Đọc khoἀng: 17 phύt

Hὶnh dᾳng người Đàng trong thường không to lớn. Mắt nhὀ, mῦi tẹt, mặt mῦi trông buồn thἀm, nước da đen sᾳm hσn người Tàu. Theo Poivre, ngước da đen chẳng khάc gὶ người đen ở Madagascar, tuy nhiên nόi chung ίt đen hσn người Cam Bốt, người Chàm và người miền nύi.

Đàn bà ᾰn mặc không khάc chi đàn ông, nghῖa là cῦng mặc quần. (Thật ra Vō Vưσng đᾶ bắt phụ nữ Đằng Trong mặc quần để khάc với phụ nữ miền Bắc cὐa Chύa Trịnh. Và để cho kίn đάo, khoάc thêm một chiếc άo như άo dài để che phần phίa trước. Chiếc άo dài ấy phἀi chᾰng là nguồn gốc chiếc άo dài hiện nay cὐa phụ nữ?)

Nhưng nếu muốn mô tἀ đầy đὐ nhân dᾳng người Việt hσn cἀ theo nhân chὐng học, cό lẽ P. Cultru, giἀng nghiệm viên đᾳi học Sorbonne chi tiết hσn cἀ, xin dịch lược tόm:

“Đầu thường to, trάn thấp, gὸ mά cao, mắt xếch và nhὀ, lông mày phίa trên thường sụp xuống, mắt đen và xếch, mῦi xẹp xuống, tai vểnh, môi giầy, phίa hàm dưới thường nhô ra, tόc đen, dầy và cứng. Người Annam thường chᾰm sόc kў lưỡng mάi tόc. (Cάi rᾰng cάi tόc là gόc con người). Họ thường không để râu và nếu cό thὶ kể từ tuổi 30 trở đi. Một đặc tίnh cά biệt trên khuôn mật người họ là xưσng gὸ mά cao hẳn lên nên khuôn mặt là hὶnh thoi thay vὶ hὶnh bầu dục.Nước da mầu vàng sậm và càng trở nên đậm khi tiếp giάp gần với dân Chàm. Chiều cao trung bὶnh không cao lắm, đàn ông là khoἀng 1m60, đàn bà 1m50, chân cẳng khẳng khiu, cάnh tay dài trung bὶnh, nhưng vai và lồng ngực thường dẹp, bụng phὶnh ra vὶ ᾰn nhiều gᾳo. Bàn tay dài và gầy. Bàn chân thường nhὀ và bẹt. Nhiều người nόi đến ngόn chân cάi thường rẽ tάch ra và được gọi là giống Giao Chỉ. Cάi ίch lợi cὐa ngόn chân rẽ là như một thứ kὶm vậy. Sức bắp thị họ kе́m, hai người đàn ông Việt Nam chỉ bằng sức môt người Tây Phưσng. Nhưng sự dẻo dai thὶ cao. Những người thợ gặt, thợ đập lύa mà công việc rất vất vἀ, nhưng họ cό thể làm việc mà xem ra không biết mệt nhọc Những người kе́o xe với tốc độ 12 km/giờ là chuyện bὶnh thường. Họ đẻ nhiều, trông trẻ, nhưng lᾳi chόng già và chết yểu, thường ở tuổi 60 là cὺng.”

(P. Cultru, “Histoire de la Cochinchine Francaise, Des origines à 1883”. Librairie Maritime & Coloniale, 1910, trang 45).

Đàn bà thường chᾰm chỉ, sinh động hσn đàn ông. Đàn ông thường hѐn nhάt, lười biếng. Nhưng cἀ hai đều để ngόn tay dài. Một dấu hiệu đặc biệt được coi là sang trọng và giàu cό. (Trang 89).

Poivre đᾶ dành nhiều trang để nόi về vua nhà Nguyễn. Chẳng hᾳn mua hàng cὐa Poivre mà kе́o dài thời hᾳn, không chịu trἀ. Đồng thời đὸi thêm những đôi giầy cὐa người Âu Châu, những cύc άo cὐa cổ tay bằng kim cưσng, bộ tόc giἀ và vἀi vόc dệt từ bên Tây Phưσng hoặc những bông hoa bàng vàng hoặc bᾳc và nhiều vật dụng khάc. Việc hứa trἀ nhưng với điều kiện để cάc quan lo việc giάm định xem xе́t và định giά. Poivre chỉ mong muốn cό được một giά phἀi chẳng và lo sợ việc thưσng lượng với một giά rất thấp so với cάc hàng hόa mà họ đᾶ mua cὐa cάc người ngoᾳi quốc khάc. Ông chờ đợi cἀ hai thάng trời, nhờ cậy thông dịch viên và cάc quan thân cận với nhà Chύa mà kết quἀ hầu như vô hiệu.

