Đọc khoἀng: 25 phύt

Họa sῖ Cάt Tường cό phἀi là cha đẻ ra chiếc άo dài hiện đᾳi?

Nᾰm 2006, sau khi đọc trong Thế Kỷ 21 (số 201 & 202) loᾳt bài khẳng định ông Cάt Tường – Lemur (1911- 46) là “cha đẻ ra chiếc άo dài hiện nay”, “chίnh ông là người đầu tiên đᾶ biến chiếc άo tứ thân thành άo hai vᾳt” và “trước đό phụ nữ Việt Nam đều mặc άo tứ thân”… tôi sững sờ. Rō ràng mẹ tôi (sinh nᾰm 1900) và bà ngoᾳi, bà nội tôi đều chưa bao giờ xὀ tay vào chiếc άo tứ thân, toàn mặc άo hai vᾳt, mà mᾶi đến 1934 ông Cάt Tường mới đưa ra “bἀn tuyên ngôn” về vấn đề cἀi cάch y phục, nόi rō quan niệm cᾰn bἀn cὐa ông trong bάo Phong Hόa. Ngoài ra, trong tay tôi ngay lύc ấy cὸn cό mấy bằng chứng cho thấy άo dài hai vᾳt đᾶ xuất hiện từ trước nᾰm 1934:

ao dai – Waylie Tran
– Ảnh nᾰm 1922 cὐa Busy, đen trắng, chụp một thiếu nữ đόng vai quân cờ người ở vὺng phụ cận Hà Nội (tôi đᾶ cho in lᾳi trong bài “Tết Nguyên Đάn và Lễ Nghênh Xuân” ,”Lối Xưa Xe Ngựa…”, tập II, 2002). Thiếu nữ mặc άo dài hai vᾳt không nối sống, cổ άo không gài khuy, quần đen;

Áo dài xưa và nay – Những ngộ nhận… - Việt Mў News
– Ảnh khoἀng 1915-20, chụp bẩy thiếu nữ cῦng đόng vai quân cờ người tᾳi vὺng ngoᾳi ô Hà Nội, mặc άo hai vᾳt mầu hồng, cổ άo không gài khuy, vấn khᾰn xanh lam hoặc xanh nōn chuối, quần đen. Đấy là những chiếc ἀnh mầu đầu tiên trên thế giới, cὐa A. Kahn ;

– Tranh cὐa bà de Bassilan vẽ một phụ nữ miền Nam mặc άo hai vᾳt trông rō cἀ đường khâu nối hai thân ở chίnh giữa vᾳt trước, in kѐm bài “Des habitants de la Cochinchine” viết ngày 8/1/1859, không đề tên tάc giἀ, được in lᾳi trong L’Indochine, Illustration.

Như vậy đὐ chứng tὀ trước ông Cάt Tường phụ nữ Việt Nam không phἀi ai cῦng mặc άo tứ thân và người biến cάi άo tứ thân ra άo hai vᾳt không phἀi là ông Cάt Tường.

Vậy ông Cάt Tường đᾶ đem lᾳi những gὶ cho chiếc άo dài để được hầu hết những người tôn vinh άo dài khẳng định ông chίnh là “cha đẻ” ra chiếc άo dài hiện đᾳi ? Trước hết chύng ta cần tὶm hiểu y phục phụ nữ Việt Nam thời xưa qua sử sάch.

I – SƠ LƯỢC CÁC KIỂU Y PHỤC TRƯỚC ÁO LEMUR

Không ai biết άo dài xuất hiện từ bao giờ và những chiếc άo dài đầu tiên hὶnh dάng ra sao.
Cό truyền thuyết nόi “Khi hai Bà Trưng ra trận đᾶ cưỡi voi, mặc άo hai tà giάp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy…”. Nhưng trong Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thὶ Sῖ chỉ viết “Khi Bà Trắc ra quân, chưa hết tang chồng, mặc quần άo đẹp, cάc tướng thắc mắc, bà trἀ lời :”Việc binh phἀi tὸng quyền, nếu giữ lễ khiến dung nhan xấu xί là tự làm giἀm nhuệ khί nên ta mặc đẹp để làm cho thế quân hὺng trάng, lῦ kia thấy thế tâm động, nhụt bớt chί khί tranh đấu thὶ ta dễ cό phần thắng”. Không cό câu nào nhắc tới άo vàng, lọng vàng. Cό lẽ người đời sau nghῖ là vua tất phἀi mặc άo vàng.

