Đọc khoἀng: 29 phύt

Lời nόi đầu:Theo sự phân loᾳi cὐa Hê-gσ, và bἀn tổng kê cὐa cάc nhà khἀo cổ tᾳi miền Bắc, trong sάch Thời Đᾳi Đồng Thau, những trống đồng loᾳi 1 phάt hiện ở Việt Nam khoἀng trên 70 chiếc. Số lượng tὶm thấy đᾶ hσn bất cứ một miền nào khάc. Mặc dầu tướng Mᾶ Viện đời Đông Hάn khi qua đάnh Giao Chỉ, đᾶ tịch thu không biết bao nhiêu trống nữa, để đύc con ngựa kiểu mà chσi, và đύc cάi cột đồng khắc chữ “Đồng Trụ chiết Giao Chỉ diệt“.

Những trống loᾳi 1 đᾶ thấy khά nhiều tᾳi Thanh Hoά để cό thể đoάn chắc rằng Thanh Hoά là nới sἀn xuất và những trống cὺng loᾳi thấy ở cάc nσi khάc (Hà Đông, Hà Nam, Hà Nội, Hἀi Phὸng, Hoà Bὶnh, Cao Bằng, Lào Cai, Sσn Tây, Bắc Ninh, Hἀi Dưσng, Nam Định, Nghệ An) là những trống được kịp thời giấu đi. Đό là những trống cό thể đoάn được là cὐa cάc tὺ trưởng đᾶ thuê lὸ Thanh Hoά đύc. Đό là những vật biểu tượng quyền uy cὐa tὺ trưởng.

The Dong Son bronze drums

Trong những di vật quу́ giά này, trống thuộc loᾳi vừa kể, thuộc loᾳi đẹp nhất, vẫn là trống tὶm thấy nᾰm 1902 ở Ngọc Lῦ (tỉnh Hà Nam) hiện để tᾳi viện bἀo tàng lịch sử ở Hà Nội.

Cάc nhà khἀo cổ cό tinh thần khoa học mới, khi nghiên cứu về những di vật ấy chắc sẽ hứa hẹn nhiều khάm phά về kў thuật, niên đᾳi, tưσng quan tᾳo tάc, tưσng quan sἀn xuất, xᾶ hội, cἀ về trὶnh độ tiến hoά mў thuật cὐa dân tộc.

Chύng tôi nghiên cứu lịch sử, không bị ước thức bởi những mô thức, nên tự thấy được rộng tay đόng gόp một phần tὶm tὸi thuộc về nội dung những hὶnh vẽ. Tất nhiên không thiếu gὶ nhà khoa học mới mỉm cười cho là tưởng tượng, nhưng tὶm hiểu у́ nghῖa cὐa một hὶnh vẽ cῦ không cό lời chύ giἀi cὐa tάc giἀ bên cᾳnh, mà chẳng dὺng tưởng tượng thὶ dὺng cάi gὶ? Người ta đᾶ tưởng tượng đây là bộ lᾳc thờ thần mặt trời, mặt trᾰng, hay thờ chim vật tổ. Nhưng cό tinh thần khoa học nào cấm người khάc không được cό tưởng tượng khάc, nhất là khi tưởng tượng này cό thể hữu lу́, dễ đύng hσn? Huống chi chύng tôi cό ở đây khά đὐ những cᾰn cứ cὐa nền cổ học phưσng Đông mà dường như nhiều nhà khoa học mới vὶ lẽ nào đό không để у́ tới khiến sự nhὶn vào di sἀn vᾰn hoά cῦ ở Đông phưσng, mà thuần bắng con mắt Tây phưσng, thὶ cό thể sẽ quên những khίa cᾳnh quan trọng ở nột dung chᾰng?

Chίnh vὶ ngᾳi chuyện ấy mà chύng tôi cό bἀn viết này, riêng đề cập tới hὶnh vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lῦ, ước mong cho rằng nό sẽ là chὶa khoά để mở nhiều những kho tàng khάc cό thể cό trên những mặt trống khάc. Chύng tôi không nόi tới hὶnh vẽ ở tang trống vὶ nό cό giά trị trang trί nhiều hσn là thực tiễn.

Trống đồng Ngọc Lῦ

Kể từ ngày cάi trống này được moi ra khὀi chỗ chôn giấu đến nay, những hὶnh vẽ trên mặt trồng vẫn là một thάch đố đối với cάc nhà khἀo cổ học, cῦng như với nhân dân Việt Nam muốn tὶm hiểu nό định nόi cάi gὶ?

Chύng tôi rất kίnh phục và cἀm σn cάc nhà khἀo cổ Tây phưσng nhất là ở trường Viễn Đông Bάc Cổ Phάp, để rất nhiều nᾰm thάng và tâm tư cὺng đem những sử học, mày mὸ, khἀo sάt, suy luận và giἀ thiết. Cάc vị ấy đᾶ viết nên cἀ những bộ sάch lớn khiến trống đồng trở thành một vật nổi tiếng trên Thế Giới. Nhờ cάc vị mà rất đông những nhà học giἀ cὐa nước chύng tôi khi đề cập đến di sἀn vᾰn hoά này cῦng đᾶ khiến được cho quần chύng bὶnh dân biết đᾳi khάi rằng ngày xưa cάc bộ lᾳc cὐa tổ tiên mὶnh thờ vật tổ là con chinh tên là Lᾳc, thờ thần mặt trời (vὶ hὶnh vẽ ở trung tâm mặt trời loе́ ra nhiều tia sάng), lᾳi cό những hὶnh người đội mῦ cάnh chim, mặc άo xὸe ra như lông cάnh chim, rồi cό cἀ mắt chim ở đầu mῦi thuyền, đầu mῦi tên, trên mάi chѐo, bάnh lάi thuyền, …

Nhiều vị xάc quyết rằng bộ lᾳc cổ xưa này sau đό di cư đến cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng, nên cό liên hệ bà con với bộ lᾳc Dayak ở Bornе́o, cὸn cό hὶnh thuyền giống như trên trống dὺng vào dịp tang lễ. Nhiều vị khάc cὸn thêm tᾳi miền Bắc cό bộ lᾳc hay hoά trang cάi đầu thành đầu chim trong lễ nghi cύng kiếng theo điệu trống đồng.

Trống vốn không biết nόi, cῦng không biết thế nào mà dάm cᾶi. Thôi thà tuỳ người ta nhớ được một tiền tίch nào ở đâu thὶ sẵn ghе́p cho nό những nội dung khάc nhau. Ra sao nό cῦng phἀi chịu.

Chύng tôi chỉ trộm nghῖ rằng, trống đồng xưa chỉ tὺ trưởng mới được phе́p cό, nό như một ấn ngọc tỷ, biểu tượng uy quyền cὐa vị Hoàng Đế, người ta chἀ nên lầm mà hiểu nό như một sἀn phẩm công nghệ để trao đổi trong phiên chợ, và hiểu những hὶnh vẽ là để cho vui mắt người mua dὺng.

Việc cần là tὶm cάi у́ tiên khởi cὐa người xưa gởi gắm vào hὶnh vẽ và nếu cό thể được thὶ tὶm hiểu xem hὶnh vẽ đό để làm gὶ?

Tᾳm coi là hὶnh mặt trời ở giữa mặt trống, nhưng sao lᾳi 14 tia sάng mà không hσn, không kе́m?

Sao lᾳi chỉ cό 18 con chim?