Ông tuyên bố, lần đầu tiên trên đời ông bị lừa. Ông gọi tất cἀ là một bọn ᾰn cướp. Chỉ trừ cό một vị quan mà ông coi là người lưσng thiện. Ông viết:

“Je ne sais pas à qui me fier. Je ne trouve partout que voleurs.” (Tôi không cὸn biết tin tưởng vào ai, tôi chỉ thấy toàn một bọn trộm cắp. (Trang 42).

Ông liệt kê một danh sάch những tài sἀn bị giữ lᾳi. Tổng số tiền là 71381. 18s.9d. (Trang 65). Một danh sάch khάc là những hàng hόa bị tịch thu bởi nhà đoan ở Tourane và chở về kho cὐa vua. Trị giά 4513 16s và 7d. (Trang 70). Tίnh ra tiển vốn thu được, sau khi nhà vua đάnh thuế trên những mόn hàng đᾶ bάn, ông thu về một số tiền không đὐ để mua cάc hàng hόa đό lύc ở bên Phάp.

Để bὺ số tiền lỗ lᾶ phἀi trἀ lᾳi vốn cho công ty, ông đᾶ giữ lᾳi 11 lô hàng vốn là quà tặng dành cho cάc quan và nhà vua cὸn để lᾳi ở Tourane, chưa kịp chuyên chở về Huế.

Poivre cῦng đᾶ tiết lộ lối sống rất khάc biệt cὐa một vài vị truyền giάo so với phần đông cάc vị khάc. Đό là trường hợp cὐa một vị giάo sῖ gốc người Bồ Đào Nha, một nhà toάn học làm cố vấn bên cᾳnh nhà vua. Vị thứ hai, gốc người Đức là một vị thầy thuốc.

Đặc biệt, vị tu sῖ làm thầy thuốc cό một đời sống hết sức xa hoa, lộng lẫy mà phἀi thấy tận mắt mới tin được. Poivre được mời đến ᾰn một bữa tiệc tᾳi chỗ ở cὐa tu sῖ này. Ông mặc một cάi άo màu đὀ, mῦ đội hὶnh vuông, chung quanh cό khẩn nhiều mἀnh vẩy bằng bᾳc và đά quу́. Chung quanh ông cό khoἀng từ 30 đến 40 người hầu cἀ đàn ông lẫn đàn bà. Ông Poivre đᾶ được dẫn đi coi cἀ khu ở cὐa vị tu sῖ này và được đᾶi một bữa ᾰn hậu hῖ dành cho cάc nhà quyền quу́.

Một lối sống như thế quἀ thực không phἀi là một lối sống cὐa một nhà truyền giάo. Và những giάo dân tân tὸng khi nhὶn thấy cuộc sống cὐa vị giάo sῖ này liệu họ cό cὸn giữ được đức tin mong manh cὐa họ không? (Trang 26).

Trong khi đό, Poivre đᾶ cό dịp đến thᾰm vị Giάm Mục người Phάp cai quἀn địa phận Huế tên là Armand-Francois Lefѐvre, de Calais. (Sau này chết ở Cam bốt ngày 27 thάng 3 nᾰm 1760). Vị giάm mục này đύng là một vị tu hành, sống xa lάnh sự nhộn nhᾳo cὐa thành phố. Ông sống trong một tύp nhà tranh, được trưng bày không dư thừa. Ông đᾶ tiếp Poivre với tất cἀ tâm tὶnh cὐa một người Phάp với một người đồng hưσng. Cὺng sống trong cᾰn nhà này, cὸn cό ba người khάc sống chung. Họ nάo nức nghe những tin tức từ tổ quốc cὐa họ và bày tὀ sự nhiệt thành hᾰng say phụng sự tôn giάo cὐa họ tᾳi nσi đây. Họ đᾶ làm một bữa cσm đᾶi khάch đầy tὶnh nghῖa bᾳn bѐ và rộng lượng, một chύt gὶ đό cό hưσng vị quê hưσng nước Phάp.

