Đọc khoἀng: 19 phύt

Bài nầy nhắm vào việc giới thiệu với giới trẻ một khίa cᾳnh cὐa tiếng Việt, đό là những từ Việt gốc Phάp. Do đό nhiều chỗ cό những giἀi nghῖa dài dὸng, cό thể hσi thừa đối với những người lớn tuổi (45-50 trở lên), xin quί vị lớn tuổi chấp nhận cho. Một số những từ trong bài nầy cό trong quyển Việt Nam Tự Điển (VNTD) cὐa cάc ông Lê Vᾰn Đức và Lê Ngọc Trụ, hoặc trong quyển Gốc Và Nghῖa Từ Việt Thông Dụng (GvN) cὐa ông Vῦ Xuân Thάi, một số những từ Việt hόa mà tôi kể ra ở phần sau không cό trong hai quyển nầy.

Một số từ Việt hόa ghi trong VNTD chỉ ghi phần giἀi thίch mà không cό ghi nguyên ngữ Phάp. Dưới đây, một số nguyên ngữ Phάp do chύng tôi ghi trong cάc dấu ngoặc đσn là theo trί nhớ cὐa chύng tôi với sự giύp đỡ cὐa bᾳn tôi là anh Nguyễn Ánh Dưσng. Mong rằng chύng tôi nhớ đύng, mặc dầu đᾶ trên 30 nᾰm không viết hay đọc tiếng Phάp. Nếu thấy chỗ nào sai xin quу́ vị chỉ dᾳy hoặc bổ tύc giὺm, chύng tôi cἀm σn nhiều.
*
Trong tiếng Việt cό thể nόi trên nᾰm mưσi phần trᾰm cάc từ cό nguồn gốc Hάn Việt (HV). Nhiều từ loᾳi nầy chύng ta đᾶ dὺng lâu đời và đᾶ trở thành thông dụng đến nỗi chύng ta không để у́ chύng là những từ Hάn Việt nữa. Ảnh hưởng cὐa Trung Hoa (TH) trong tiếng Việt là kết quἀ tự nhiên cὐa hàng ngàn nᾰm Bắc Thuộc và ngay trong thời kỳ tự chὐ gần mười thế kỷ cῦng dὺng Hάn tự như ngôn ngữ viết chίnh thức cὐa quốc gia.

Nhưng cὸn khoἀng 100 nᾰm dưới ἀnh hưởng cὐa Phάp thὶ sao? Chύng tôi thử ghi nhận ra đây những từ (chữ) mà thế hệ chύng tôi, những người mà hiện giờ đang trong lứa tuổi 45-70 trở lên, đᾶ cό dịp đọc qua, hoặc nghe nόi nhiều lần, hay chίnh mὶnh trực tiếp dὺng những từ đό, dὺng một cάch tự nhiên, hay dὺng để nhớ lᾳi một dῖ vᾶng nào đό. Trong những từ nầy, một số đᾶ cό một thời thông dụng mà bây giờ thὶ ίt ai nhắc đến nữa. Một số từ khάc vẫn cὸn thông dụng ở một vài địa phưσng trong nước, hoặc hἀi ngoᾳi.

Giọng Hάn Việt và cάc địa danh

Vấn đề người VN đọc cάc địa danh hay nhân danh ngoᾳi quốc bằng cάch nào là một vấn đề cho đến nay vẫn cὸn trong vὸng tranh luận. Tuy nhiên trong một thời gian dài chύng ta đᾶ chấp nhận việc đọc cάc địa danh ngoᾳi quốc bằng cάch mượn những từ Trung Hoa đᾶ dὺng sẵn và đọc theo giọng Hάn Việt.

Ảnh hưởng cὐa TH nhiều đến đỗi ngay cἀ từ “Phάp” để chỉ địa danh Phάp hay dân Phάp, cῦng cό nguồn gốc Hάn Việt. Phάp đᾶ đô hộ VN gần 100 nᾰm. Phάp chίnh thức chiếm một phần lᾶnh thổ cὐa VN vào nᾰm 1862 và nᾰm 1867. Nᾰm 1884, mặc dầu Phάp chia VN ra là ba phần với ba thể chế chίnh trị khάc nhau, Phάp đᾶ đặt nền đô hộ trên toàn cōi VN.

Lưu bἀn nhάp tự động

Mᾶi đến nᾰm 1954, sau hiệp định Genѐve Phάp rύt quân khὀi phần đất phίa Bắc cὐa vῖ tuyến 17 và nᾰm 1955 Phάp rύt quân khὀi miền Nam vῖ tuyến nầy và hoàn toàn rời khὀi VN. Nhưng tᾳi sao từ “Phάp” cό nguồn gốc Hάn Việt (HV)?

Phάp Lang Sa, Lang Sa, Phάp

Người Trung Hoa âm từ France tức nước Phάp ra ba phần: F, ran, ce. Nhưng trong ngôn ngữ TH không cό âm “R”, và họ dὺng âm “L”thay thế. Do đό TH viết ba phần trên thành ba từ và đọc là Phà lᾶn xi (giọng quan thoᾳi), hoặc “Phap làn xấy” (giọng Quἀng Đông). Khi người TH phάt âm giọng quan thoᾳi, chύng ta nghe gần giống âm cὐa nguyên ngữ “F ran ce” hσn, nhưng bị đổi thành “F lan ce”. Họ đᾶ đọc từ “ran” thành “lᾶn”. TH mượn âm “xi” để đọc từ “ce”. Xi hay xấy là “tây” tức hướng Tây. Cάc nhà nho cὐa ta đọc lᾳi địa danh ấy là ”Phάp lang tây” hay Phάp lang sa. Từ đό chύng ta cό từ “Phάp” hay từ “ Lang sa” để chỉ nước “Tây” hay nước Phάp.