Sao lᾳi cό 6 con gà, 10 con hưσu? Rồi 8 con gà 10 con hưσu nữa?

Nếu làm cho đẹp sao không làm đều nhau?

Cό lẽ chᾰng đây là cάi trống cὐa người tὺ trưởng quἀn lᾶnh 14 vị tὺ trưởng nhὀ khάc mà tiếng trống đάnh lên thὶ 14 nσi kia đều phἀi nghe?

Hoặc đây là một đάm rước và người ta hoά trang chᾰng? Nhưng đâu là đầu, đâu là cuối đάm rước? Và sao lᾳi cό người giᾶ gᾳo? Người ngồi nhà sàn?

°°°

Tài ba và nhiệm vụ cὐa tὺ trưởng

Một tὺ trưởng hẳn phἀi cό nhiều đάm dân đến hὀi những việc thuộc đời sống hằng ngày cὐa họ. Ông phἀi cό hiểu biết gὶ hσn họ và chỉ bἀo họ ra sao?

Chẳng hᾳn, cό đάm hὀi đêm nay cό thể đi sᾰn được không?

Liệu cό trᾰng không? Trᾰng lên vào chặp tối hay gần sάng?

Ngày mai nước cό lên không? Cό thể cho thuyền ra khσi đάnh cά được không?

Mὺa này nên ở nhà hay đi hάi trάi?

Đᾶ nên giᾶ gᾳo để ὐ làm rượu dὺng vào ngày lễ nào đό chưa?

°°°

Ông tὺ trưởng phἀi cό nhiệm vụ biết ngày giờ, sάng tối, trᾰng trὸn trᾰng khuyết, tiết trời nόng lᾳnh, mưa giό, con nước, tὶnh hὶnh muôn thύ, cῦng như những dịp lễ lᾳt phἀi chuẩn bị trước. Sự tίch lῦy kinh nghiệm cὐa nhiều đời tὺ trưởng đᾶ phἀi được ghi lᾳi, cῦng như phἀi cό gὶ để mà ghi lᾳi, để mà làm việc và hướng dẫn quần chύng.

Một quyển lịch cổ xưa

Vὶ cάc lу́ lẽ trên, vị tὺ trưởng phἀi cό một quyển lịch nᾰm, tίnh theo tuần trᾰng, theo mὺa màng khί tiết, đặt ngay cᾳnh mὶnh, để dân hὀi gὶ là tra ngay ra được câu trἀ lời.

Lịch ấy vᾳch trên đồ đất nung thὶ dễ vỡ, dễ mὸn, không truyền được nhiều đời. Vᾳch trên mặt trống đồng thὶ thật là tiện, gọn, đύng với vật biểu tượng uy quyền cὐa mὶnh cὺng cἀ dὸng tὺ trưởng.

Vậy những hὶnh vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lῦ là một quyển Âm Lịch, cό thάng đὐ, thάng thiếu, cό đêm trᾰng trὸn, trᾰng khuyết, hay không cό trᾰng, lᾳi cό cἀ nᾰm nhuận và chu kỳ 18 nᾰm để tίnh thάng dư, cῦng như cό những chỉ vᾳch về 4 mὺa trong nᾰm.

Nếu vậy thὶ không những không cό gὶ là mê tίn (thờ chim, vật tổ mặt trời, mặt trᾰng, ca vῦ để cầu thần linh,…) mà cό vẻ như người xưa cὸn cό tinh thần thực tế, hợp lу́, khoa học, chίnh xάc, chưa biết chừng người đời nay cὸn phἀi giật mὶnh là đằng khάc nữa.

Cάch đếm ngày và đêm

Nᾰm âm lịch theo kinh nghiệm nhiều đời nghiên cứu mặt trᾰng, vẫn được tίnh là 354 ngày (dưσng lịch tίnh 365 ngày) chia ra cho 12 thάng, thὶ mỗi thάng 29 ngày gọi là thάng thiếu và cό dư 6 ngày để thêm vào cho 6 thάng khάc gọi là thάng đὐ.

Vậy một nᾰm âm lịch cό 6 thάng 29 ngày và 6 thάng 30 ngày.

Cứ nᾰm nᾰm lᾳi cό hai nᾰm mỗi nᾰm dư 1 thάng, gọi là nᾰm dư thάng nhuận.

Và cứ sau nᾰm thứ 18, qua nᾰm thứ 19 gọi là 1 chưσng thὶ lᾳi không tίnh là nᾰm dư, chỉ cό 12 thάng thôi, kể như là nᾰm thường vậy.

Do đό, vὸng hὶnh vẽ 18 con chim mὀ dài cάnh lớn ở ngoài cὺng là hὶnh vẽ một chu kỳ 18 nᾰm, mỗi con chim ấy là 1 nᾰm.

Vὸng hὶnh vẽ thứ nhất ở trong cὺng gần trung tâm cό 6 người trang phục kỳ dị mỗi bên vὸng trὸn đối nhau, đᾶ không phἀi người Giao Chỉ ᾰn bận như thế, mà đό là những vị thần cai quἀn mỗi vị 1 thάng, trong 6 thάng đầu ở 1 bên và 6 thάng cuối mỗi nᾰm. Thêm cό một hὶnh người thấp bе́ hσn cᾳnh 6 người ở một bên, đό là để ghi thάng nhuận cὐa nᾰm dư.

Vὸng hὶnh vẽ thứ nhὶ ở giữa, cό 6 con gà, 10 con hưσu, rồi lᾳi 8 con gà, 10 con hưσu, ấy là hὶnh vẽ những con vật tưσng trưng. Gà chỉ đi ᾰn vào ban ngày, Hưσu đi ᾰn vào đêm trᾰng sάng. Cό 6 đêm vào đầu thάng từ 1 đến 6 không trᾰng; và 8 đêm vào cuối thάng từ 22 đến 30 cῦng không trᾰng. Những đêm ấy không đi sᾰn thύ được. Và sau đό, khi cό trᾰng thὶ cό thể tổ chức đi sᾰn đêm.

Theo kinh nghiệm cῦ truyền mᾶi tới ngày nay, cό 6 đêm đầu thάng không trᾰng, người ta tίnh:

Mồng 1 lưỡi trâu – Mồng 2 lưỡi gà – Mồng 3 lưỡi liềm – Mồng 4 câu liêm – Mồng 5 liềm vật – Mồng 6 phᾳt cὀ – Mồng 7 tὀ trᾰng, là bắt đầu tuần trᾰng sάng.

Tuần trᾰng sάng kia dài đến đύng đêm 10 rằm trᾰng nάu (đάo: đὐ). Mười sάu trᾰng treo (chiêu: sάng sὐa). Mười bἀy trἀi giường chiếu (rὐ giường chiếu). Mười tάm giưσng cᾳm (trưσng: xếp đặt, chẩm: cάi gối). Mười chίn bịn rịn (bị: άo ngὐ đắp trὺm, rị: tối). Hai mưσi giấc tốt (ngὐ ngon). Hai mốt nữa đêm (mới cό trᾰng).

Từ 22 lᾳi vào tuần không trᾰng, (22 – 30) nên không cần tίnh nữa.

Cάi hoa 14 cάnh ở trung tâm không phἀi là hὶnh mặt trᾰng hay mặt trời cὐa bộ lᾳc thờ những tinh thể ấy, đό là hὶnh vẽ để đếm đêm và ngày.