Song trong Lịch Triều Hiến Chưσng – Quan Chức Chί (tr 103) Phan Huy Chύ lᾳi viết :”Từ đời Lу́, Trần về trước, mῦ άo cὐa vua thế nào không thể khἀo cứu được. Cὸn như sắc άo thὶ hὶnh như trước không cό quy chế nhất định. Lê Đᾳi Hành (980-1005) dὺng thứ vόc đὀ, đến Lу́ Cao Tông (1176-1210) mới cấm nhân dân trong nước không được mặc άo sắc vàng, thế thὶ hoàng bào trước kia chưa phἀi là đồ dὺng riêng cὐa vua chύa”. Huống chi, nếu tôi nhớ không lầm, thὶ ở Trung quốc mᾶi đến đời Tὺy, thế kỷ VI, mới ấn định mầu vàng dành riêng cho vua dὺng mà Hai Bà đᾶ mẩt từ thế kỷ I.

Diễn Ðàn Thế Kỷ: Nguyễn Thị Chân Quỳnh: Áo Dài Xưa Và Nay - Những Ngộ Nhận...

Lᾳi cό người cho άo tứ thân cό từ đời nhà Lу́, nhưng không đưa ra bằng chứng. Đến mῦ άo vua chύa đời Lу́ mà Phan Huy Chύ cὸn không tra cứu nổi thὶ làm thế nào biết dược y phục cὐa dân đen ? Đời xưa viết sử chỉ chύ trọng đến vua chύa, cάc danh nhân và những biến cố quan trọng, không mấy ai lưu tâm đến y phục nhân dân.

– THẾ KỶ 17 – Những chi tiết ghi chе́p trong sάch sử xưa nhất tὶm được về y phục thường dân là từ thế kỷ 17.

* Áo mớ ba, mớ bẩy. Thuở nhὀ tôi từng nghe nhắc đến άo mớ ba, mớ bẩy song chỉ được thấy mẹ tôi mặc άo mớ đôi hoặc mớ ba, chưa bao giờ trông thấy άo mớ bẩy. Đό là những chiếc άo dài mặc lồng vào nhau, άo ngoài thường mầu sẫm như nâu, đen, cό thể là hàng trσn hay dệt hoa bόng trên nền mờ hoặc ngược lᾳi, những chiếc άo mặc trong toàn mầu tưσi vui như hồ thὐy, hồng phấn, hoàng yến… Phong tục muốn dân chύng phἀi tὀ ra khiêm tốn trong cάch ᾰn mặc, άo ngoài phἀi dὺng những mầu nhᾶ nhặn, không được khoe khoang, lộ liễu, άo mầu lὸe loẹt thὶ phἀi giấu bên trong.

Sau này, tὶnh cờ tôi đọc Relation de la nouvelle mission des Pѐres de la Compagnie de Jе́sus au Royaume de la Cochinchine(1631) cὐa Giάo sῖ C. Borri mô tἀ y phục phụ nữ miền Nam gồm nhiều άo khάc mầu lồng vào nhau nên đoάn cό lẽ chίnh là loᾳi άo mớ ba, mớ bẩy. Tuy vậy, cό những chi tiết khiến tôi ngờ ngợ không chắc là άo dài, không rō vὶ tάc giἀ thiếu minh bᾳch hay người dịch sang tiếng Phάp không hiểu rō tiếng Ý nên đᾶ dịch sai bậy :”Y phục phụ nữ cό lẽ nhᾶ nhặn, kίn đάo nhất so với (y phục) toàn thể Ấn độ vὶ nό không để hở một chỗ nào trên thân thể, ngay cἀ những khi trời nόng bức nhất. Họ mặc cό đến nᾰm, sάu lớp άo chồng lên nhau, mỗi cάi một mầu. Cάi ngoài cὺng dài chấm đất, kе́o lê đi một cάch trang trọng, quу́ phάi, không ai cό thể trông thấy ngόn chân họ. Lớp άo thứ nhὶ nằm dưới, ngắn hσn lớp trước chừng 4 hay 5 ngόn tay (“ngόn tay” đo theo chiều ngang), lớp thứ ba lᾳi ngắn hσn lớp thứ nhὶ, cứ đều đặn như thế… khiến cho tất cἀ cάc mầu άo dều được trông thấy. Đây là phần dưới từ bụng trở xuống. Nửa trên là những chiếc άo ngắn ôm thân người, gồm cάc ô trắng và mầu xen kẽ nhau như bàn cờ, mỗi lớp một mầu khάc (1), bên ngoài phὐ một thứ hàng mịn và thưa khiến ta cό thể dễ dàng trông suốt qua được. Tất cἀ những mầu sắc hỗn độn ấy tiêu biểu cho mὺa xuân tưσi thắm, duyên dάng, đồng thời lᾳi cῦng rất trang trọng và nhῦn nhặn. Nam giới cῦng mặc nᾰm, sάu lớp άo dài và rộng bằng lụa mịn đὐ cάc mầu, ống tay dài và rộng (…). Từ thắt lưng trở xuống xung quanh cắt lôi thôi (2) thành thử khi ra đường gập cσn giό nhẹ, tất cἀ cάc mầu sắc tung bay, quyện vào nhau trông chẳng khάc gὶ những con công xὸe đuôi khoe bộ lông sặc sỡ”.