Cῦng một cάch đọc đό, mẫu tự R đᾶ thành L trong hai từ Franc và Paris và tất cἀ những từ nào cό “R”. Franc, đσn vị tiền tệ cὐa Phάp, được TH đọc là “Phà lᾳng” (giọng quan thoᾳi) hay “phap lὸn” (giọng Quἀng Đông); và chύng ta gọi là đồng Phật lᾰng (giọng HV). Paris, thὐ đô cὐa Phάp, cό giọng TH “Pa li” hay giọng HV là “Ba lê”.
Mў, Hoa Kỳ, Hợp Chύng Quốc, Cờ Hoa

Một vί dụ khάc nữa trong việc mượn tiếng TH đọc âm HV là từ “Mў” để chỉ Hoa Kỳ (HK). Từ nầy do nguyên ngữ America. TH viết và đọc đᾳi khάi là “A mi li ca” (chữ r thành l trong từ li) và cάc cụ chύng ta đọc Á mў lệ ca. Tàu họ gọi tắt bốn từ đό là Mў và chύng ta dὺng y chang như vậy. Địa danh America được chύng ta chiếu cố qua bốn tên. Ba tên đầu là tiếng HV: Mў, Hoa Kỳ, và Hợp Chύng Quốc (vὶ là một liên bang gồm nhiều bang từ chữ United States). Tên thứ tư “xứ Cờ Hoa” là một trường hợp cό chύt đặc biệt, vὶ từ nầy phάt sinh do từ “Hoa Kỳ”. Theo lẽ khi “dịch” ra tiếng Việt thuần tύy phἀi là “Cờ Bông”. Cὸn trong từ “Cờ Hoa”, cờ là tiếng Việt, cὸn Hoa lᾳi là HV.

Những chuyện “Tàu làm sao Việt làm vậy” cὸn dài lắm. Không chỉ ở trong phᾳm vi chữ nghῖa mà thôi. Riêng trong chữ nghῖa, Việt ta cὸn hay hσn một chύt là đôi khi vὶ lу́ do nầy hay khάc, đổi luôn âm khάc vào để dὺng theo у́ riêng. Thί dụ địa danh Hungary, TH viết ba từ và đọc theo âm cὐa họ đᾳi khάi là “Hung chia lị” (chữ r đọc thành l như đᾶ nόi). Theo quyển “Tên Họ Người VN” cὐa giάo sư Nguyễn Ngọc Huy, dân ta theo TH trong việc cử tên. “Lị” là tên cὐa vua Lê Thάi Tổ. Do đό vὶ sợ phᾳm hύy nên cάc cụ đọc “lị” thành “lợi”. Vὶ vậy mà ta cό Bἀo Gia Lợi, Hung Gia Lợi và Ý Đᾳi Lợi v.v. thay vὶ Bἀo Gia Lị, Hung Gia Lị và Ý Đᾳi Lị.

Nhập (và lᾳc) đề đᾶ khά xa, giờ xin trở lᾳi cάc từ Việt gốc Phάp. Nόi chung đa số những địa danh cὐa một số quốc gia lâu đời trên thế giới đᾶ được đọc bằng tiếng VN qua giọng HV, và đᾶ được dὺng một cάch sâu rộng trong sάch vở và trong tiếng nόi. Thί dụ như: Á Cᾰn Đὶnh, Anh, Bἀo Gia Lợi, Gia Nᾶ Đᾳi, Lỗ Ma Ni, Mў, Nga, Phάp, Phần Lan, Úc (hay Úc Đᾳi Lợi), Ý v.v… Do đό chύng tôi xin miễn ghi lᾳi những từ liên quan đến địa danh hay nhân danh trong phần tiếp theo, trừ vài từ nào khά đặc biệt.

Từ Phάp lang sa (hay Phύ lang sa), và Lang sa đᾶ cό một thời rất thông dụng. Nό đᾶ đi vào ca dao VN. Từ “Tây” thὶ tới ngày nay chύng ta vẫn dὺng để chỉ người Phάp hay nước Phάp. Ông Nguyễn Trύc Phưσng, trong quyển “Việt Nam Vᾰn Học Bὶnh Dân” (5), chưσng về ca dao cό ghi:

Vᾰn minh gặp buổi Lang sa
Tri âm thὶ ίt, trᾰng hoa thὶ nhiều.

Hoặc:

Giặc Tây đάnh tới Cần giờ
Bậu đừng thưσng nhớ đợi chờ uổng công…
Đắng khổ qua chua là chanh giấy
Dầu ngọt cho thế mấy cῦng tiếng cam sành
Giặc Lang sa đάnh đến bên thành
Dầu ai cό ngᾰn qua đόn lᾳi
Dᾳ cῦng không đành bὀ em.