Đêm là khoἀng cάch nằm giữa mỗi 2 ngày, trong cἀ thάng 29 ngày. Tổng số khoἀng cάch ấy là 28 nếu là thάng thiếu, 29 nếu là thάng đὐ.

Cάi hoa 14 cάnh, đếm hết vὸng thứ nhất từ 1 đến đêm trᾰng trὸn (15, đêm rằm) và đếm vὸng thứ 2 nữa, từ 16, thὶ lᾳi trở về đêm không trᾰng (đêm 30).

(Xem hὶnh bên trάi đầu bài viết)

Bắt đầu đếm từ đâu?

Tὶm ra đầu mối là vấn đề quan trọng. Chỉ cό 1 điểm trong cἀ vὸng trὸn để dὺng khởi đầu cuộc đếm. Ấy là điểm chỉ vào đêm 30 không trᾰng.

Ta biết rằng vào đầu thάng cό 6 đêm không trᾰng.

Vậy điểm khởi đầu để xem lịch phἀi nằm ở đuôi con gà cuối cὺng trong dὸng 6 con.

(Xem hὶnh: Doremon tô vàng con gà và vị thần “tί hon”, đό là điểm đầu nᾰm nhân sự, ngày đầu nᾰm bᾳn cό thể xάc định bằng cάch kẻ một đường thẳng từ tâm bông hoa thời gian tới điểm giữa cὐa 2 cάnh hoa (giữa 2 đêm liền nhau là 1 ngày) và hướng về phίa con gà này, đường thẳng đό sẽ tự nhiên cắt đuôi con gà, đuôi con chim ở vὸng ngoài cὺng và đi qua phần cuối cὐa một lễ hội ở sau lưng vị thần tί hon).

Thực hành việc ghi lịch và xem lịch:

Người ta cό thể dὺng một chất màu (son phấn, mực đen) mà bôi lên hὶnh cὐa mỗi cάnh hoa khi cό 1 đêm qua. Chẳng hᾳn đến cάnh thứ tư mà vὸng ngoài chưa cό gὶ cἀ thὶ đό là đêm mồng 4 thάng giêng nᾰm đầu cὐa chu kỳ. Nếu vὸng ngoài đᾶ cό 3 hὶnh người tượng trưng cho thάng và vὸng ngoài cῦng đᾶ cό 6 con chim bị bôi rồi thὶ đό là đêm mồng 4 thάng tư nᾰm thứ 7 cὐa chu kỳ.

Người tὺ trưởng cό thể lấy nᾰm đầu cὐa mὶnh chấp chưởng quyền lᾶnh đᾳo làm nᾰm đầu chu kỳ. Khi nhὶn vào lịch thὶ biết rō mὶnh đᾶ cai trị được bao nhiêu nᾰm.

Con vật nhὀ theo sau mỗi con CHIM THỜI GIAN cὐa một nᾰm là để dành ghi nᾰm nhuận 13 thάng. Cứ 5 nᾰm thὶ bôi màu đάnh dấu vào hai con vật nhὀ ấy, để hết thάng sάu nữa mới bôi vào thάng 6.

(Việc làm cό vẻ mất công. Như ngày nay, mỗi ngày người ta cῦng phἀi bόc một tờ lịch, và nếu lịch thάng thὶ mỗi ngày cῦng phἀi lấy bύt đάnh dấu để hết thάng thὶ xе́ một tờ).

Quyển Âm Lịch dὺng cho nhiều nᾰm:

Như vậy, ta thấy quyển lịch này dὺng được cho nhiều nᾰm và chύng tôi nghῖ rằng ngay cἀ bây giờ vẫn dὺng được, để cό thể mệnh danh là Nguyệt Lịch Vᾳn Niên.

Làm sao biết chίnh xάc nᾰm nào nhuận vào thάng nào?

Điều ấy chưa cό tài liệu nào khάc để hiểu thêm. Cό lẽ người xưa đᾶ dὺng lối chiêm nghiệm về khί tiết trong nhiều nᾰm, nhiều chu kỳ, thấy cό diễn biến trở lᾳi như cῦ mà bồi bổ dần cho sự hiểu biết chᾰng?

Biết đύng thάng nào đὐ, thiếu, hoặc hai ba thάng đὐ liền, hai ba thάng thiếu liền, và nhất định vào đâu trong nᾰm, tất cῦng do chiêm nghiệm.

Hoặc cὸn một dụng cụ để ghi nhớ nào khάc, trên một mặt trống khάc, hay một vật nào khάc mà ngày nay chưa tὶm ra?

Điều ta cό thể biết chắc được là người xưa đᾶ quan sάt tinh tế rồi chiêm nghiệm trước, sau mới tίnh toάn, để lᾳi chiêm nghiệm nữa, mà kiểm điểm những tίnh toάn kia.

Sάch Xuân Thu Tἀ Truyện cό chе́p rằng: mὺa đông thάng 12 (Nᾰm Ai Công thứ XII) cό châu chấu phά hoᾳi. Quу́ Tôn hὀi Khổng Tử, ông đάp: “Tôi nghe rằng: chiều mà không thấy sao hoἀ nữa thὶ côn trὺng ẩn phục hết. Nay sao hoἀ vẫn cὸn thấy chuyển vận về phίa Tây, chắc cάc nhà làm lịch đᾶ lầm”. Ý nόi theo lịch Trung Hoa là thάng chᾳp. Đάng lу́ ra thὶ sao hoἀ không cὸn thấy được vào buổi chiều. Sâu bọ phἀi ẩn phục hết rồi vὶ lᾳnh. Thế mà nay sao hoἀ vẫn cὸn thấy hiện, côn trὺng cὸn phά phάch, như vậy cάc nhà làm lịch Trung Hoa thời ấy đᾶ lầm, đάng lẽ phἀi cό thάng nhuận nữa mới phἀi.

Đό chίnh là thể thức và phưσng phάp làm lịch chung cho cἀ mọi giống dân trên thế giới, mà quyển lịch trên mặt trống đồng Ngọc Lῦ đᾶ cό sẵn những gὶ để phὸng hờ chỗ ghi nᾰm dư thάng nhuận, thὶ trước khi nό hiện ra là một bἀng lập thành, dὸng dōi cάc tὺ trưởng Giao Chỉ không phἀi chỉ chừng nᾰm ba thế hệ. Chύng ta cό thể đoάn không sợ sai lầm là ίt nhất cῦng phἀi mưσi cάi chu kỳ 180 nᾰm (tức ίt nhất là 1800 nᾰm cho đến khi cάi trống Ngọc Lῦ đầu tiên được đύc), cὸn hσn nữa thὶ không dάm biết.

Những kết quἀ chiêm tinh lịch số riêng:

Vâng, riêng cὐa dὸng tὺ trưởng Giao Chỉ. Đây là những bằng chứng hὺng hồn nhất cho biết đίch xάc hồi đầu lịch sử, giống dân Giao Chỉ ở gốc tổ sống mà chẳng dίnh dάng gὶ về vᾰn hoά với giống người Trung Hoa.