Ngày nay ta cὸn thấy vết tίch kiểu άo này ở những bộ άo tế cὐa nam giới, άo ngoài bằng sa mὀng mầu lam hay đen trông suốt qua thấy rō chiếc άo lόt bằng vἀi trắng bên trong, và chiếc άo kе́p (đᾶ cό từ trước 1776, theo Lê Quу́ Đôn), mặt ngoài vẫn mầu đen hay nâu…, άo trong biến thành cάi lόt (doublure) vẫn dὺng những mầu sặc sỡ.

* Lê Triều Chiếu Lịnh Thiện Chίnh chе́p là nᾰm 1665 cό sắc lệnh :”Áo đàn ông thὶ cό thắt lưng và quần cό ống chân, άo đàn bà con gάi thὶ không cό thắt lưng, quần không cό hai ống, từ xưa đến nay vốn đᾶ cό cổ tục như thế. Bọn hάt xướng ở hу́ trường thὶ không theo cấm lệnh này. Ai trάi lệnh (…) bắt được quἀ tang sẽ phᾳt nᾰm quan cổ tiền, nộp vào công khố”.

* Tavernier trong Relation nouvelle et singuliѐre du Royaume de Tunquin (1681) tἀ y phục phụ nữ miền Bắc là “trang trọng và nhᾶ nhặn. Nam nữ mặc tựa như nhau. Áo dài chấm gόt, giữa cό buộc thắt lưng bằng lụa, xen lẫn kim tuyến và ngân tuyến, mặt trάi mặt phἀi đều đẹp như nhau (…) Họ sἀn xuất rất nhiều tσ tầm, dân chύng giầu cῦng như nghѐo đều mặc tσ lụa”. Ông cὸn vẽ cἀ tranh minh họa. Tavernier đᾶ đi du lịch nhiều nσi nhưng chưa đặt chân đến Bắc kỳ, những chi tiết viết trong sάch dựa vào sự hiểu biết cὐa người em ông đᾶ nhiều phen đến Đàng Ngoài, và những lần ông nόi chuyện với người Bắc mà ông gập ở Batavia.

– THẾ KỶ 18 – Cῦng vὶ thế nên S. Baron, sinh trưởng ở Kẻ Chợ (Thᾰng Long), trong Description du Royaume de Tonquin, dịch sang tiếng Phάp nᾰm 1751, tuy công nhận dân Việt thời ấy, giầu hay nghѐo, đều mặc tσ lụa vὶ giά rất rẻ, nhưng chỉ trίch Tavernier là viết sai sự thật. Theo Baron thὶ y phục người Việt là những chiếc άo dài, tựa như άo Trung quốc, hoàn toàn khάc với άo Nhật bἀn. Tranh cὐa Tavernier vẽ cho thấy người Việt cό dὺng thắt lưng, đό là điều hoàn toàn xa lᾳ đối với họ”. Baron là con lai, mẹ người Việt, tất hiểu rō phong tục Việt Nam hσn.

* Một số người viết về lịch sử άo dài đᾳi khάi như sau: “Chύa Vῦ Vưσng Nguyễn Phύc Khoάt (1739-65) được coi là người cό công khai sάng và định hὶnh chiếc άo dài Việt Nam… Cho đến thế kỷ 18 người Việt thường hay bắt chước lối ᾰn mặc cὐa người phưσng Bắc (Trung quốc)… Để gὶn giữ bἀn sắc vᾰn hόa riêng, Vῦ Vưσng ban hành sắc dụ về ᾰn mặc, lấy thể chế άo mῦ trong Tam Tài Đồ Hội làm kiểu mà tᾳo ra chiếc άo dài, cho toàn thể dân chύng xứ Đàng Trong theo đό thi hành. Đᾳi Nam Thực Lục Tiền Biên cό chе́p sắc dụ này :”Thường phục thὶ đàn ông đàn bà dὺng άo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay rộng hay hẹp tὺy tiện. Áo thὶ hai nάch trở xuống phἀi khâu kίn liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc άo cổ trὸn, ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thὶ được phе́p”. Và cὸn thêm là Lê Quу́ Đôn, trong Phὐ Biên Tᾳp Lục, chе́p rằng Chύa Nguyễn Phύc Khoάt đᾶ viết những trang sử đầu cho chiếc άo dài như vậy. Do đό cό thể khẳng định chiếc άo dài với hὶnh thức cổ truyền, cố định đᾶ ra đời”.