Hoặc:

Lấy Tây, lấy Chiệc làm gὶ
So bề nhân ngᾶi sao bὶ An Nam

Từ Việt gốc Phάp trong vấn đề ᾰn uống

Ӑn phở uống cà phê

Ӑn uống là nhu cầu cᾰn bἀn đầu tiên cὐa tất cἀ cάc dân tộc. Do đό khi giao tiếp với người Phάp, những từ liên quan đến thực phẩm được dὺng đến nhiều. Trước hết cό từ cà phê. Già trẻ, từ Nam tới Bắc, từ Đông sang Tây (quốc nội hay hἀi ngoᾳi) đều biết từ nầy. Nό do từ cafе́ cὐa Phάp. Cây cà phê đᾶ gόp một phần quan trọng vào đời sống cὐa dân Việt từ thời Phάp thuộc cho đến ngày nay. Cάch đây ba, bốn nᾰm, VN đᾶ đứng đầu thế giới trong việc sἀn xuất và xuất cἀng cà phê loᾳi “Robusta”.

Liên quan tới cà phê, cό cà phê phin (filtre: lọc). Cà phê phin cό một độ cὸn cό biệt danh “cάi nồi ngồi trên cάi cốc.” Đό là sự “tἀ chân” về cάi phin cà phê cὐa cάc bộ đội ngoài Bắc vào Nam. Phἀi công nhận một điều là khi trời lᾳnh, vào quάn gọi một ly cà phê sữa nόng, ngồi nhὶn cάi nồi thἀnh thσi ngồi trên cάi cốc, nhὀ từng giọt cà phê xuống cάi ly (cάi cốc), là một sự chờ đợi lу́ thύ. Khi nhắp chύt cà phê sữa từng hớp nhὀ, hưởng cάi vị đắng-ngọt “đᾶ” cάi lưỡi không thể tἀ được. Nhưng chưa hết. Hᾶy gọi một bάt phở tάi, chίn, nᾳm, gân, sάch nữa.

Cό người nόi với tôi từ phở cό nguồn gốc Lang sa đấy. Một cựu thuyền trưởng thưσng thuyền, đᾶ cό thời làm việc cho Phάp và sau nầy cho VNCH, đᾶ kể cho tôi nghe rằng thời trước 1954, ông ta chở tiếp liệu cho quân đội Phάp. Thuyền Phό và nhiều thὐy thὐ ở tàu cὐa ông là dân Phάp chίnh cống. Khi tàu cập bến ở Hἀi Phὸng, vào mὺa lᾳnh, họ thường nấu một mόn sύp (soupe) thịt bὸ và sau đό họ để thêm một loᾳi mὶ sợi (loᾳi giống như spaghetti) đᾶ luộc chίn vào sύp trước khi ᾰn. Muốn giữ cho mόn sύp được nόng suốt bữa ᾰn, họ để sύp luôn trên lὸ lửa. Họ gọi mόn đό là “boeuf au feu”: (từ feu đọc là “phσ”) tức là “bὸ nấu trên lửa.”

Cάc thὐy thὐ người Việt không để spaghetti vào mà lᾳi để hὐ tiếu vào và gọi mόn đό là boeuf au feu VN. Từ nầy dài quά nên được gọi tắt là mόn “au feu” và sau đό chỉ cὸn cό từ “feu”. Rồi từ “phσ” là lửa ấy trở thành từ phở (cό dấu hὀi) lύc nào, ông ta không biết. Mόn “soupe au feu” nầy trở thành thông dụng cho dân chύng miền Hἀi Phὸng trước, và sau đό cho cἀ miền Bắc. Sau 1954, khi cό nhiều đồng bào di cư vào Nam sau cuộc chia đôi đất nước nᾰm 1954, mόn “phở” mới thành mόn ᾰn phổ biến trong Nam. Trước đό dân miền Nam dὺng hὐ tiếu thịt heo nấu theo kiểu… Tàu.

Một ông bᾳn già khάc, chẳng quen biết gὶ ông thuyền trưởng trên, lᾳi nόi với tôi rằng người Phάp cό nhiều loᾳi sύp khάc nhau, họ thường ᾰn sύp nόng khi trời lᾳnh. Họ giữ cho sύp luôn nόng bằng cάch đựng sύp trong cάi “pot” tức cάi nồi và để ninh trên lửa. Họ gọi nό là “pot au feu” và từ phở do từ feu mà ra. Tόm lᾳi, “boeuf au feu” hay “pot au feu”, cἀ hai ông đều cho một kết luận giống nhau về nguồn gốc cὐa từ phở. Quί vị cό biết thêm giἀ thuyết nào nữa không?

Điểm tâm: Dᾰm bông, ba tê, ốp la

Điểm tâm, cό bάnh mὶ, trứng gà, dᾰm bông (jambon): thịt heo hun khόi và ba tê (pâtе́e) tức thịt hay gan xay, đᾶ làm chίn và ướp mὺi vị đặc biệt. Cό nhiều cάch ᾰn hột gà. Bὶnh thường là luộc chίn. Cό thể ᾰn hột gà la cόt (oeufs à la coque): chỉ thἀ vào trong nước sôi độ vài phύt, bên trong chưa chίn hẳn. Ngoài ra cὸn cό thể chiên hột gà bằng cάch khuấy trộn chung lὸng trắng và đὀ, ta cό hột gà ô mσ lết (omelette); hoặc chiên nguyên trὸng trắng và trὸng đὀ để cό hột gà ốp la (oeufs sur plat).