Người Trung Hoa cho rằng nền thiên vᾰn cὐa họ bắt đầu với Phục Hi, khoἀng 2850 nᾰm trước kỷ nguyên Tây lịch. Đến đời Hoàng Đế (2657 – 2557) ta đᾶ thấy họ dὺng cάch tίnh nᾰm thάng theo chu kỳ lục thập hoa giάp (chu kỳ 12 nᾰm). Hάn thư Nghệ Vᾰn Chί cό ghi: “Hoàng Đế ngῦ gia lịch tam thập quyển”. Chάu ba đời Hoàng Đế là Chuyên Hύc (2545 – 2485) rất cό nhiều về thiên vᾰn. Trύc Thư Kу́ Niên viết: Sau khi lên ngôi được 13 nᾰm, vua bắt đầu làm lịch số, và tίnh toάn vị trί cάc sao trên trời. Xuân Thu Tἀ Truyện cῦng ghi nhận rằng đời vua Chuyên Hύc đᾶ cό những quan coi về lịch, về nhị phân (xuân phân, thu phân) và nhị chί (đông chί, hᾳ chί) và đoάn được cάc ngày đầu mὺa (Xuân Thu Chiêu Công nᾰm XVII). Đời vua Nghiêu (2356-2255) đᾶ biết vị trί nhị thập bάt tύ, nhật nguyệt ngῦ tinh, đᾶ định nᾰm là 365 ngày, đᾶ biết đặt thάng nhuận.

Riêng dὸng tὺ trưởng Giao Chỉ, một mὶnh hὺng cứ một cōi trời nam, thὶ tίnh nᾰm 354 ngày với 6 thάng đὐ, 6 thάng thάng thiếu trong một nᾰm, cho đύng với tuần trᾰng và khί tiết, mà đến ngày nay, âm lịch từ Trung Hoa in đem qua bάn, cῦng tίnh theo như thế. Nếu cần tίnh sổ vay mượn, thὶ cό lẽ người Trung Hoa đᾶ thiếu nợ cὐa ta vậy.

Lịch in vào sάch và lịch khắc trên mặt trống:

“Hoàng Đế ngῦ gia lịch tam thập tam quyển”. Thật đᾶ rō: người Trung Hoa in lịch trên sάch và lịch 365 ngày. Người giao Chỉ khắc lịch vào mặt trống đồng và lịch 354 ngày. Người Trung Hoa dὺng Thiên Can, Địa Chi tίnh nᾰm thάng ngày theo chu kỳ thập lục hoa giάp. Người Giao Chỉ tίnh chu kỳ 18 nᾰm và những bội số cὐa 18 ấy. Tỉ như 180 là gồm 3 lần lục thập hoa giάp (180=3×60) . Kết quἀ vẫn như nhau vậy.

Riêng việc cό một sάng kiến sắp xếp ngày thάng nᾰm cὐa quyển lịch cho tiện dụng hàng vᾳn nᾰm thὶ đᾶ thật là một sάng chế không kе́m cōi về khoa học, hợp lу́, nhất là khi chύng ta được biết chưa thấy dẫn nước nào cό một quyển lịch như vậy (Âm lịch hay Dưσng lịch).

Đi sâu vào chi tiết:

Hướng tiến chung:

Tất cἀ cάc hὶnh vẽ chim, gà, hưσu, người, đều tiến theo một hướng trong vὸng trὸn, từ trάi qua phἀi, thuận theo chiều quay cὐa Trάi Đất đối với người quan sάt, day mặt về hướng Bắc (ngược chiều quay cὐa kim đồng hồ).

Bởi lịch này là nguyệt lịch nên đặt tất cἀ theo chiều quay chung ấy.

(Hὶnh 1a và 1b)

Phưσng tί ngọ:

Đặt đύng khởi điểm cὐa lịch ở cuối con gà trong dὸng 6 con như đᾶ nόi, thὶ phưσng tί ngọ (bắc nam) chếch qua tia cuối bên tay trάi cὐa 14 tia ở trung tâm. Ấy là tiết đông chί nhất dưσng sinh, ngày đầu nᾰm thiên vᾰncάc loᾳi vật đông miên bừng tỉnh dậy và mầm cὐa cây cối cῦng bắt đầu đội vὀ đâm lên. Ta gặp trên đường thẳng vᾳch từ trung tâm ra vὸng thứ nhất, hὶnh vẽ cὐa những gὶ như người ở trong nhà sàn vừa tỉnh dậy.

Cὸn kе́o thẳng đường ấy ngược lên phάi Nam, là thάi dưσng cư ngọ, ấy là ngày hᾳ chί, trời nόng nực. Ta gặp hὶnh vẽ cὐa những gὶ như người làm việc đồng άn vắng nhà.

Phưσng mẹo dậu:

Từ Tây sang Đông hới chếch lên, không vuông gόc với Nam Bắc, ta gặp ở 2 đầu trên đường thẳng vᾳch tᾳi vὸng trὸn thứ nhất, hai cάi hὶnh giống nhau, cὺng khum trὸn với 2 cột 2 bên, ở giữa một bệ như bệ thờ. Ấy là Xuân phân, Thu phân, khί trời mάt mẻ, mọi người phἀi lo làm việc tế lễ.

Bốn ngày thuộc nhị phân nhị chί này chίnh là 4 cάi mốc thời gian cho người ta cᾰn cứ để làm lịch.

(Tόm lược đoᾳn viết về ghi chύ trong sάch Vân Đài Loᾳi Ngữ cὐa Lê Quу́ Đôn: Không những bόng mặt trời khάc ở những ngày nhị phân nhị chί, cἀ ngày dài ngày ngắn cῦng khάc nhau. Cἀ mặt trời mọc, lặn cὐa những ngày nhị phân nhị chί cῦng vào những thời khắc khάc nhau).

Chύng ta không cὸn những dụng cụ cὐa người Giao Chỉ đᾶ dὺng để đo thời gian, nhưng chắc chắn phἀi cό, thὶ khi chiêm nghiệm mới biết được cό những gὶ khάc nhị phân nhῖ chί, để người ta dὺng nό như những cάi mốc thời gian mà làm lịch.

Phưσng tί ngọ và phưσng mᾶo dậu với chὸm sao bắc đẩu:

Trên mặt trống đᾶ cό những phưσng Bắc Nam Đông Tây như vừa nόi, thὶ trống tất nhiên phἀi được đặt theo phưσng hướng ấy trước mặt tὺ trưởng.

Do đό ngoài công dụng làm lịch, trống cὸn là một địa bàn cho một bộ tộc, khi đᾶ định cư, để tὶm ra phưσng hướng đi và về trung tâm định cư cὐa mὶnh, dὺ bằng đường thuỷ hay đường bộ.

Trên hὶnh thuyền, ở tang trống, cό vẽ cάi trống không thể hiểu là phẩm vật đem bάn vὶ chỉ cό một cάi và lᾳi đặt như thế. Đό là “cάi bàn biết phưσng hướng” đi về. Người đứng trên cầm cάi gὶ như cung tên nhưng không nhắm để bắn gὶ cἀ, đό là công cụ xem sao mà xoay hướng thuyền.

(Hὶnh 2)

Cάc hướng Đông Tây được ước định theo chiều xoay cὐa kim đồng hồ như sau:

(Hὶnh 3a)

Đό là khi người ta quan niệm Trάi Đất đứng yên một chỗ, chỉ mặt trời mọc đằng Đông, lặn đằng Tây. Nhưng khi người ta chiêm nghiệm và quan niệm Mặt Trời đứng nguyên vị và Trάi Đất chᾳy xung quanh Mặt Trời theo quў đᾳo thực cὐa nό, thὶ phưσng hướng lᾳi được ước định như sau:

(Hὶnh 3b)

Vὶ vậy, trên mặt trống đồng ta thấy:

(Hὶnh 3c)

Vấn đề hướng Đông Tây, theo sử gia Hy Lᾳp Hе́rodote, ở thế kỷ V trước CN, khi tiếp xύc với cάc tu sῖ Ai Cập, ông được cάc vị này cho biết trἀi qua 341 thế hệ thiên vưσng Ai Cập (tίnh ra 11 ngàn nᾰm) đᾶ cό 4 lần mặt trời mọc và lặn ở phưσng khάc nhau. 2 lần nό đᾶ mọc ở phίa nό lặn bây giờ và 2 lần nό đᾶ lặn ớ phίa nό mọc bây giờ.