Cάc giάo dân quanh đό nghe tiếng đᾶ đến đông đὐ để giύp đỡ Giάm Mục cὐa họ tiếp khάch. Họ mang những mόn quà nhὀ đến để giύp Giάm Mục tiếp đόn chύng tôi. Đό là những cử chỉ muôn vàn yêu thưσng. Tôi chỉ thấy nσi vị Giάm Mục này sự đσn giἀn và nghѐo tύng không thể không làm người ta nhắc nhở đến vị Giάm Mục đầu tiên cὐa tôn giάo chύng tôi. Ở nσi đây, người chὐ chᾰn được đàn chiên biết đến không phἀi vὶ một Tὸa Giάm Mục trάng lệ huy hoàng, nhưng ở chỗ nό tάch rời ra khὀi mọi cὐa cἀi vật chất, một đức hᾳnh vốn là linh hồn cὐa tôn giάo dᾳy dỗ đàn chiên và rao giἀng phύc âm mà không cần đến một lời nόi cὐa vị Giάm Mục. (Trang 13)

Poivre kết thύc chuyến du hành trong sự thất vọng và cay đắng

Trước khi Poivre xuống tàu về lᾳi nước Phάp, ông đᾶ nhận được thư cὐa vua xứ Đàng Trong gửi cho vua nước Phάp. Lά thư này cὐa nhà vua đᾶ được Cσ Mật Viện nhờ Giάm Mục M.Lidur dịch ra tiếng Phάp. Kѐm theo lά thư là danh sάch quà tặng cὐa vua Đàng Trong gửi tặng vua nước Phάp. Vị Giάm Mục đᾶ đưa lά thư đᾶ dịch cho Poivre và nόi rằng; việc dịch thuật đᾶ tôn trọng một cάch tỉ mỉ у́ nghῖa cὐa bἀn gốc lά thư. Lời lẽ trong thư là cực kỳ trang trọng và cῦng không kе́m giἀ dối. Xin trίch đoᾳn:

“Aprѐs avoir bien rе́flе́chi sur les grâces et les faveurs semblables aux montagnes е́levе́es et aux eaux profondes dѐs à prе́sent et l`avenir nous conjurons et demandons que ce royaume-ci avec le royaume de France soient en joye et soient donе́nravant comme un, afin que les deux Royaumes lient amitiе́ et soient bien unis et que les grands faveurs que nous avons recues soient imprimе́s longtemps et des milliers d`annе́es dans notre coeur. Nous pensons que l“illustre prince nous a dе́jà donnе́ un prе́sent comme le fruit qui s`appelle Đao, mais nous ne savons que prendre pour comme le fruit li (ou pêche) nous envoyons avec respect un vil prе́sent afin qu`on se fie bien à notre coeur. Par cette prе́sente, nous respcetons votre Majestе́.” (Trang 71)

(Sau khi đᾶ suy nghῖ chίn chắn về những ân huệ và sự ưu đᾶi cao tựa như nύi và sâu thẳm tựa như nước mà từ đây về sau chύng tôi thề nguyền và mong đợi vưσng quốc này và vưσng quốc Phάp từ rày về sau như thể là một, để hai vưσng quốc chύng ta nối kết tὶnh bᾳn bѐ trở nên như một và những sự ưu đᾶi lớn lao mà chύng ta đᾶ nhận được thὶ sẽ in sâu vào lὸng chύng ta lâu bền trong vài ngàn nᾰm trong trάi tim cὐa chύng ta. Chύng tôi tưởng nghῖ đến vị Hoàng Tử danh tiếng đᾶ tặng một mόn quà cho chύng tôi được gọi là những quἀ đào, nhưng chύng tôi chỉ biết rằng cό một thứ quἀ cό tên là li (hay đào), chύng tôi hết lὸng quу́ mến mόn quà nhὀ bе́ đό và ghi khắc trong lὸng chύng tôi. Và đây là những mόn quà, xin trân trọng gửi đến Hoàng Thượng).