Cσm trưa và tối với sύp, xà lάch, phi lê, cὀ nhάc

Bữa cσm trưa hay tối cό nhiều thứ canh hay sύp. Sύp bὸ, gà, hay sύp rau cἀi. Sύp rau cἀi cὸn cό tên gốc Phάp là sύp lê gim (lе́gume). Tiếng bὶnh dân cὐa ta gọi nước sύp là “nước lѐo.” Sύp hành để lᾳnh nổi tiếng cὐa người Phάp mà cάc nhà hàng Tây nào cῦng cό bάn là “consommе́ froid”: thức uống lᾳnh. Sau bữa ᾰn chάnh, thực khάch thường dὺng cà phê đen trong một cάi tάch (tasse) thật nhὀ. Từ “tάch” thông dụng cho đến ngày nay. Đᾶ dọn ᾰn thὶ phἀi cό muỗng và đῦa. Muỗng nhὀ gọi là muỗng cà phê và muỗng lớn gọi là muỗng sύp. Cό nσi ngày xưa cὸn gọi muỗng là cάi “cὺi dὶa” (cuillѐre).

Trong bữa ᾰn, ngoài sύp ra, cὸn cό “xà lάch” (salade) tức rau cἀi. Xà lάch cὸn là tên cὐa một loᾳi cἀi. Mόn salade “hằm bà lằng” nhiều loᾳi rau cἀi đôi khi cό cἀ đậu hῦ, thịt gà, hay thịt heo hun khόi hay dᾰm bông. Cây cἀi xà lάch Đàlᾳt nổi tiếng ngon và được ưa dὺng ở Sài Gὸn (dân Mў gọi nό là butter lettuce). Một loᾳi xà lάch khάc rất được ưa thίch để trộn với dầu giấm là cἀi “xà lάch xon” (cresson). Để thịt bὸ xào tάi lên đῖa xà lάch son dầu giấm là cό một mόn nhậu vừa ngon vừa bổ. Thịt bὸ phἀi lựa loᾳi “phi lê mi nhông” (filet mignon) mới đύng điệu vὶ nό rất mềm.

Cho đύng tiêu chuẩn ngon, phἀi uống “ cὀ nhάc be ri ê”, hay “mᾳc ten be ri ê” (rượu hiệu Cognac hay Martel và nước suối Perrier) trong một cάi ly lớn. Dân nhậu gọi ly rượu ấy là “công xôm ma xông” (consommation). Nếu không cό be ri ê, thὶ dὺng một loᾳi nước suối cό bọt hay nước soda cῦng được. Một số người chỉ dὺng nước lᾳnh pha với cὀ nhάc hay mᾳt ten và nước đά. Họ cho rằng pha với cάc loᾳi nước cό bọt làm mất nguyên vị cὐa rượu đi. Cό người uống rượu mᾳnh không pha gὶ cἀ, thường gọi là “uống xếch” (Boire sec).

Phό mάch, bσ, và rượu vang

Sau bữa cσm tối và cάc câu chuyện hàn huyên, người ta cὸn ᾰn “phό mάch” (fromage) và uống rượu “vang” (vin), cὸn gọi nôm na là rượu chάt. Trong thức ᾰn kiểu tây cό nhiều mόn nấu rượu vang như gà, vịt, lưỡi heo, thὀ.

Phό mάch và “bσ ” (beurre) là sἀn phẩm từ sữa. Dân Phάp, Hoa Kỳ đều khoάi hai thứ nầy. Cό vô số loᾳi phό mάch khάc nhau. Trong số đό cό vài loᾳi cό mὺi nồng và nếu không biết ᾰn thὶ đành xin lỗi vὶ nό hôi không thể tἀ. Nhưng dân sành ᾰn thὶ lᾳi cho là nό ngon khὀi chê nhứt là dὺng làm mồi để uống rượu vang. Đa số người Việt chỉ thίch loᾳi phό mάch hiệu “con bὸ cười” (“La vache qui rit”) hay cό tên HK là “the laughing cow.” Vào cάc siêu thị VN ở HK tὶm mua phό mάch, chỉ cό thể tὶm thấy loᾳi nầy mà thôi.

Sâm banh, la ve

Dân Việt ta khi xưa, lύc Phάp mới cầm quyền ở VN ba bốn chục nᾰm, cό một số làm công chức cho Phάp hay những người giàu cό mới ᾰn phό mάch, uống sữa bὸ tưσi và ᾰn bάnh mὶ trе́t “bσ” Bretel, tên một loᾳi bσ mặn nổi tiếng cὐa Phάp. Ngoài ra cὸn cό một chỉ số khάc để chỉ nhà giàu xưa ở VN là việc dὺng rượu “sâm banh” trong những tiệc vui. Sâm banh (Champagne) là một loᾳi rượu vang cό bọt làm ra từ những trάi nho ngon cὐa vὺng đất tên là Champagne, ở miền Đông Bắc nước Phάp. Ngày nay thὶ sâm banh sἀn xuất ở California, HK, tràn ngập thị trường quốc tế và là một loᾳi rượu coi là “bὶnh dân” vὶ quά phổ biến trong mọi giới, mặc dὺ cό vài loᾳi rượu sâm banh giά khά cao. Tύ Xưσng cό viết: “tối rượu sâm banh, sάng sữa bὸ” để chỉ những nhà giàu thời xưa như đᾶ nόi.