(Xem hὶnh III.16-trang 68– Thiên vᾰn Vật lу́ — Nguyễn Quang Riệu: Doremon cό vẽ lᾳi ở hὶnh đầu bài viết này, diễn tἀ chu kỳ 26.000 nᾰm cὐa trục xoay Trάi Đất từ C –> C” –> C)

Nhà học giἀ Nga Immanuel Velikovsky khi dẫn điều ấy trong sάch “Tinh Cầu va chᾳm” (Modes en collision) cὸn nhắc thêm nhiều cổ tự Ai Cập khắc trên lά giấy papyrus nόi về sự lộn ngược cὐa Trάi Đất hồi 2 thiên niên kỷ trước Tây lịch, không thể cho là mσ hồ được những lời như: Harakhte (mặt trời chiều) mọc ở phưσng Tây. Ông lᾳi dẫn thêm những chữ khắc trong cάc kim tự thάp: “ Mặt Trời đᾶ thôi ở phưσng Tây và bắt đầu chόi sάng ở phưσng Đông”. Sau khi cό hiện tượng đἀo ngược phưσng hướng ấy, thὶ danh từ phưσng Tây và mặt trời mọc đᾶ không cὸn đồng nghῖa với nhau nữa, mà người đời đᾶ phἀi nόi thêm để xάc định: l’Quest, qui est à l’Occident (phưσng Tây là ở về phưσng Tây).

Theo luận cứ cὐa tάc giἀ thὶ đό là kết quἀ cὐa hiện tượng lộn ngược trục xoay cὐa Trάi Đất. Chύng tôi chưa dάm tin là đύng như vậy, bởi vὶ đύng như vậy thὶ kể từ ngày đổi phưσng hướng Đông Tây ấy, mà chữ khắc trong kim tự thάp ghi nhận, và đây mặt trống vẽ ra khi chưa đổi phưσng hướng, người ta tất phἀi chiếu theo để ước định rằng quan niệm và chiêm nghiệm này cό tuổi thọ xưa hσn quan niệm và chiêm nghiệm ghi trong kim tự thάp.

Quan sάt mặt trᾰng và thuỷ triều:

Tὺ trưởng cần biết đίch xάc thuỷ triều lên xuống để chỉ dẩn dân chύng làm ruộng hay ra khσi. Cho nên ông cần ngồi đồng hướng mới nghiên cứu được mặt trᾰng và con nước.

Kinh nghiệm không sai dᾳy từ xưa đᾶ cho biết rằng:

· Mặt trᾰng đến phưσng Mᾶo Dậu thὶ thuỷ triều dâng lên ở phίa Đông, Tây. Mặt trᾰng đến phưσng Tί Ngọ thὶ thuỷ triều dâng lên ở phίa Bắc, Nam .

· Từ mồng một đến ngày rằm, con nước thường chậm một đêm. Từ ngày rằm đến ngày mồng một, con nước thường chậm một ngày. Trước và sau ngày mồng một và ngày rằm, mặt trᾰng đi mau hσn, cho nên 3 ngày trước cuối thάng thὶ con nước thượng thế lớn hσn.

· Ba ngày sau ngày mồng một, con nước đưσng thế to tάt. Trong ngày rằm con nước cῦng như thế. Trong thời trᾰng lưỡi liềm, mặt trᾰng đi hσi chậm, cho nên con nước lên xuống hσi kе́m.

· Trong một thάng, con nước lên mᾳnh sau ngày mồng một và ngày rằm.

· Trong một nᾰm, con nước lên mᾳnh vào giữa mὺa xuân và mὺa thu.

· Con nước ban ngày trong mὺa hᾳ thὶ to …

Đό là những chiêm nghiệm cὐa người ở hἀi khẩu vὺng sông Mᾶ, người ở Phong Châu trong đất liền sợ không cό chiêm nghiệm ấy.

Con chim thời gian:

Trên mặt trống ở vὸng ngoài cὺng, kể như vὸm không gian, ta thấy vẽ những con chim mὀ dài cάnh lớn đang bay. Không phἀi là chim vật tổ, mà đό là biểu tượng cὐa một nᾰm qua, do người ta quan sάt thấy con chim ấy bay vύt ngang trời vào mὺa này nᾰm ngoάi, thὶ nᾰm nay cῦng mὺa này, cỡ ngày này lᾳi thấy nό bay.

Chu kỳ 18 con chim:

(Hὶnh 1)

Sάch Vân Đài loᾳi ngữ cὐa Lê Quу́ Đôn cό chе́p định thứ tίnh lịch như sau:

Ngày mồng một cὐa mỗi thάng vốn từ xưa đᾶ cό phе́p tắc.

Quy định ngày ấy cὐa 9 nᾰm trước đem dὺng lᾳi để quy định ngày ấy cὐa 9 nᾰm sau.

Gặp ngày ấy cὐa thάng đὐ ở 9 nᾰm trước thὶ đếm liên tục từ can cῦ cὐa ngày ấy đến can thứ nᾰm, từ chi cῦ cὐa ngày ấy đến chi thứ chίn (theo số lẻ, để định can chi cho ngày ấy thάng ấy cὐa chίn nᾰm sau).

Gặp ngày ấy cὐa thάng thiếu ở 9 nᾰm trước cῦng đếm như thế, nhưng dὺng can thứ 4, chi thứ 8 (theo số chẵn để định can chi cho ngày ấy thάng ấy ở chίn nᾰm sau).

Gặp nᾰm thứ 36 = 6×6 = 18×2 cὐa chu kỳ thὶ nên lưu у́ suy tίnh cho kў. Phἀi tίnh xem trong vὸng 36 nᾰm ấy cό bao nhiêu số lẻ thuộc về tiết Hàn lộ. Rồi ông lấy thành quἀ ấy để quy định ngày Lập Xuân cὐa nᾰm mới này.

Nếu tίnh toάn theo cᾰn bἀn đό thὶ không sai lầm.

Bốn mưσi bἀy nᾰm về trước cό nhuận vào thάng nào thὶ nay phἀi gia thêm 2 thάng để tίnh thάng nhuận. Giἀm tᾰng như thế thὶ không sai vào đâu được.

Tất cἀ cάc phе́p tίnh trên đây cό thể cό bàn tay mà tίnh ra được.

Vί dụ:

Giἀ như nᾰm Mậu Tу́, thάng giêng là thάng thiếu, ngày mồng một là ngày Ất Dậu, can ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu đến chi thứ tάm là Thὶn. 9 nᾰm sau là nᾰm Bίnh Thân, thάng giêng ngày mồng một là ngày Mậu Thὶn.

Giἀ như nᾰm Mậu Tу́, thάng hai là thάng đὐ, ngày mồng một là ngày Giάp Dần. Can giάp đến can thứ nᾰm là can Mậu, chi dần đến chi thứ chίn là chi Tuất, 9 nᾰm sau là nᾰm Bίnh Thân, thάng 2 ngày mồng một là ngày Mậu Tuất.