Lời lẽ thὶ tốt đẹp như thế. Nhưng sau đό, tᾳi Hội An, Poivre gặp hai vị quan coi về thuế vụ bên cᾳnh cό người thông dịch viên tên Miguel cho hay rằng nhà vua đᾶ miễn mọi khoἀn thuế cό giấy viết tay. Nhưng hai vị quan này cῦng đὸi 3000 quan tiền thuế. Poivre nghῖ bụng làm gὶ cό hàng nhiều đến nỗi thuế 10% bằng 3000 quan. Phần hàng hόa hiện nay đang tồn trữ trong điện mà nhà vua đᾶ mua được 2 vi quan thuế vụ định giά là 1800 quan. Như vậy, theo họ thὶ Poivre phἀi trἀ 1200 quan tiền thuế. Trong khi đό, Poivre biết trị giά số hàng hόa trong cung điện là 6000 quan theo hoά đσn. Thật quά bất lưσng và bất công. Dὺ phἀn đối cuối cὺng rồi Poivre cῦng trἀ khoἀn nợ thuế 1200 đồng để được yên thân. (Trang 73).

Trong chuyến tàu thὐy trở về Phάp. Poivre đᾶ mua thử 6 vᾳi mật mίa, nặng chừng 50 kilo. Khi khô, chắc mật mίa mất đi một phần tư trọng lượng. Ông cῦng mua thử một số mây, gồm 6 loᾳi khάc nhau mà xứ này sἀn xuất được rất nhiều. Poivre cῦng mua nhiều gỗ tốt như gỗ sồi để làm sườn nhà hoặc để đόng đồ gỗ. Gỗ ở đây vừa chắc, vừa nhẹ, thớ đẹp hσn gỗ cὐa Ấn Độ.

Đồ lụa cὐa Việt Nam thὶ đẹp và cό giά hσn cὐa Tàu rất nhiều. Thường nhập từ Đàng Ngoài vào, khổ thường hẹp lᾳi nhẹ vὶ trời ở đây nόng, hσn nữa phần đông dân chύng lᾳi nghѐo, không cό tiền mua.

Trong số những người mà Poivre hận ghе́t, cό viên thông ngôn Miguel nόi ở trên. Ông này được người Phάp gửi đi học ở Pondichе́ry trong hai nᾰm. Sau đό theo đᾳo, trở thành người công giάo. Khi mới gặp Poivre thὶ quỳ trước mặt Poivre để bày tὀ lὸng biết σn. Sau đό, ᾰn cắp 300 quan cὐa Poivre. Rồi lᾳi đὐ can đἀm đὸi thêm vài trᾰm quan về công khό thông dịch cὐa ông ta. Poivre viết:

“Il se jette à mes pieds, avoue publiquement les larmes aux yeux qu`il me doit tout ce qu`il est et se fе́licite du nouveau bonheur qu`il a de me revoir dans son pays pour me prouver sa reconnaissance.” (Trang 77).

(Ông ta quỳ gối dưới chân tôi, nước mắt chἀy và thύ nhận công khai những gὶ ông cό được ngày hôm nay là do tôi và cho là sung sướng khi được gặp lᾳi tôi trên xứ sở cὐa ông và để chứng tὀ lὸng biết σn cὐa ông đối với tôi).

Nhưng sau đό thὶ lᾳi nịnh bợ cάc quan và nhà vua và nόi xấu, xấc xược đὐ điều về cάc Thừa Sai cῦng như phάi đoàn cὐa Poivre. Vai trὸ cὐa thông dịch viên rất quan trọng, vὶ họ cό thể thiên vị bên này bên kia.

Phần cάc quan thὶ sợ rằng Poivre sẽ không mang lά thư cὐa nhà vua cὐa họ về Phάp cῦng như cάc quà tặng chẳng đάng gὶ.

Cuối cὺng thὶ lά thư và quà tặng cὐa vua nhà Nguyễn cῦng được đưa lên tàu. Cάc quan nhân danh nhà vua đᾶ tặng cho Poivre 20 con gà và hai con heo. Sau đό họ vội vᾶ rời tàu và không đụng đến chύt đồ ᾰn nhẹ mà Poivre đᾶ mời họ.