Ngoài rượu vang và sâm banh ra, người bὶnh dân thίch dὺng “ la ve” (la biѐre), một loᾳi rượu cό bọt với nồng độ rượu rất nhẹ (chỉ khoἀn 5%; trong lύc ấy rượu vang kể cἀ sâm banh cό nồng độ trung bὶnh từ 11% đến 13.5%, và rượu mᾳnh cό 40% trở lên). La ve cὸn được gọi là “bia” và do đό, cό từ “bia ôm” mà hầu hết chύng ta đều biết.

Từ Việt gốc Phάp trong giao thiệp và ᾰn mặc

Chào hὀi

Cάc ông tây bà đầm (madame) khi gặp nhau, chào nhau bằng cάch bông rua hoặc bὐa sua  (bonjour: bắt tay chào nhau). Khi từ giᾶ nhau thὶ nόi ô rờ voa (au revoir: sẽ gặp lᾳi) hay a-dσ (adieu: vῖnh biệt).  Khi cần thoάi thάc hay xin lỗi điều chi thὶ bắt đầu bằng từ bᾳt đông (pardon: xin lỗi).  Lᾳi nhớ cό câu thσ rằng:
Bᾳt đông anh chớ pha sê (1)          
Ắt tᾰn moa  rắc công tê tύ xà 

(1)  (fâcher: giận;   attendre:đợi ;  moi:tôi;   raconter: kể;    tout ca: tức thời; phụ âm c  trong từ ca cὐa tiếng Phάp, cὸn thiếu cάi râu bên dưới).

Lẽ dῖ nhiên không đύng vᾰn phᾳm Phάp, nhưng nghῖa thὶ rất rō ràng và lᾳi đύng vần thσ lục bάt, mặc dầu là thσ ba rọi. Từ mông sừa (monsieur: ông) và ma đàm (madame: bà) dὺng trước tên họ cὐa ông hoặc bà nào đό để tὀ sự kίnh trọng. Khi những ông bᾳn quen thân gặp nhau, người nầy gọi người kia là toa (toi: anh hay mầy) và xưng là moa, mὀa (moi: tôi hay tao). Cho đến ngày nay, những người VN lớn tuổi vẫn cὸn dὺng lối xưng hô nầy. Dân ta dὺng từ “bà đầm tôi” để chỉ người vợ cὐa mὶnh. Ngày nay từ “bà xᾶ” thông dụng hσn.

Ӑn mặc

Khi dân Việt dὺng kiểu άo Tây phưσng trong việc ᾰn mặc, một số cάc cô, bà mặc άo đầm tức loᾳi άo và vάy chung nhau. Đàn ông thὶ mặc sσ mi (chemise) và quần dài (quần Tây) như chύng ta mặc bây giờ. Nόi đến sσ mi, ông Lᾶng Nhân (2) cό nhắc đến những từ Việt hόa trong những bài thσ mà ông xếp chύng vào loᾳi vᾰn thσ Việt Nam hόa trong bài lục bάt sau đây:

Lᾳnh lὺng một mἀnh sσ mi         
Li-ve trằn trọc, lσ li một mὶnh,
Loᾰngtanh ai cό thấu tὶnh
Em-mê đến nỗi thân mὶnh biểng-pan

(chemise: άo; l’hiver: mὺa đông; le lit: cάi giường; lointain: xa; aimer: yêu, thưσng; bien pâle: xanh mе́t.)

Nếu cάc ông mặc άo vết (veste) hay άo  vết tông (veston) bên ngoài άo sσ mi, cὺng loᾳi vἀi, và cὺng màu với quần thὶ chύng ta gọi y phục đό là bộ côm bờ lê hay côm lê (complet: đὐ bộ, hay nguyên bộ). Ngày xưa, khoἀng trước 1954, người ta cὸn gọi cάi άo veston là άo bành tô (paletot).

Cάc ông bà trong ngành y khoa như bάc sῖ, y tά thường mặc άo bờ lu (blouse) khi làm việc.  Đό là chiếc άo mang tίnh chất nghề nghiệp rất oai. Nhưng khi dᾳo chσi, người đàn ông cό thể mặc άo u ve (veston ouvert); trong lύc đό, đàn bà tân thời, cἀi cάch (cὐa thời xa xưa đό) thίch mặc άo lσ muya (Lemur: loᾳi άo dài do họa sῖ Cάt Tường vẽ kiểu), άo thun Montaigut cὐa đàn ông cῦng thuộc loᾳi άo được cάc ông ưa thίch.

Cἀ ông, bà khi đi đâu khὀi nhà, đều cό mang bόp (porte, porter: mang, đựng).  Bόp cho cάc bà thὶ gọi là bόp đầm. Bόp cho cάc ông cό tên bόp phσi (porte feuille). Trong thập niên 1950 tôi nhớ đάm trẻ nhὀ chύng tôi thường hάt nhάi theo giọng bài ca “Dứt đường tσ” như sau:

Tόc em dài sao em không uốn?
Tốn bao nhiêu anh trἀ dὺm cho,
Đây bόp phσi anh đầy “bộ lư” (giấy bᾳc 100 đồng cό hὶnh bộ lư)….
Nàng σi uốn đi…  đừng lo.