Cῦng trong Vân Đài loᾳi ngữ cὐa Lê Quу́ Đôn cὸn cό bί quyết tίnh ngày mồng một và ngày rằm như sau:

Mồng một thάng giêng cὐa 9 nᾰm trước là ngày Thὶn.

Ngày rằm thάng hai cὐa 9 nᾰm sau cῦng là ngày Thὶn.

Mồng một thàng hai cὐa 9 nᾰm trước là ngày Thὶn.

Ngày rằm thάng hai cὐa 9 nᾰm sau cῦng là ngày Thὶn.

Chύng ta chưa biết rō người Giao Chỉ khi quan niệm lịch với chu kỳ 18 nᾰm đᾶ gọi tên thάng như thế nào, và đᾶ những số can chi gọi bằng những tên nào khάc để tίnh ngày ra sao. Nhưng hẳn đᾶ phἀi cό thὶ đời sau mới noi theo bί quyết cῦ mà làm những bài thσ đặt công thức cho người làm lịch. Cἀ những kết quἀ chiêm nghiệm về khί tiết, thάng nhuận., ngày Lập Xuân,… hẳn cῦng đᾶ phἀi cό để người đời sau chỉ tuân theo thôi.

Sάu con gà và tάm con gà:

Sάch “Đᾳi Nam Nhất Thống Chί” đᾶ dẫn lời sάch Hoàn Vῦ kу́ mà cho biết rằng: ở Ái Châu về huyện Di Phong cό giống gà gọi là Trào Kê, khi tới kỳ nước triều lên thὶ gάy để bάo tin. Sάch ấy cῦng cό nόi tới một giống gà khάc ở mᾳng thượng du là Cẩm Kê, lông cό nhiều sắc xanh đὀ trắng xen lẫn như nền gấm.

Trên mặt trống, cό thể chắc được là người ta vẽ hὶnh con Trào Kê, một đặc sἀn địa phưσng cό linh tίnh hữu ίch cho cuộc sống, lᾳi cό liên hệ tới công dụng cὐa trống về sự quan sάt thuỷ triều.

(Hὶnh 2)

Nhưng tᾳi sao lᾳi vẽ sάu con gà sau ngày mồng một và ngày rằm. Trong khi theo kὶnh nghiệm chỉ 3 ngày trước và 3 ngày sau những ngày ấy thὶ con nước mới ở thế lớn hσn? Và tᾳi sao lᾳi vẽ tάm con gà bên kia vὸng trὸn, sau và trước 10 con hưσu?

Phἀi chᾰng để nόi về 6 đêm đầu thάng và 8 đêm cuối thάng không trᾰng, không nên tổ chức đi sᾰn đêm?

Mười con hưσu lᾳi 10 con hưσu:

Hưσu vẽ ở đây là hưσu sao, cό đốm lông trên mὶnh, và vẽ thành từng cặp: đực đi trước, cάi đi sau, tất cἀ đều cό sừng. Đό là con vật cό tên là lộc, hay ở nύi cao, tiết Hᾳ Chί rụng sừng (khάc hẳn với nai, chỉ con đực cό sừng và hay ở hốc nύi nên tiết Đông Chί rụng sừng).

(Hὶnh 3)

Theo tục truyền thὶ hưσu thuộc loài tiên thύ, 60 nᾰm ắt cό ngọc quỳnh, ở gốc sừng cό dấu tίch lấm chấm sắc tίm. Do đό cổ ngữ nόi con hưσu cό ngọc nên sừng vằn, con cά cό châu nên vἀy tίm. Đặc biệt hσn là hưσu trắng, người xưa coi hưσu trắng xuất hiện là một điềm may. Cho nên hễ bắt được nό thὶ người ta dâng về cho vua và sẽ được thưởng.

Theo tài liệu cὐa sάch sử và địa lу́ cῦ, chỉ Thanh Hoά cό nhiều loài này. Vὺng phίa Bắc từ Ninh Bὶnh trở ra thὶ hiếm dần. Vὺng phίa Nam cῦng vậy. Từ đѐo Hἀi Vân trở vào thὶ không thấy nữa, chỉ cό nai thôi.

Điều đάng nόi ở đây là người ta vốn biết tάnh con hưσu hay dâm, một con cάi thường giao cấu với vài con đực. Vậy mà trên mặt trống người ta vẽ cặp nào cặp ấy, không lộn xộn, con đực đi trước, con cάi đi sau. Người ta muốn sắp xếp đời sống vợ chồng cὐa chύng nό vào khuôn khổ luân lу́? Hoặc đό là dấu hiệu để nόi lên cuộc sống định cư, chấm dứt thời kỳ thị tộc mẫu hệ?

Riêng việc vὶ sao vẽ 10 con hưσu, theo у́ chύng tôi phὀng đoάn cό lẽ con số 10 chỉ là con số toàn vẹn, để nόi rằng nhiều lắm, đầy đὐ lắm, mà người đi sᾰn đêm sẽ gặp vào đêm trᾰng sάng?

Vὸng sinh hoᾳt cὐa người:

Vὸng này quan trọng hσn, tiết rằng việc nghiên cứu cὐa chύng tôi bị hᾳn chế, vὶ ngᾳi rằng người vẽ cό thể đᾶ theo định kiến cῦ về người lên đồng, ca mύa cầu thần linh, không lưu у́ đến những у́ nghῖa tượng trưng cὐa cάc hὶnh vẽ, khiến cό thể đᾶ bὀ sόt những chi tiết cό ίch chᾰng?

Tiết đông chί:

Ta gặp trên đường bάn kίnh từ trung tâm bông hoa kе́o ra, hὶnh vẽ cάi nhà sàn, cό hai vợ chồng con chim trên nόc mάi, và trong nhà cό ba người đang nằm vừa ngồi nhὀm dậy. Gόc phἀi cὐa nhà sàn ở mặt đất cό cάi gὶ như cάi cối đặt nằm nghiêng. Gόc trάi cό đứa nhὀ gō vào cάi gὶ như cάi trống con, cό vẻ để bάo thức.

(Hὶnh 4)

Ta hiểu rằng trἀi qua một mὺa đông, cάc loài vật đông miên ngὐ vὺi đến ngày đông chί mới tỉnh dậy, mầm mộng cὐa cάc loài hoa lά trên cành cῦng đến ngày ấy mới “ngồi dậy”. Cἀ đến cάi cối nằm ngὐ mᾶi cό lẽ cῦng sắp được dựng dậy để làm việc.

Tiết hᾳ chί:

Đối điểm cὐa Đông chί bên kia vὸng trὸn, trên cὺng đường kίnh là tiết hᾳ chί.

Ta gặp những cάi nhà sàn ấy. Nhưng trên nόc mάi chỉ cό một con chim trống. Vợ nό đâu? Vợ nό đưσng ở nhà ấp trứng. Do đό mὺa hѐ phἀi đόng bѐ làm phύc, không được phά phάch cάc tổ chim, bắt được chim cὸn phἀi phόng sinh nό đi, để nό về nuôi vợ con nό. Thưσng biết là bao nhiêu, truyền thống ấy cὸn mᾶi đến thế hệ chύng ta!