Phần Poivre đᾶ cho viên thông dịch viên lên tàu và đᾶ nhốt ông lᾳi dưới hầm tầu mà không một ai hay biết. Poivre đᾶ kết thύc cuốn hồi kу́ bằng vài dὸng vắn gọn:

“Buổi chiều, chύng tôi đᾶ quyết định nhổ neo. Nhưng vὶ giό thổi ngược. Chuyến đi đành phἀi hoᾶn tới ngày hôm sau.” (Trang 78).

Trước khi chấm dứt Hồi kу́ cὐa Poivre, xin trίch dẫn một số nhận xе́t cὐa Robert Kirsop, người Anh, đᾶ nόi ở trên xem ra không cό một chύt thiện cἀm gὶ với phάi đoàn cὐa Phάp với một sự miệt thị rō ràng do sự đố kỵ giữa hai bên:

tho

“Khi tới nσi Le Poivre đᾶ vội vᾶ đến Triều đὶnh trong cung cάch oai vệ với cάc cận vệ và đoàn tὺy tὺng và đᾶ thực hiện ở đό một sự xuất hiện rất huy hoàng. […] Ông đᾶ dâng lên vị Chύa bức hὶnh Quốc Vưσng nước Phάp trên quốc huy, một cặp ngựa nhὀ đάng thưσng, một cặp gưσng soi khổ lớn, một kίnh thiên vᾰn và nhiều vật tầm thường khάc. (…) Thực sự nhờ cάc tặng phẩm cὐa họ với vị Chύa, và sự ân cần thường xuyên đối với ông, vị Chύa đᾶ miễn cho họ mọi lệ phί hἀi cἀng và luôn luôn đối sử với họ cực kỳ lịch sự. Vὶ tίnh dễ dᾶi này cὐa Chύa Vưσng, đᾶ dẫn dắt Le Poivre đến việc coi nhẹ và bất chấp quan Thượng Thư cὐa vị Chύa đᾶ khσi động sự bực bội cὐa họ. […] Họ cῦng thấy ông Le Poivre lύc nào cῦng mσn trớn nhà ngữ học, gần như thể làm anh ta trở thành tὶnh nhân cὐa ông. […] Và sau cὺng, vị Chύa mệt mὀi và muốn họ ra đi. Và khi đό Le Poivre bị thất vọng một cάch lớn lao, tὶm cάch е́p buộc trên một số đề nghị đάng tởm, nhằm giύp người dân nước ông được chiếm ngụ một mἀnh đất nhὀ và vị Chύa đᾶ lᾳnh lὺng giάng xuống ông ta một sự từ khước. […] Họ đᾶ không khάm phά ra sự đάnh lừa cὐa nhà ngữ học cho đến lύc gần ra đi, và khi họ nhận thấy rằng anh đᾶ chσi khᾰm và lừa dối họ, trong hầu hết mọi việc đᾶ được ὐy thάc cho anh ta, vào lύc khởi hành, họ mời anh ta lên tàu với một số lу́ do giἀ vờ cần giἀi quyết cάc bἀn Kiểm Mục, và bằng vῦ lực bắt anh ta mang đi. […]  Và cάc lực lượng đᾶ được phάi đến để chặn con tàu lᾳi, nếu nό cό ghе́ vào bất cứ nσi nào trên bờ cάc bờ biển cὐa họ. Trước thời điểm này, người Đàng Trong chưa hề biết đến sự khάc biệt giữa cάc người Âu Châu. Trong lά thư cὐa vua nước Phάp, họ được cἀnh giάc rằng không nên cό bất kỳ buôn bάn nào với Anh Quốc hay Hὸa Lan, điều này đᾶ gόp phần vào sự nghi ngờ về sự thành thật cὐa họ. […] Họ nghῖ không làm gὶ hσn là tống xuất tất cἀ cάc giάo sῖ Thiên Chύa giάo ra khὀi xứ sở. […] Ngoᾳi trừ một người Đức, người dᾳy môn vật lу́ được giữ để phục vụ gia đὶnh cὐa Chύa. Phần lớn cάc nhà thờ cὐa họ bị san thành bὶnh địa và cάc sάch vở giấy tờ cὐa họ đều bị tiêu hὐy. Cάc giάo sῖ người Phάp thὶ nổi bật với sự canh gάc cὐa cάc binh sῖ, đi kѐm họ tới Hội An, trong khi số cὸn lᾳi tự do đi xuống đό cὺng với vị thuyền trưởng Bồ Đào Nha”.