Đàn ông mặc côm lê phἀi mang cà ra oάch, hay cà vᾳt (cravate: trang sức bằng vἀi đeo trước ngực) mới đύng cάch. Muốn cho thiên hᾳ biết cό tiền, nhứt là khi dẫn bᾳn gάi đi ban (bal: dᾳ tiệc cό khiêu vῦ) trong bόp phἀi đem theo nhiều giấy oἀnh (vingt: hai mưσi) tức giấy hai mưσi đồng; và thêm vào cὸn cό nhiều tờ giấy xᾰng (cent piastres: giấy $100.00).

Trong lύc đό cάc bà cάc cô phἀi đeo cà rά (carat)  nᾳm hột xoàn. Thực ra carat là đσn vị đo lường kim cưσng. Nό là sức nặng bằng 1/24 cὐa một gam (gramme) vàng nguyên chất. Gam là một phần 1000 cὐa một ki lô (kilogramme). Vàng 18 là một hợp kim gồm cό 18 phần vàng và sάu phần kim loᾳi khάc.

Cάi cà vᾳt và cάi cà rά sống vượt thời gian. Ngày nay nό vẫn cὸn thông dụng cho cἀ hai phάi, chỉ thay đổi màu và phẩm chất tὺy theo số lượng “anh hai” (tiếng lόng để chỉ tiền).

Từ Việt gốc Phάp trong giao thông

Ô tô, sớp phσ, gᾳt đờ co

Trước hết cό xe ô tô (automobile) hay “xe hσi”. Ở nhà lầu, đi xe ô tô là biểu tượng cὐa nhà giàu. Muốn tὀ ra sang trọng hay cό uy quyền, người ta mướn tài xế hay sớp phσ (chauffeur). Từ nầy thông dụng ở miền Nam hσn miền Bắc. Sau nầy, kể cἀ những thập niên cuối cὐa thế kỷ 20 từ tài xế  trở nên thông dụng cho cἀ VN. Nhiều ông làm chức vụ cao, hay quan trọng, hoặc cάc người giàu cὸn cό thêm một tài xế phụ. Thực sự người nầy là gᾳt đờ co (garde du corps: cận vệ) ngồi phίa trước, cᾳnh tài xế, thường đeo kίnh đen trông rất  oai vệ.

Hoa Kỳ gọi người nầy là “bô đi gᾳt” (bodyguard). Ông “bô đi gᾳt” nổi tiếng là ông cận vệ cὐa Tổng Thống Ford. Ông ta gᾳt (garde)  hay đến nỗi ông ta cưới luôn con gάi cὐa Tổng Thống. Ông cận vệ nầy trở thành “gᾳt đờ co” trᾰm nᾰm cὐa άi nữ Tổng Thống.

Vậy ông  nào cό người làm công với chức vụ “gᾳt đờ co” thὶ nên… coi chừng con gάi mὶnh và coi chừng luôn cἀ… phu nhân (nόi đὺa cho vui, bὀ qua đi tάm).

Trở về với xe, ngoài xe nhὀ thường gọi là xe du lịch, cὸn cό xe cᾰm nhông (camion) dὺng để chuyên chở hàng hόa. Cam nhông thứ thật to và chở thật nặng cό tên là boa lua (poids lourd). Cam nhông nết (camionette) là xe chở hàng hόa loᾳi nhὀ, giống xe “pick up” cὐa ngày nay.

VN khi xưa và ngay cἀ ngày nay, ίt khi nhập cἀng cᾰm nhông nguyên chiếc. Họ chỉ mua cάi sườn xe thôi. Đến VN rồi họ đόng mới đόng thὺng xe tὺy theo nhu cầu: đόng thὺng vuông chung quanh để chở hàng, hoặc đόng thὺng cό cửa, cό bᾰng (banc: ghế ngồi) để làm xe  đὸ hay làm xe ô tô buу́t (autobus) hay xe buу́t. Xe buу́t rất thông dụng trong việc chuyên chở công cộng trong đô thành hay cάc thị xᾶ lớn. Xe chuyên chở hành khάch đi cάc tỉnh lᾳi gọi là xe đὸ, trong khi Phάp hay Hoa Kỳ lᾳi gọi cἀ hai loᾳi trên là xe buу́t. Cῦng trong lᾶnh vực chuyên chở, chύng ta cὸn cό xe lô hay xe  lô ca xông (location). Đό là những chiếc xe du lịch được dὺng làm xe cho mướn hay xe chuyên chở hành khάch.

Xe đὸ: Ӑn banh, lσ

Trên mỗi chuyến xe đὸ, ngoài người sớp phσ ra cὸn cό một hay hai người phụ tά gọi là anh lσNhững người nầy lo việc sắp xếp chỗ ngồi, kiểm soάt giấy đi xe (chữ  do nguyên ngữ contrôleur tức kiểm soάt viên). Ở VN, những anh nầy cὸn phụ trάch nhiều việc khάc như đưa hành lу́ lên và xuống xe cho khάch, giao thiệp với cἀnh sάt công lộ khi xe bị chận vὶ một lу́ do gὶ đό, hoặc phụ với tài xế sửa xe khi xe bị ᾰn banh (en panne) tức là khi xe bị hư. Nhiều anh lσ rất cό tài trong việc sửa xe: từ việc nhὀ như  vặn chặt một vài con bὺ lon (boulon) đến việc lớn như thay cἀ cάi ᾰm vô da (embrayage: bộ phận trong hộp số để chuyển những chuyển động cὐa mάy xe  sang cάi trục làm xe chᾳy trong hệ thống sang số bằng tay).