Tôi thấy không ổn ở chỗ Chύa Nguyễn muốn giữ “bἀn sắc vᾰn hόa riêng”, bắt dân cἀi sửa lối ᾰn mặc cho khάc người Trung quốc mà lᾳi lấy mẫu quần άo từ Tam Tài Đồ Hội cὐa Trung quốc thὶ không hợp lу́. Tôi không cὸn hai bộ Đᾳi Nam Thực Lục Tiền Biên và Phὐ Biên Tᾳp Lục trong tay nên cό nhờ người tὶm hộ trong Đᾳi Nam Thực Lục Tiền Biênđoᾳn nόi về sắc dụ cὐa Chύa Nguyễn nhưng không tὶm ra. Tôi đến hiệu sάch đọc bἀn dịch khάc nhưng cῦng không tὶm thấy nên chỉ mua Phὐ Biên Tᾳp Lục. Tuy nhiên, tôi lᾳi thấy trong Lịch Sử : Xứ Đàng Trong cὐa Phan Khoang những chi tiết khάc hẳn :

tr 616-17: Hoàng Ngῦ Phύc, nᾰm 1776, sau khi chiếm Thuận Hόa, đᾶ ra lệnh :”Y phục bἀn quốc vốn cό chế độ, địa phưσng này từ trước cῦng tuân theo quốc tục. Nay dẹp yên biên phưσng, chίnh trị và phong tục phἀi được tề nhất. Nếu cὸn cό người mặc quần άo kiểu người Khάch thὶ nên đổi theo thể chế cὐa nước nhà. May y phục thὶ theo tục nước mà thông dụng vἀi, lụa, duy cό quan chức mới cho dὺng xen the, là, trừu, đoᾳn cὸn gấm vόc và cάc thứ hoa rồng phượng đều không được theo thόi cῦ tiếm dὺng. Thường phục thὶ đàn ông đàn bà dὺng άo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay hẹp hay rộng tὺy у́. Áo thὶ từ hai bên nάch trở xuông phἀi may kίn, không cho xẻ hở. Duy đàn ông muốn mặc άo cổ trὸn và hẹp tay cho tiện làm việc cῦng cho, Lễ phục thὶ dὺng άo cổ đứng tay dài, vἀi xanh lᾳt hay vἀi đen vἀi trắng tὺy nghi. Cὸn viền cổ hay kết lόt thὶ đều theo như hiểu dụ nᾰm trước mà chế dὺng”.

tr 615 : tưσng truyền Đào Duy Từ (1572-1634) bầy mưu chống đối họ Trịnh, khuyên chύa Hy Tông bắt dân thay đổi tập tục cho khάc dân Bắc như bὀ άo bốn thân, phô bầy yếm, mà mặc άo nᾰm thân gài khuy, bὀ vάy mặc quần v.v…

Và tάc giἀ cῦng cho biết là chе́p theo Vῦ Biên Tᾳp Lục (Vῦ hay Phὐ cὺng cό nghῖa là “vỗ về” (yên dân).

Tôi tὶm trong Phὐ Biên Tᾳp Lục, lᾳi thấy cό sự bất ngờ khάc :

tr 241 : “Nᾰm Giάp Tу́ niên hiệu Cἀnh Hưng nᾰm thứ 5 (1744), Hiểu Quốc Công Nguyễn Phύc Khoάt xưng vưσng hiệu. Áo mᾶo chế theo sάch Tam Tài Đồ Hội (…) “bắt con trai con gάi hai xứ Thuận Hόa , Quἀng Nam phἀi đổi cάch ᾰn mặc, dὺng άo quần như người Trung quốc, cốt tὀ cho thấy sự thay đổi hẳn lề lối ᾰn mặc cὐa người xưa. Đàn bà con gάi hai xứ phἀi mặc άo ngắn, chật ống tay như άo cὐa đàn ông (…). Chỉ trong khoἀng hσn 30 nᾰm thành thόi quen, quên cἀ phong tục cῦ” (tức phong tục miền Bắc).