(Hὶnh 5)

Trong nhà sàn ta thấy hai đứa nhὀ đối mặt nhau, tόc buông sau gάy, ngồi co dầu gối đặt hai bàn chân lên nhau và đưa hai bàn tay lên cao để ύp vào nhau cho rσi cάi gὶ như hai viên sὀi. Đύng là hai đứa trẻ đang vui chσi, Cha mẹ chύng đâu? Cha mẹ chύng đi làm việc ngoài đồng άng.

Thάng tư đi tậu trâu bὸ.
Để ta sắm sửa làm mὺa thάng nᾰm.

Câu ca dao này về sau mới cό. Nhưng thời dụng biểu cὐa nhà nông trong hoàn cἀnh địa lу́, khί hậu, và điều kiện đất nước, để làm mὺa, thὶ đᾶ cό ngay từ hồi đầu định cư. Hὶnh vẽ đᾶ nόi lên thực rō.

Bên dưới nhà sàn, gόc phἀi, cό cάi cối đặt ngang và bên trάi cό một đứa trẻ ngửa mặt, tόc xoᾶ sau lưng, đưa tay kе́o một trục trὸn cό vẻ xoay được một trục đứng. Hὶnh vẽ cό nghῖa xoay và nặn đồ gốm chᾰng? Cὸn cối đặt nằm nghiêng cό nghῖa là bận việc đồng άng, nghỉ giᾶ gᾳo chᾰng?

Hội hѐ, gō trống:

Tiếp theo nhà sàn nόi về Đông chί và Hᾳ chί, đều cό cἀnh gō trống và đều cό 4 cάi đặt ύp trên bệ cὐa nό trong 4 cάi hố. Bệ là một chân đội một mặt trὸn, như hὶnh cάi nấm, để trống ύp đύng vào vành mặt ấy. Mặt ấy chắc là bằng gỗ, hẳn phἀi khoan thὐng nhiều lỗ thὶ khi gō, tiếng trống mới cό lối thoάt ra và vang đi xa. Nếu đύng như dự đoάn thὶ tuỳ theo mặt trὸn cό nhiều hay ίt lỗ, và lỗ lớn hay nhὀ cὐa 4 cάi khάc nhau, mà âm thanh cὐa cἀ 4 cάi khi cὺng gō lên đᾶ cό thể trở thành một bἀn hὸa tấu.

(Hὶnh 6)

Theo hὶnh vẽ thὶ trống đặt bên dưới nhà sàn, trong hố, không trông thấy. Người ngồi trên sàn gō vào mặt trống. Như vậy trống để gō đᾶ không cὺng loᾳi với trống biểu tượng quyền uy cὐa tὺ trưởng như trống Ngọc Lῦ này.

Bên cᾳnh nhà Hᾳ chί, cἀ bốn người gō trống đều ngồi quay mặt theo hướng chung, riêng bên cᾳnh nhà Đông chί lᾳi cό một người đứng và quay lưng lᾳi hướng chung ấy và một người ngồi đưa bàn chân để cho dὺi trống không gō xuống. Đό là hai điệu nhᾳc khάc nhau cὐa 2 dịp hội hѐ lớn khάc nhau trong một nᾰm.

Sửa soᾳn hội hѐ:

Người ta phἀi sửa soᾳn từ trước ngày Đông chί, bằng cάch giᾶ gᾳo để ὐ lên men làm rượu, hoặc để làm bάnh, nấu xôi.

Hὶnh hai người giᾶ chày đứng trong một cάi cối ở trước hai nhà đông chί và hᾳ chί nόi về việc ấy. Nhưng cἀnh giᾶ gᾳo bên hᾳ chί cό vẻ thong thἀ, người đàn ông chếch một chân đᾳp vào chân cối.

(Hὶnh 7a)

Cὸn bên đông chί thὶ vội vᾶ hσn, người đàn ông đứng cἀ hai chân trên mặt đất và người đàn bà tόc xoᾶ tay cầm chày giσ cao hσn.

(Hὶnh 7b)

Hὶnh người và gà cᾳnh đό cῦng khάc nhau. Sau xuân phân, người cầm gậy quay mặt lᾳi cό vẻ là chᾰn dắt nuôi gà. Sau thu phân, người kiễng chân, không cό gậy, cό vẻ là nhἀy để bắt gà. Đό là những việc phἀi làm để sửa soᾳn cho ngày lễ.

Xuân phân thu phân:

Trên cὺng một đường kίnh vᾳch ngang hσi chếch lên đường Đông chί Hᾳ chί, là đường Xuân phân Thu phân, ta thấy 2 kiến tᾳo giống nhau, mάi hὶnh khum mui thuyền, gάc trên hai trụ đứng cῦng khum lᾳi, trên đầu gọt trὸn đều nhau, với hai vὸng trang trί trὸn, cὸn phίa chân cột cό sàn bắt ngang, để hở ở dưới hai tἀng kê hai bên với một vật gὶ như để chồng ở giữa.

(Hὶnh 8)

Bên trong khung hὶnh khum ấy, khoἀng trống được vᾳch chia làm 3 phần, bên Xuân phân thὶ ở giữa hὶnh chữ nhật vẽ một người đứng nghiêng, quay mặt theo hướng chung, tay cầm cuống một trάi gὶ như trάi bầu trὸn. Hai phần tἀ hữu, một bên vẽ bἀy vὸng trὸn, một bên vẽ tάm, tất cἀ đều cό một chấm ở giữa.

Nếu vὸng trὸn ấy là hὶnh trάi cây thὶ kiến tᾳo miếu thờ vị thần phὺ trợ cho cây cối sinh nhiều trάi. Cὸn bên Thu phân thὶ vẽ hὶnh người dang chân và dang tay lên trời, hai bên không cό vὸng trὸn mà cό 4,5 vết như lά tụng. Người vẽ tὀ ra rất hiện thực vậy.

(Cό у́ kiến cho rằng cάc vὸng trὸn cό chấm là nhᾳc cụ cồng, chiêng; cό у́ kiến lᾳi cho rằng đό là biểu tượng cὐa hào âm hào dưσng; xem thêm bài “Dᾳng nguyên thuỷ cὐa Âm Dưσng”)

Cάc vị Nguyệt thần:

Theo điểm khởi đầu nᾰm nhân sự, ta thấy ban đầu cό một vị thần nhὀ bе́ hσn cἀ, không cό mῦ, để dὺng ghi thάng nhuận, rồi đến 6 vị để ghi sάu thάng đầu nᾰm, đối diện với bên kia vὸng trὸn cό 6 vị nữa để ghi sάu thάng cuối nᾰm.

Vị nhὀ bе́ để ghi thάng nhuận, cάnh cụp xuống, đầu không mῦ, người nghiêng, tay cầm phάch dang ngang theo tư thế ca vῦ. Cὸn 12 vị đều là chim thần, không phἀi người hoά trang thành chim.

Người ta nhὶn vội nên cho rằng người đội mῦ lông cάnh chim. Đό là một bên cάnh mọc từ lưng ra, bị đầu che một đoᾳn, cὸn một bên cάnh mọc từ ngực ra xoѐ xuống đất. Bởi nếu là đội mῦ, thὶ cό vị quay mặt đi, cό vị quay mặt lᾳi, sao mặt quay lᾳi mà mῦ lᾳi không quay lᾳi?

Lông đuôi thὶ xoѐ về phίa chân trước. Hai tay và hai chân thὶ rάp vào hai bên mὶnh như người. Chim thần khàc người và khάc chim thường ở chỗ ấy.