Cό người hὀi tᾳi sao họ chịu khό làm việc như vậy (mà không đὸi chὐ xe trἀ tiền công)?  Số là  đa số chὐ xe chỉ thâu tiền bάn vе́ ở cάc trᾳm xe chάnh mà thôi. Cὸn việc đόn khάch lên xuống dọc đường và tiền kiếm thêm nầy thὶ tài xế và lσ chia nhau. Cάc chὐ xe đều biết chuyện nầy, nhưng vὶ không thể nào kiểm  soάt được, nên thà cho trước cάi quyền lợi đό cho tài xế và lσ. Chὐ xe được cάi lợi là khὀi lo việc kе́o xe về nằm ga ra (garage: chỗ sửa xe) vừa tốn nhiều tiền vừa mất thὶ giờ (tức mất tiền). Để cho tài xế và lσ tự sửa xe, chὐ chỉ phἀi bồi hoàn chi phί về bᾳt (parts: cάc bộ phận rời). Xe được sửa mau, cἀ chὐ và người làm công đều cό lợi. Một hợp tάc hỗ tưσng không vᾰn kiện nhưng lᾳi rất hiệu quἀ trong giới xe đὸ.

Xᾰng và lốp xe

Muốn chᾳy xe phἀi cό xᾰng (essence). Ngày nay, từ nầy cὸn thông dụng ở mọi nσi.  Xe mà hết xᾰng thὶ trở thành… sắt cục. Xưa kia nếu quên đổ xᾰng, để xe hết xᾰng dọc đường, không chᾳy được nữa, thὶ gọi là ᾰn banh xе́c (panne sѐche: hư xe khô, cό nghῖa hết xᾰng). Chỉ cὸn cό những lᾶo già “vang bόng một thời trong việc sử dụng Phάp ngữ” dὺng từ nầy. Từ “ga xᾰng” sẽ nόi đến ở một đoᾳn sau.

Từ xᾰng cὸn được dὺng trong một nghῖa khάc. Khi trẻ con đόi bụng, mặt nhᾰn nhό, người ta nόi em bе́ “thiếu xᾰng” hay em bе́ cần đổ xᾰng thêm.

Dân Việt cό tài chế biến trong việc dὺng từ ngữ. Thί dụ việc dὺng từ “quά giang” khi chύng ta đi nhờ xe cὐa một người khάc. Nguyên ngữ “quά giang” cό nghῖa “qua sông” bằng cάch đi nhờ đὸ, hay ghe cὐa người khάc. Quά giang cῦng dὺng đến khi đi nhờ từ  nσi nầy đến nσi khάc bằng thuyền. Không hiểu tự bao giờ, từ “quά giang” được dὺng cho việc đi nhờ xe. Ngày nay thὶ quά giang chỉ cό nghῖa là đi nhờ thôi, thuyền hay xe gὶ cῦng được. Nhưng nếu quά giang thường quά thὶ nên đόng gόp tiền xᾰng cho vui cἀ hai bên.

Quan trọng không kе́m xᾰng là lốp xe (enveloppe): vὀ xe, phần bọc bên ngoài cάi “ruột xe”; sau nầy vὀ xe chỉ cό vὀ mà không cό ruột. HK gọi là tubeless. Khi bάnh xe xẹp, phἀi bôm thêm hσi vào ngang qua cάi sύp bάp (soupape: vật dụng dὺng để cho không khί đi vào hoặc đi ra một chiều thôi). Tὺy theo công dụng cάi sύp bάp cὸn cό tên là cάi van (vanne).

Ở VN lốp xe cῦ được dὺng một cάch hữu hiệu. Họ bọc thêm bên ngoài một lớp  cao su (caoutchouc) gọi là vὀ xe tân trang để dὺng thêm một thời gian nữa. Đôi khi xe đang chᾳy, phần đắp thêm bị vᾰng ra. Đό là xe bị lột lốp hay bị bung ta lông (talon: đế giày, hoặc phần ngoài vὀ xe). Ngoài ra lốp xe cῦ cὸn dὺng để chế tᾳo dе́p. Loᾳi dе́p nầy rất thông dụng ở miền Bắc. Nhưng ở miền Nam chύng mang một hὶnh ἀnh hσi đen tối sau nᾰm 75:

Đôi dе́p râu giẫm nάt đời son trẻ,
Mῦ tai bѐo che lấp άnh tưσng lai.”
(không rō tάc giἀ)

Cây cao su và anh sớp phσ nόi tiếng Tây

Từ cao su đᾶ được Việt hόa trọn vẹn. Cây cao su là một loᾳi cây cho nhựa. Nhựa nầy được biến chế thành nhiều vật dụng mà quan trọng nhất là vὀ xe. Cây cao su là một loᾳi cây kў nghệ. Cάc chὐ đồn điền thời tây là những nhà giàu cό nhiều quyền thế và ἀnh hưởng trong việc cai trị. Những ngôi nhà do họ xây cất để ở là những dinh thự to lớn, cὸn tồn tᾳi ở rἀi rάc nhiều nσi. Số lớn cάc ngôi nhà nầy nằm trong vὺng đồn điền hẻo lάnh. Chὐ nhân người Phάp cὐa thời đό đều mang sύng và cό nhiều cận vệ.