tr 242 : “Nᾰm Bίnh Thân (1776) (3), lập Nha môn Trấn Phὐ, quan Hiệp trấn (Lê Quу́ Đôn) hiểu thị cho dân :”Y phục nước nhà xưa nay vốn đᾶ cό chế độ. Địa phưσng này trước kia đᾶ tuân theo quốc tục (…) chίnh trị, phong tục phἀi thống nhất. Những ai hiện nay cὸn mặc y phục theo người Khάch thὶ phἀi thay đổi theo quốc tục (…) Áo quần may bằng vἀi lụa thông thường. Quan chức mới được mặc xen sa, trừu, đoᾳn (…) Thường phục thὶ đàn ông đàn bà chỉ mặc άo ngắn tay, cổ đứng, cửa ống tay rộng hay hẹp tὺy tiện. Áo thὶ hai bên nάch trở xuống phἀi khâu liền vào cho kίn, không được hở hang. Đàn ông muốn mặc άo cổ trὸn và cửa ống tay hẹp để tiện làm việc cῦng được phе́p. Lễ phục phἀi dὺng άo cổ đứng và ống tay dài hoặc dὺng thứ may bằng vἀi mầu xanh chàm, mầu đen hay trắng tὺy nghi. Những ai được dὺng άo viền cổ và άo kе́p đều phἀi tuân theo hiểu thị từ nᾰm trước mà chế dὺng”. Sở dῖ Lê Quу́ Đôn, Trấn thὐ Thuận Hόa nᾰm 1776, phἀi ra hiểu thị này vὶ dân chύng Thuận Hόa giầu cό, bắt chước nhau ᾰn mặc xa xỉ, dὺng cάc mầu tưσi đẹp.

tr 13- Trong bài Tựa Phὐ Biên Tᾳp Lục. Lê Quу́ Đôn cho biết thêm những điều ông đᾶ thực hành khi cai trị Thuận Hόa, đặc biệt về y phục :”Chuyển đổi cάch ᾰn mặc dị dᾳng cῦ để theo phong hόa chung cὐa quốc triều (…) Khoan thứ cho một thời hᾳn trước khi bắt buộc ai nấy cὺng phἀi thay đổi hẳn kiểu ᾰn mặc cῦ”.

Tôi tin Lê Quу́ Đôn hσn vὶ không những ông là người đưσng thời, người trong cuộc, mà cάc chi tiết đưa ra cό đầu cό cuối : vὶ Chύa Nguyễn bắt dân ᾰn mặc theo Trung quốc (1744) nên hσn 30 nᾰm sau (1776) khi Lê Quу́ Đôn vào trấn thὐ Thuận hόa mới cἀi sửa bắt dân trở lᾳi quốc phục. Hoàng Ngῦ Phύc là vō tướng chỉ đάnh dẹp, việc cai trị là phận sự cὐa quan vᾰn.

* Louis-Gabriel MULLET DES ESSARTS tἀ trong Voyages en Cochinchine 1787-1789 : “Áo cὐa phụ nữ xẻ đằng trước từ trên xuống dưới, bắt trе́o trước ngực và để lộ chiếc quần lụa. Tôi không dάm chắc là họ không cό giầy nhưng tất cἀ những người tôi gập đều đi chân đất, đàn ông cῦng như đàn bà”.

– THẾ KỶ 19

* 1828 Vua Minh Mệnh xuống chiếu bắt phụ nữ bὀ vάy mặc quần, đᾶ làm đề tài cho bốn câu thὀ giễu cợt ai cῦng biết :

Thάng tάm cό chiếu vua ra :
Cấm quần không đάy, người ta hᾶi hὺng.
Không đi thὶ chợ không đông,
Đi thὶ bόc lột quần chồng sao đang ?

Rành rành “chiếu vua” như thế mà cῦng cὸn cό người dậy học trὸ là lệnh này do thực dân Phάp ban hành !

* Michel Đức Chaigneau là con lai, mẹ người Việt, cha là một trong hai người Phάp làm quan với nhà Nguyễn thời Gia Long, Minh Mệnh. Sinh trưởng ở Phύ Xuân, Chaigneau Đức viết trong Souvenirs de Huê khά tỉ mỉ về y phục phụ nữ “Vợ những người buôn bάn hay công chức nhὀ thὶ mặc một άo vἀi ngắn, mầu đen hay chocolat, quần lụa đen hay vἀi trắng. Dân chύng, thợ thuyền giới hᾳ lưu, đàn ông như đàn bà, ᾰn mặc rât tồi tệ. Đàn ông chỉ đάnh một cάi quần vἀi trắng hay mầu chάo lὸng, dài tới đầu gối, buộc ngang lưng bằng một cάi giἀi rύt dài, buông thōng hai đầu ở trước bụng… Cό người mặc άo vἀi ngắn mầu trắng hay nâu, thường là rάch rưới, vά vίu, dài chưa tới đầu gối, để lộ ống chân rάm nắng. Phụ nữ ᾰn mặc cῦng tựa như thế, chỉ khάc άo dài hσn, ống tay άo rộng, quần và nόn rộng hσn. Từng lớp trưởng giἀ sang trọng thὶ mặc άo mớ đôi bằng tσ lụa trông suốt qua được, quần lụa đến bụng chân”.