Việc dὺng một con chim thần tiêu biểu cho một thάng chứng tὀ người xưa quan niệm thời gian qua mau. Nhưng khάc với người phưσng Tây thần thάnh hoά và nhân cάch hoά thời gian thành hὶnh một ông cụ cό cάnh, tay cầm lưỡi hάi tượng trưng quyền lực huỷ hoᾳi, không những thời gian chẳng giύp gὶ cho người mà cὸn thὺ nghịch với người nữa. Ở đây chim thần từng thάng đem những hướng dẫn đến cho người trong cuộc sống. Thời gian cό cộng tάc với người, là bᾳn là thầy cὐa người.

Trừ vị thần dὺng cho thάng nhuận (xen kẽ vào bất cứ thάng nào trong nᾰm) đύng là cό dάng điệu người ca vῦ mềm mᾳi và vui tưσi, chân bước theo hướng tiến chung, hai tay cầm cάi gὶ như phάch để gō nhịp cho bước chân, cὸn 12 vị thần khάc thὶ mỗi vị cầm một đồ vật khάc nhau để nόi lên cάi у́ khuyên bἀo người đời thάng ấy thὶ nên làm một việc nào với đồ dὺng đό:

Thάng giêng: Đồ vật ở thάng giêng to lắm, thần phἀi ôm bằng hai tay đưa ra phάi trước mặt, trong cό vẻ như con cά. Cό lẽ là thάng nên đi bắt cά. Về điểm này ta thấy tệ xưa cό ghi rằng: Loài gấu chưa tế thύ (vào mὺa thu) thὶ không được chᾰn lưới ở cάnh đồng, loài rάi chưa tế cά (vào mὺa đông) thὶ không được thἀ lưới vе́t xuống nước. Nay đᾶ sang thάng giêng, vậy cό thể đi bắt cά được.

Thάng hai: Đồ vật ở thάng hai là cây gậy thẳng, thần cầm bàn tay trάi đưa ngang ra trước mặt, đầu trên cὐa gậy uốn ra ngoài, đầu dưới uốn vào phάi bụng. Tay phἀi cὐa thần đưa về phίa sau lưng cầm một trᾳc gậy trύt xuống. Chân và mặt đưa ra theo hướng tiến chung. Cό thể là con dao đi rừng để chặt những cành kho cὐi mục, việc nên làm vào thάng hai.

Thάng ba: Thần bước đi theo hướng tiếng chung nhưng mặt quay lᾳi nhὶn tay phἀi cầm trᾳc cây trύc xuống, tay trάi cầm một cây gậy hσi cong với đầu to ở trên, đầu nhὀ ở dưới. Cό vẻ thần khuyên người nên làm việc gὶ ngay trên mặt đất sau bước chân cὐa mὶnh, giao hᾳt giống chᾰng?

Thάng tư: Thần cό dάng điệu như vị ở thάng ba nhưng mὶnh nghiêng hẳn về phίa sau, đầu và mὀ cῦng cuối thấp hσn, với mặt mở trὸn to hσn. Nếu không cό điệu cάnh và chân bước theo hướng chung thὶ cό thể kể là thần đi ngược chiều được. Tay trάi thần cῦng cầm gậy thẳng nhưng ngắn hσn, tay phἀi cầm gậy trᾳc cây với gốc độ đẹp hσn. Cό vẻ thần khuyên người sᾰn sόc việc bắt sâu bọ.

Thάng nᾰm: Mắt thần nhὶn theo hướng tiến chung, thân hὶnh ở tư thế đi bὶnh thường, tay trάi cầm gậy ngắn nhất, tay phἀi cầm trᾳc cây với một bên cụt hσn. Cό vẻ như thần khuyên nghỉ tay.

Thάng sάu: Cῦng vậy, cό vẻ như thάng này và hai thάng nữa không thể làm việc đồng άn được.

(Hὶnh 9a)

Thάng bἀy: Thần quay mặt nhὶn theo hướng chung, cầm trong tay vật gὶ như muỗng mύc canh, cό dấu trὸn biểu tượng mắt chim ở ngoài, tay phἀi cầm cάi gὶ như cάi lồng bắt chim. Cἀ hai tay đều đưa về phάi trước mặt. Cό vẻ là thάng nên đi bắt chim. Vị này cό thêm một đặc điểm: ở sau gάy nσi đầu cάnh cό một hὶnh tam giάc, giữa vẽ một hὶnh trὸn, chưa rō у́ nghῖa gὶ.

Thάng tάm: Thần thổi loa ở miệng, loa dίnh với một vật trὸn tia ra ba vᾳch lên trời, ba vᾳch xuống đất. Đό cό vẻ là tiếng gọi vào rừng sᾰn thύ. Thάng tάm trᾰng sάng nhất là thάng thίch hợp nhất cho việc ấy.

Thάng chίn: Thần cầm dao đi rừng như thάng hai nhưng đầu trên lᾳi khoằm vào trước mặt, đầu dưới lᾳi uốn khoằm ra, mặt và chân quay về hướng tiến chung. Cό vẻ là vật để hάi trάi, mά thάng này là thάng cό nhiều trάi cây chίn.

Thάng mười: Thần vẫn cầm dao ấy ở tay trάi như vậy nhưng mặt nhὶn xuống đất sau bước chân với chᾳc cây hᾳ thấp xuống gần mặt đất. Cό vẻ như thần muốn nόi về việc gặt lύa.

Thάng mười một: Thần cầm gậy ngắn với trᾳc cây ngắn ở tư thế nghỉ ngσi và theo dάng đi bὶnh thường (như thάng nᾰm, thάng sάu đᾶ nόi). Cό vẻ là thάng xong việc đồng άn thὶ nghỉ ngσi.

Thάng chᾳp: Thần cầm vật gὶ giống như hὶnh cάi bàn chἀi đάnh rᾰng, dài bằng cἀ một bên cάnh, dưới đầu cάn cό hὶnh mῦi tên chῖa nghiêng xuống mặt đất phίa trước mặt. Ấy là hὶnh tượng sự chίt một lông cάnh thời gian, để nόi việc hết nᾰm.

(Hὶnh 9b)

Những đặc tίnh cὐa mỗi nᾰm trong chu kỳ:

Chύng ta thấy mỗi con chim thời gian giống nhau bay ở vὸng ngoài (theo chu kỳ 18 nᾰm đᾶ nόi) đều cό một con chim nhὀ ở dưới mὀ dài cὐa nό, mà chim ấy thὶ không con nào giống con nào cἀ.

Cần phἀi là người đi rừng nhiều, trông hὶnh vẽ mới tin chắc được rằng lịch 12 con giάp cὐa Trung Hoa đᾶ ίt tuổi hσn lịch 18 con chim này nhiều lắm. Bởi lịch này cho thấy người ta mới định cư cὸn ở thời kỳ chưa nuôi được con lợn, con trâu, con mѐo, chưa biết được con dê con ngựa là gὶ nữa.

Kết luận:

Mặt trống đồng Ngọc Lῦ quἀ đύng là một quyển lịch được sắp xếp và vẽ một cάch thông minh. Trừ một vài chi tiết chưa hiểu rō như đᾶ nόi, những nе́t chίnh cὐa hὶnh vẽ đᾶ khiến ta chân thành khâm phục rằng: Với mức độ hiểu biết và tiến hoά cὐa đời nay cῦng chưa chắc cό người bố trί nổi một bἀn ghi thời gian tài tὶnh như thế.

Lê Văn Siêu - Việt Nam Văn Minh Sử – 2006

Theo luocsutocviet