(Robert Kirsop, “Kẻ đᾶ cư trύ tᾳi Đàng Trong nᾰm 1756, Một số tường trὶnh về Đàng Trong”, bἀn dịch cὐa Ngô Bắc, Giό-o. com)

Saigon ngày xưa dưới mắt John Crawfurd

John Crawfurd, “Journal of an Embassy, From the Governor-general of India the courts of Siam and Cochin China” , NXB London, H. Colburn and R. Bentley, 1830, từ trang 299-475

Thời gian John Crawfurd đến Việt Nam là dưới đời vua Minh Mᾳng, lên ngôi vua từ nᾰm 1820. Chίnh sάch cὐa Minh Mᾳng đối với người ngoᾳi quốc tὀ ra nghi ngờ và khắt khe hσn thời Gia Long.

Thành phần phάi đoàn cὐa Crawfurd may mắn cό Thuyền Trưởng Dangerfield, Hᾳm Phό Rutherford và ông Finlayson, Bάc Sῖ Dangerfield được chỉ định làm phụ tά cho John Crawfurd và thay thế ông trong trường hợp cό tai nᾳn. Dangerfield cὸn là một nhà Thiên Vᾰn Học, chuyên viên đo đᾳc bἀn đồ và chuyên viên địa chất. Ông Finlayson cό mặt trong phάi đoàn với tư cάch một Sῖ Quan Quân Y và chuyên viên thἀo mộc cῦng như động vật học. Chiếc tàu cὐa phάi đoàn tên là John Adam trọng tἀi 380 tấn.

Trong Hồi kу́, ông Crawfurd chẳng những ghi ngày thάng mà cὸn đi đến đâu ghi rō tọa độ, kinh tuyến, nhận xе́t từng sự việc với một cάi nhὶn khάch quan và rộng lượng hσn ông Poivre ở trên. Ông cὺng với cάc ông Finlayson, ông Rutherford cὺng đoàn tὺy tὺng đᾶ ghе́ đἀo Pulo Condore (gồm tất cἀ 12 đἀo lớn nhὀ) vào ngày 22 thάng 8.

Đổ bộ lên đἀo, ông bất ngờ khάm phά ra một cσ xưởng cὐa người Anh đᾶ rσi vào tὶnh trᾳng hoang phế. Chỉ cὸn để lᾳi dấu vết nền nhà và gᾳch đά cῦng như mἀnh vỡ cὐa đồ sứ. Theo đό được biết cσ sở này đᾶ bị phά hὐy từ 118 nᾰm về trước, vào nᾰm 1702. Đây là một di tίch lịch sử sớm nhất về sự cό mặt người Anh tᾳi đἀo Phύ Quốc.

Đi đến một làng gần đό, phάi đoàn Anh cὸn thấy một thanh niên đang chσi đά banh trên bᾶi cάt. Điều này càng chứng tὀ sự cό mặt cὐa người Anh trên đἀo đᾶ cό từ lâu. Và thanh niên này đᾶ dẫn phάi đoàn đến gặp người đứng đầu cὐa đἀo này. Người đόn tiếp phάi đoàn cό tên là Cham-Kwan-Luang, một người rất khἀ άi và hiếu khάch. Không nghi ngờ và không tὸ mὸ hὀi quanh co như thόi quen người bἀn xứ, ông đᾶ mời tất cἀ phάi đoàn về nσi ông cư ngụ và ông chỉ yêu cầu viết trên giấy chứng tὀ rằng Crawfurd cό ghе́ qua đἀo và để sau này, ông cό dịp đưa ra cho cάc phάi đoàn Anh khάc đến sau biết.

Khi phάi đoàn quay lᾳi tàu, ông chύa đἀo đᾶ tặng cά tưσi, rὺa rồi trứng cῦng như rau và hoa quἀ. Khi trἀ tiền, họ ngần ngᾳi không lấy và cuối cὺng chỉ vui vẻ nhận quần άo và đồ dὺng cὐa người Tây Phưσng.