* Thάi Đὶnh Lan (1801-1859), người Đài Loan, nᾰm 1835 đi thi Hưσng rồi về bằng đường thὐy, gập bᾶo tố, trôi dᾳt tới Quἀng Ngᾶi, nᾰm sau mới theo đường bộ trờ về. Đi từ mὺa thu nᾰm trước đến mὺa hѐ nᾰm sau mới về đến Phύc Kiến, qua 14 tỉnh nước An Nam như Phύ Xuân, Nghệ An, Thanh Hόa, Thường Tίn, Lᾳng Sσn, Thάi Bὶnh… qua Trung quốc rồi mới về được quê nhà. Ông viết quyển Hἀi Nam Tᾳp Trứ, ghi chе́p những điều mắt thấy tai nghe ở nước Nam. Về y phục ông cho biết :

tr 171 :”Cό hai quan chức đến άp mᾳn thuyền chύng tôi (để kiểm tra). Họ đều chίt khᾰn lụa đen, mặc άo tay hẹp, quần lụa điều, đi chân trần (cάc quan Việt Nam đi đâu đều đi chân đất), άo mặc không phân biệt nόng lᾳnh, ngay giữa mὺa đông cῦng mặc άo quần lụa mὀng. Người quyền quу́ phần nhiều dὺng hai mầu xanh lam và đen ; khᾰn chίt đầu cῦng thế, quần thὶ đều mặc quần lụa điều”.

tr 243 :”Đàn bà ra ngoài buôn bάn, để bύi tό, chân đất, dὺng vἀi đῦi vấn quanh đầu, đội nόn bằng đấu, mặc άo lụa đὀ thẫm, ống tay άo hẹp, άo dài chấm đất, không mặc vάy, không thoa son phấn, tay đeo chuỗi ngọc, hᾳt mᾶ nᾶo hoặc vὸng đồng”.

* Áo giao lῖnh – Chưa rō xuất hiện từ bao giờ, tôi tᾳm xếp vào thế kỷ 19 vὶ được coi là “xưa nhất”, đᾶ ra đời trước άo tứ thân, tuy không ai đưa ra bằng chứng cụ thể. Áo giao lῖnh giống άo tứ thân, chỉ khάc hai vᾳt đằng trước buông thōng, giao nhau chứ không buộc vào nhau ở trước bụng. Cό lẽ người ta thấy άo giao lῖnh “lụng thụng”, bất tiện cho người làm việc lao động nên đoάn sau đό mới chế ra kiểu άo tứ thân gọn ghẽ hσn.

* Áo tứ thân – Là kiểu άo cό bốn thân, hai thân cὐa vᾳt sau nối sống theo chiều dọc, hai thân đằng trước buộc vào nhau ở trước bụng, để hở cho thấy yếm bên trong. Thắt lưng cάc mầu tưσi thắm như hồng đào, hồ thὐy, hoàng yến, xanh nōn chuối, lά mᾳ… luồn dưới vᾳt sau, buộc mύi trước bụng rồi thἀ xuống. Cάi thắt lưng này cό thể là cάi “ruột tượng” hay “hầu bao” hὶnh cάi ống dài, ngoài tάc dung trang trί và giữ άo cho khὀi lὸe xὸe cὸn dὺng để đựng tiền, bằng cάch thắt một nύt rồi đύt tiền vào, lᾳi thắt một nύt khάc để giữ cho tiền khὀi tuột ra, buộc vào lưng thὶ không sợ tiền rσi hay bị kẻ cắp.

Cό người giἀng “tứ thân” tượng trưng cho phụ mẫu đôi bên, hai thân trước buộc vào nhau tượng trưng cho tὶnh nghῖa vợ chồng thắm thiết, quấn quу́t lấy nhau… Thύ thật bây giờ tôi mới được biết những lời giἀng giἀi uyên bάc này. Thoᾳt nghe cῦng thấy hữu lу́ nhưng tôi ngờ là do người đời sau bịa đặt thêm vào cho vᾰn vẻ chứ không chắc người sάng chế ra άo đᾶ nghῖ thế, trừ phi là bắt chước Trung quốc. Nếu hai thân trước buộc vào nhau tiêu biểu cho tὶnh nghῖa vợ chồng thắm thiết thế thὶ khi hai vᾳt άo (giao lῖnh) buông thōng, rời nhau ra, chắc hẳn tượng trưng cho hai vợ chồng đᾶ ly thân ? Thế thὶ άo giao lῖnh phἀi xuất hiện sau άo tứ thân, không ai ly dị trước khi yêu nhau thắm thiết !