Câu chuyện rằng cό một sớp phσ VN làm việc cho chὐ đồn điền Phάp. Anh sớp phσ chỉ nόi được lōm bōm một số từ Phάp thôi. Vậy mà trong lύc nguy cσ và sợ hᾶi, đᾶ dὺng Phάp Việt ba rọi (lẫn lộn) diễn tἀ cho chὐ hiểu được у́ mὶnh, để chὐ đối phό với tὶnh trᾳng nguy cấp, là câu chuyện mà tôi được nghe kể lᾳi như một giai thoᾳi vui, cό thực hay là chuyện đὺa để cười chσi, nào ai biết được. Câu chuyện như sau:

Cό một hôm, anh sớp phσ đang lau xe ngoài sân, trước dinh thự giữa một đồn điền cao su rộng lớn.  Anh thấy một con cọp xuất hiện ở bὶa rừng, ngoài rào cὐa tὸa nhà. Anh ta sợ điếng người, chᾳy một mᾳch vào trong nhà, đόng cửa cάi lᾳi và chᾳy nhanh về phίa ông chὐ người Phάp. Anh vừa bάo cάo bằng miệng vừa ra dấu bằng tay:

“Mông sừamông sừalὐy côm bốp, mѐ ba bốp; lὐy tί tί noa, lὐy tί tί dôn, lὐy mᾰn rê vu, lὐy mᾰn rê mὀa; lὐy bᾳt lê cà ὺm, cà ὺm. Mông sưà lấy mύt cà tông, mông sừa tia rê cắc bὺm cắc bὺm thὶ lὐy mὐ ria.” 

Ông chὐ nghe vậy hiểu ngay câu chuyện, xάch sύng trường ra cửa và bắn chết con cọp. Câu trên là câu ba rọi Phάp Việt (lẽ dῖ nhiên là sai vᾰn phᾳm Phάp) như sau:

“Monsieur, monsieur: lui comme boeuf, mais pas boeuf; lui  petit noir, lui petit jaune; lui manger vous, lui manger moi; lui parler cà ὺm cà um. Monsieur prendre mousqueton, monsieur tirer cắc bὺm cắc bὺm puis lui mourir.” Xin tᾳm dịch: Ông σi, ông σi: nό giống con bὸ, nhưng không phἀi bὸ; nό cό chύt đen, nό cό chύt vàng; nό ᾰn thịt ông, nό ᾰn thịt tôi; nό kêu cà ὺm cà ὺm. Ông lấy (sύng) mύt ca tông, ông bắn cắc bὺm cắc bὺm thὶ nό chết.

Trở về với cao su. Sἀn phẩm khάc cὐa cao su là dây thun được dὺng nhiều trong kў nghệ y khoa và quần άo. Vὶ tίnh chất thun giᾶn cὐa nό, dân ta dὺng từ  giờ cao su để chỉ sự kiện hay trễ nᾶi hay không đύng giờ cὐa dân ta. Giờ cao su trong cάc bữa tiệc cưới đᾶ trở thành một nе́t đặc thὺ cὐa dân Việt. (Tôi cό nghe câu nόi đὺa: “không ᾰn đậu không phἀi là Mễ, không đi trễ không phἀi là Việt Nam.”)

Xe mάy (xe đᾳp) với dây sên và ru lίp

Trong chiếc xe đᾳp hay xe mάy, rất nhiều tên cάc bộ phận được Việt hόa như dây sên (chaine), dây nầy chᾳy vὸng quanh một bάnh xe cό rᾰng như rᾰng cưa, gọi là cάi ru lίp (roue libre: bάnh xe tự do).

Trong cάi ru lίp lᾳi cό một bộ phận nhὀ cό công dụng độc đάo là khi chύng ta đᾳp xe tới thὶ bộ phận đό kе́o bάnh xe đi tới. Nhưng khi chύng ta quay lui cάi bàn đᾳp thὶ chỉ nghe re re mà không cό ἀnh hưởng gὶ đến việc kе́o xe. Bộ phận đό cό ba tên khάc nhau, tὺy theo vὺng. Trong Nam, nό tên là “con chό”; ở miền Trung nό được gọi là “con heo”; và ở miền Bắc nό mang danh là “con cόc”. Ai biết sửa chữa cάi ru lίp, đều biết cάi bộ phận nhὀ quan trọng đό. Cὸn tᾳi sao nό cό ba tên thὶ đành chịu thua.

Xe đᾳp dὺng trong việc chᾳy đua thường cό cάi ghi đông (guidon: tay cầm) cong sụp xuống. Xe đᾳp loᾳi đua nầy cὸn cό tên là xe cuộc (course: chᾳy đua). Ngày xưa, những tua (tour: vὸng) đua xe đᾳp vὸng quanh Đông Dưσng, hay tua Bến Hἀi – Cà Mau là những cuôc đua nổi tiếng. Ngày nay tua vὸng quanh nước Phάp (Tour de France) vẫn rất là hấp dẫn cho giới hâm mộ đua xe đᾳp. Ngoài ra dân ta thường hay nόi “đi dᾳo một tua cho khὀe.”

Cάc hᾶng du lịch thường hay tổ chức những “tua du lịch” mà chi phί gồm cἀ tiền vе́ phi cσ, tiền khάch sᾳn, tiền ᾰn v.v. và cό cἀ hướng dẫn viên đi chung rất tiện cho khάch du lịch. Cἀ Anh, Phάp đều dὺng chữ tour nên từ “tua” cὐa VN rất là thông dụng.

Nguyễn Hữu Phước

tongphuochiep