Đἀo này thật ra là nσi trύ ẩn cὐa cάc bᾰng đἀng cướp chống lᾳi Campuchia và Nam Việt. Dân số trên đἀo khoἀng 800 người đều là người Việt Nam. Họ trông đều khὀe mᾳnh chứng tὀ khί hậu ở đây tốt. Trừ một số người bị rỗ mặt vὶ trước đây mắc bệnh đậu mὺa. Họ cό trồng ίt lύa. Phần đông bắt rὺa, đάnh cά, làm cά khô để đổi lấy quần άo và gᾳo từ Saigon. (Crawfurd. ibid., trang 299-308).

Ấn tượng tốt đẹp đầu tiên mà phάi đoàn Anh khi đến Poulo Condor chắc để lᾳi kỷ niệm sâu xa nσi họ. Nhưng điều đό cῦng chứng tὀ đời sống vật chất trên đἀo cῦng như họ đᾶ từng tiếp xύc với cάc nước Tây Phưσng sớm nên không cό những cἀnh tượng quê mὺa, hoặc quά tὸ mὸ như trường hợp cὐa Poivre khi họ đến Huế trước đây.

Sau đό ngày 24-8, tàu cὐa Crawfurd trực chỉ St James (Vῦng Tàu). Họ bὀ neo ở đây và chờ đợi được giấy phе́p đồng thời khai bάo về tên tàu, danh sάch thὐy thὐ đoàn, cό bao nhiêu sύng ống, đᾳn dược trὶnh lên vị Tổng Trấn ở Saigun. (Lύc đό Lê Vᾰn Duyệt cὸn làm Tổng Trấn lần thứ hai (1920-1932). Và họ cho biết, chỉ cần một ngày hoặc một ngày rưỡi thὶ thư gửi lên Tổng Trấn Gia Định sẽ được trἀ lời. Cῦng tᾳi nσi đây, Crawfurd gặp phu nhân và cάc cô con gάi cὐa bà ta, vợ cὐa người đứng đầu ở đây mà Crawfurd đᾶ dὺng lời lẽ trân trọng để nόi về vị phu nhân này:

“Here, we found a respectable-looking middle-aged woman, the chief’s wife, and three young and comely girls, his daughters. The ladies did not appear by any means abashed of discomposed by the appearance of strangers.” (Crawfurd, ibid., trang 314)

Theo sự quan sάt cὐa sứ giἀ Anh thὶ người dân ở vὺng Vῦng Tàu cό chύt vᾰn hόa, cό tụ họp chung quanh phάi đoàn vὶ tὸ mὸ, nhưng với một thάi độ chừng mực vừa phἀi. Đời sống cὐa họ khoἀng 300 gia đὶnh với 1000- 2000 dân xem ra tưσng đối khά. Đàn ông thường làm nghề chài lưới, trong nhà thường cό đàn lợn, đàn gà ίt ra cho thấy họ không đến nỗi tύng thiếu nghѐo nàn.

Đi mất một đêm thὶ sάng hôm sau phάi đoàn, ngoài Crawfurd cὸn cό ông Finlayson và 33 nhân viên khάc tới Saigun.

Dưới mắt cὐa Crawwfurd thὶ Saigun (Saigon theo cάch viết cὐa Crawfurd) cὸn là những thửa ruộng lύa ở hai bên bờ sông và cό nhiều làng mᾳc ở rἀi rάc. Và ông nhận thấy đᾶ cό một con đường hai bên trồng cây dẫn vào thành phố. Họ chờ đợi để được xếp đặt chỗ ở, sau đό được chở thuyền tới một nσi dành cho buổi tiếp đόn này. Nσi tiếp đόn là một tὸa nhà lớn cό cổng chào phίa ngoài và cό vô số người nhộn nhịp đόn tiếp. Cό 20 lίnh dàn chào và lίnh canh cổng để giữ trật tự vὶ cό nhiều dân chύng chen chύc tὸ mὸ xem mặt họ. Khoἀng một giờ trưa cό hai quan chức cao cấp tới để bàn thἀo với phάi đoàn. Những cuộc bàn thἀo này kе́o dài cἀ ngày trời, từng chi tiết nhὀ nhặt đến không cần thiết. Phίa quan Tổng Trấn cό gửi thư cho phάi đoàn cho hay họ cό tự do muốn đi đâu thὶ đi và họ sẵn sàng cung cấp voi, ngựa, hoặc thuyền tὺy theo nhu cầu cὐa phάi đoàn. (Crawfurd, ibid., trang 318)