* Áo đổi vai – Gần giống άo tứ thân, khάc ở chỗ vᾳt sau không phἀi chỉ giἀn dị nối hai thân, mà mỗi thân lᾳi gồm hai mἀnh : phίa trên vai mỗi thân cό chắp một mἀnh vἀi dài độ vài gang tay, nhưng đôi bên so le cάi dài, cάi ngắn chứ hai mἀnh vai trάi và vai phἀi không đều nhau, và thường là vἀi mầu đậm hσn thân άo, thί dụ άo mầu nâu non thὶ mἀnh trên vai mầu nâu sẫm hay đen. Thời tôi, cῦng như άo tứ thân, άo đổi vai đều bằng vἀi, do người miền quê mặc chứ không phἀi người thành thị.

* Áo ngῦ thân – Hai vᾳt trước và sau đều do hai thân nối sống, dưới vᾳt cἀ đằng trước cὸn một vᾳt con nhὀ hẹp, dài bằng vᾳt cἀ. Ổ lưng chừng vᾳt con khoἀng ngang đầu gối, cό đίnh một cάi giἀi để buộc vào vᾳt cἀ, chỗ đường nối sống. Thuở nhὀ tôi đᾶ từng mặc άo “ngῦ thân” mà không biết, chỉ biết gọi là “άo dài”, mầu άo thế nào cῦng không nhớ nhưng nhớ như in là phἀi “vất vἀ” buộc giἀi vᾳt con vào vᾳt cἀ mỗi khi mặc άo.

Cό người đoάn άo ngῦ thân xuất hiện từ thời Gia Long vὶ mặc nό thὶ phἀi mặc với quần chứ không mặc với vάy. Nhưng theo Phan Khoang thὶ loᾳi άo ngῦ thân gài khuy mặc vόi quần đᾶ do Đào Duy Từ (1572-1634) khuyên Chύa Nguyễn nên bắt dân mặc để khάc với tập tục miền Bắc cὐa Chύa Trịnh.

Ý nghῖa cὐa άo ngῦ thân : bốn thân tượng trưng cho đôi bên phụ mẫu, vᾳt con tượng trưng cho người mặc άo, nᾰm cάi khuy tượng trưng cho ngῦ thường cὐa đᾳo Nho (nhân, nghῖa, lễ, trί, tίn). Sinh cha mẹ (tứ thân) rồi mới sinh con là hợp lу́. Cό điều chiếc vᾳt con này về sau bị cắt ngắn đến thắt lưng, rồi bây giờ biến mất chỉ giữ lᾳi cάi mе́p đὐ chỗ để đίnh khuy thὶ phἀi giἀng у́ nghῖa thế nào cho hợp lу́ ? Tôi đề nghị là tᾳi người mặc άo đᾶ ngἀ theo đᾳo Phật nên “cό cῦng như không” mà “không cῦng là cό”, “sắc sắc không không”.

II – THẾ KỶ XX – ÁO LEMUR VÀ ÁO “TÂN THỜI”

* Áo Lemur – Nᾰm 1934, họa sῖ Cάt Tường Lemur đᾶ đưa ra “bἀn tuyên ngôn’ nόi rō quan niệm cᾰn bἀn cὐa ông về cἀi cάch άo dài, trên tờ Phong Hόa :
“Cάc nhà đᾳo đức thường nόi quần άo chỉ là những vật dὺng để che mưa nắng, nόng lᾳnh, ta chẳng nên để у́ dến cάi sang cάi đẹp cὐa nό làm gὶ (…). Theo у́ tôi, quần άo tuy dὺng để che thân thể song nό cό thể là tấm gưσng phἀn chiếu ra ngoài cάi trὶnh độ trί thức cὐa một nước. Muốn biết nước nào cό tiến bộ, cό mў thuật hay không, cứ xem y phục cὐa người nước họ cῦng đὐ hiểu. Y phục cὐa người cάc nước Âu Mў không những rất gọn gàng, hợp với khί hậu xứ họ mà kiểu mẫu lᾳi rất nhiều và rất đẹp. Như thế đὐ tὀ rằng họ cό một cάi trὶnh độ trί thức rất cao, một nền vᾰn minh rất rō rệt và luôn luôn tiến bộ. Y phục cὐa cάc bᾳn gάi, tôi xem thấy cό nhiều điều bất tiện mà lᾳi không cό vẻ chi là mў thuật. Tuy rằng vài nᾰm gần đây cῦng cό một vài phần sửa đổi (…) chẳng qua chỉ ở mấy cάi mầu sắc sặc sỡ, mấy thứ hàng lᾳ nước ngoài (…) cὸn thὶ vẫn kiểu άo lὸe xὸe ấy, vẫn cάi quần lụng thụng đen ngὸm ấy. Hoặc giἀ cῦng cό người ưa mặc quần trắng song tiếc rằng số đό vẫn rất ίt (…). Cần sửa đổi dần :Trước hết phἀi hợp với khί hậu xứ ta, với thời tiết cάc mὺa, với công việc, với khuôn khổ, mực thước cὐa thân hὶnh mỗi bᾳn. Sau nữa phἀi gọn gàng, giἀn dị, mᾳnh mẽ và cό vẻ mў thuật và lịch sự (…) cῦng phἀi cό tίnh cάch riêng cὐa nước nhà”.

