiến trường Ý tử trận hồi 1918, cό phục vụ bên Việt Nam lύc cὸn Đᾳi Tά, cὸn Legrand De La Liraye là một trong những Linh Mục thông ngôn cho Đề Đốc Rigaud De Genouilly và trở thành Thanh Tra phụ trάch về cάc hồ sσ giữa người Việt và chάnh quyền bἀo hộ. Sau 1954 đường nầy đổi thành đường Phan Thanh Giἀn, một vị anh hὺng sάng suốt và can đἀm cὐa Việt Nam. Tiếc thay sau 1975 không cὸn đường nào trên mἀnh đất Việt Nam mang tên anh hὺng dân tộc nầy, cῦng như không cὸn đường vào mang tên Lê Vᾰn Duyệt và cῦng không cὸn trường học nào mang tên Petrus Kу́! Cho tới nay tôi chưa thấy một học giἀ Việt Nam nào giὀi hσn Petrus Trưσng Vῖnh Kу́, tuy vài “Sử Gia” buộc tội vị nầy nhiều điều vô lу́, họ quên rằng công lao lớn nhứt cὐa Ông Petrus Kу́ là truyền bά cho dân chύng sử dụng chữ quốc ngữ cό từ Alexandre de Rhodes vào thế kỷ XVII thay thế chữ Nôm khό học và khό viết. Tôi nghe nόi ở Vῖnh Long hiện nay cό một trường học mang tên Phan Thanh Giἀn và vào thάng 11 nᾰm 2008 rᾳp chiếu bόng Nguyễn Vᾰn Hἀo đường Trần Hưng Đᾳo tᾳi Sài Gὸn đang hάt tuồng “Tἀ Quân Lê Vᾰn Duyệt”, đό là điều đάng mừng vὶ những vị anh hὺng cάc triều nhà Nguyễn phἀi được hồi phục.

Hồi thời Phάp thuộc cῦng cό những tên đường mang tên những anh hὺng hay nhân tài Việt Nam như đường Paulus Cὐa (Đốc Phὐ Sứ Huỳnh Tịnh Cὐa) trên Dakao, đường Tổng Đốc Phưσng (Đỗ Hữu Phưσng) trong Chợ Lớn, đường Phὐ Kiệt (Đốc Phὐ Sứ Trần Vᾰn Kiệt là Nghị Viên thành phố trên 25 nᾰm), Huỳnh Quang Tiên, Nguyễn Vᾰn Đưởm trên Tân Định (cἀ hai là Nghị Viên Thuộc Địa và Nghị Viên Thành Phố), Nguyễn Tấn Nghiệm (Nghị Viên), và Trưσng Minh Kу́, một trong những Nghị Viên đầu tiên cὐa thành phố, ông nầy tên thật là Trưσng Minh Ngôn chάu bốn đời cὐa Trưσng Minh Giἀng, được ông Trưσng Vῖnh Kу́ đem về nuôi và đổi tên, cho đi Phάp học và là một trong những người sάng lập viên ra Trường Thông Ngôn (Ecole des Interprѐtes) nằm trong Tὸa Án, nhờ làm thông dịch viên lύc Traitе́ de Patenôtre nᾰm 1884 nên được vô quốc tịch Phάp, người mất lύc 55 tuổi vὶ bệnh lao phổi.

Vị anh hὺng Đᾳi Úy phi công cὐa quân đội Phάp, xuất thân từ trường Vō Bị Saint-Cyr và là cựu Sῖ Quan Lê Dưσng mang tên Đỗ Hữu Vị cό tên trên một đường từ bὺng binh chợ Bến Thành đến đường Charner, trước đό đường nầy mang tên Hamelin sau nầy đổi lᾳi là Huỳnh Thύc Khάng. Đᾳi Úy Vị là con thứ nᾰm cὐa Tổng Đốc Đỗ Hữu Phưσng, sau khi học Trung Học tᾳi trường nổi danh Janson De Sailly tᾳi Paris, nhập học vô trường Saint-Cyr vào nᾰm 1904. Trung Úy bên Bắc Phi, ông gia nhập vào binh chὐng Không Quân vừa thành lập; bị thưσng nặng Đᾳi Úy Vị từ chối giἀi ngῦ và trở về đσn vị Lê Dưσng và tử thưσng tᾳi mặt trận tỉnh Somme nᾰm 1916. Hài cốt được người anh cἀ là Đᾳi Tά Đỗ Hữu Chấn đem về chôn cất trong nghῖa trang gia đὶnh tᾳi Chợ Lớn.

Sài Gὸn mất nhiều di tίch ngày xưa, vὶ chiến tranh và vὶ sự thay đổi thời cuộc, tôi tiếc nhứt là hồi thάng Ba nᾰm 1983 đᾶ sang bằng “Lᾰng Cha Cἀ”, cό từ 1799 để lập một công trường mà chἀ thấy ai ngồi…. Hai người ngoᾳi quốc đᾶ ἀnh hưởng Việt Nam nhiều nhứt là Alexandre de Rhodes va Pierre Joseph Pigneau de Bе́haine, được dân Việt Nam biết dưới tên Bά Đa Lộc hay Evѐque d’Adran, người đᾶ giύp Nguyễn Ánh lên ngôi, đi với Hoàng Tử Nguyễn Phύc Cἀnh qua triều đὶnh Vua Louis XVI để kу́ Hiệp Ước Versailles nᾰm 1787. Tên thật là Pigneau, sau đό thêm vô sau tên ấp Bе́haine cὐa làng Origny-en-Thiе́rache mà gia đὶnh cό phần đất, thuộc tỉnh Aisne, trong vὺng Picardie ở miền Bắc nước Phάp. Vua Gia Long cất một ngôi nhà ở số 180 đường Richaud cho Bά Đa Lộc (nay vẫn là Tὸa Tổng Giάm Mục đường Nguyễn Đὶnh Chiểu, Quận 3) và đọc điếu vᾰn khi người mất nᾰm 1799. Mộ ông người Sài Gὸn gọi là Lᾰng Cha Cἀ là một trong những di tίch xưa nhứt cὐa Sài Gὸn “ở Gia Định” vào thời Gia Long, sau nầy ở trước trᾳi Phi Long trên Tân Sσn Nhứt. Cốt cὐa Cha Pigneau de Behaine được đem về Phάp nᾰm 1983 và chôn trong nhà thờ Sе́minaire des Missions Etrangѐres, rue du Bac tᾳi quận XV Paris….

Tôi cό viếng thᾰm nhà kỷ niệm cua Cha Pierre Joseph Pigneau de Bе́haine, ở làng Origny-en-Thiе́rache, trở thành từ nᾰm 1953 “Musе́e Monseigneur Pigneau de Bе́haine” và sau khi xem xong tâm hồn tôi thἀ về dῖ vᾶng cὐa một Việt Nam oai hὺng tranh đấu cἀ ngàn nᾰm để giữ biên cưσng…

Tôi cῦng cό dịp thᾰm viếng nhiều di tίch cὐa xứ Phάp từ thời Trung Cổ, nhiều lâu đài cὐa Âu Châu và Nga Sô cό từ thế kỷ XV, luôn cἀ những ngôi mộ bên Ai Cập cό trước 11 nền vᾰn hόa cὐa Hy Lᾳp và tiếc rằng xứ tôi không biết giữ gὶn những kho tàng quу́ giά cὐa lịch sử.

Paris, mὺa hѐ 2009

BS Trần Ngọc Quang

Theo tongphuochiep