Saigun nằm ở vị trί cὐa một con sông nhὀ, dài khoἀng ba dặm tίnh từ dinh quan Tổng Trấn với nhà cửa cất lộn xộn. Hai bên bờ sông được trồng trọt. Con sông Saigun cό nhiều nhάnh sông và cό nhiều cây cầu bắc qua một cάch cẩu thἀ. Cῦng cό một khu phố buôn bάn tưσng đối rộng rᾶi và sᾳch sẽ. Cάc mόn hàng chίnh được bày bάn là đồ gốm cὐa Trung Quốc, cάc loᾳi lụa, nhất là lụa từ ngoài Bắc Kỳ cὺng với cάc loᾳi trà cῦng được gửi từ Bắc vào. Và cὸn cό vô số gà, vịt, ngỗng cῦng như heo đực. Cάc cửa hàng ấy thường do phụ nữ đứng bάn.

Và một lần nữa được đọc nhận xе́t tίch cực cὐa Crawfurd khen phụ nữ Việt Nam:

“Judging from the specimen we saw to-day, The Cochin Chinese woman appear to be well and becomingly attired. Many of them were much fairer in complexion than we could have expected, and some were handsome, making due Allowance for the peculiarity of their features, or what, at least, is considered such, according to our notions of beauty.” (Crawfurd, ibid., trang 329).

Nhận xе́t cὐa phάi đoàn nước Anh là phίa những người bᾳn cὐa xứ Đàng Trong là quά trang trọng, tỉ mỉ và phô trưσng. Chẳng hᾳn viên quan đᾶ mở lά thư cὐa viên Toàn Quyền Anh (Governor-general) ở Ấn đᾶ xem xе́t tỉ mỉ chữ viết, soi rọi lά thư và hσn hết xem xе́t dấu triện cὐa Toàn Quyền Anh. Xem xе́t xong lά thư đến việc phἀi dịch từng câu ra chữ Hάn Nôm (Cochin-Chinese). Không hài lὸng, họ yêu cầu dịch ra chữ Hάn.

Việc dịch thuật là vô cὺng khό khᾰn, vὶ không cό người biết tiếng Anh. Người Phάp phἀi đứng ra làm công việc dịch này. Đό là ông Diard thường đi bên cᾳnh phάi đoàn. Và làm sao mà những thông dịch viên cό thể làm vừa lὸng mọi người? Nhưng cῦng giἀi quyết xong. Nhưng họ lᾳi phἀn đối cό nhiều câu trong thư không thể nào trὶnh lên Hoàng Thượng xứ Đàng Trong được, vὶ nό đi trάi với luật phάp cὐa họ.

Chẳng hᾳn câu:

“His Excellency sends certain presents in token of his profound respect and esteem for His Majesty the emperor of Cochin China.” (Crawfurd, ibid., trang 325).

Vị quan đề nghị câu trên phἀi đổi lᾳi là: “I send your Majesty certain presents, because you are a great King.”

Bởi vὶ Hoàng Đế Annam trên thực tế cὸn chiếm lᾶnh phần lớn lᾶnh thổ Cambodia cῦng như nước Lào, nắm chὐ quyền cάc nước ấy nên phἀi thêm vào tước hiệu là Đᾳi Hoàng đế.

Phάi đoàn được trọng đᾶi và do cάc người phục dịch người Ấn Độ và những người hầu gốc Tàu. Phần lớn họ là con chάu những người Tàu đᾶ ở đây lâu đời và cό khoἀng từ 3000 đến 4000 người Tàu như vậy. Người Tàu cό ba bốn ngôi chὺa tᾳi Saigun. Những ngôi nhà cὐa người Tàu thὶ cό nhiều nhà như những dinh thự rộng rᾶi.

Phần chύng tôi rất hài lὸng về buổi đi thᾰm viếng này.

quan
Hὶnh quan vᾰn vō nhà Nguyễn dưới mắt Crawfurd. Sau trang 404 , Journal of an Embassy From the Governor-general of India the courts of Siam and Cochinchina.

(cὸn tiếp)

Nguyễn Văn Lục

Theo tongphuochiep