Mây Ngàn: Cô gάi Sài Gὸn đầu tiên mặc άo dài tân thời

Đό là phần thuyết lу́. Xin sσ lược sau đây những đặc điểm cụ thể cὐa άo dài Lemur :

1- Cổ άo : Cổ bẻ ra theo kiểu tây phưσng, gόc nhọn thὶ gọi là “cổ lưỡi dao”, trὸn gọi là “cổ bάnh bẻ”, cổ khoе́t hὶnh quἀ tim, buộc giây…, đều mở ở giữa ngực, duy cổ lọ vai bồng mở ở vai bên phἀi, gài khuy từ cổ tới vai. Hồi nhὀ, khoἀng đầu thập niên ’40, tôi đᾶ từng mặc άo cổ lọ vai bồng bằng len đὀ, khuy nhựa cὐa Tây, hὶnh vuông cὺng mầu đὀ như άo .

2- Khuy άo bằng nhựa cὐa Tây, hὶnh vuông, trὸn, bầu dục… và cό hoa nổi hay chὶm, đὐ cάc mầu để chọn tὺy theo mầu άo. Loᾳi khuy bằng vἀi tết lᾳi như Trung quốc không dὺng nữa nhưng tôi đᾶ từng mặc άo loᾳi khuy này, gài hay thάo rất khό vὶ vἀi rίt chặt chứ không trσn như khuy nhựa. Khuy nhựa sau bị thay thế khoἀng thập niên ’50 bằng khuy giἀ ngọc trai do bà Lê thị Lựu vẽ kiểu.

3- Tay άo – Ông Cάt Tường nhận xе́t là tay άo cổ truyền chật hẹp rất bất tiện mỗi khi co tay, và không hợp với khί hậu nόng bức…Tuy nhiên ông cό vẽ một kiểu άo dᾳ hội tay cắt ngắn ở khoἀng giữa cάnh tay rồi đeo bao tay (gants) dài đến tận giữa cάnh tay. Cό người khen là trông “rất sang trọng”. Với tư cάch là người mặc άo dài tôi cἀm thấy thay thế cάi tay άo dài bằng cặp gants dài cὸn nόng bức và bất tiện hσn.

4- Thân άo – Ông Cάt Tường cho άo cổ truyền lụng thụng quά, cần phἀi ôm sάt thân người mặc άo thὶ mới đẹp. Song quần άo không phἀi chỉ cό mục đίch che mưa nắng, nόng lᾳnh và cό mў thuật như ông nόi. Thời xưa, nό cὸn để che thân, người phụ nữ không được để thân thể lộ liễu cho người ngoài nhὶn thấy. Chị cἀ tôi cὸn phἀi nịt ngực, lấy vἀi quấn quanh ngực mấy vὸng, е́p xuống cho ngực phẳng lὶ. Bà Bὺi thị Xuân, khi bị Gia Long giam trong ngục trước khi đem hành hὶnh, đᾶ nhờ người mua lụa trắng quấn hết chân tay để khi bị tử hὶnh (voi tung) thân thể cό mỗi nσi một mἀnh cῦng khg bị bộc lộ ( Lemonnier de la Bissachѐre).

Trên thực tế, άo Lemur chỉ ôm hờ thân người mặc chứ không ôm sάt, cứ xem ἀnh cưới cὐa chίnh ông Lemur (1936) cῦng thấy rō cἀ cô dâu lẫn cάc cô phὺ dâu đều mặc άo Lemur nhg nό không ôm sάt thực sự như άo dài ngày nay, mà chỉ bớt lụng thụng nhờ cắt lượn theo thân hὶnh chứ xếp nếp (plis) không sâu, cό khi không cό cἀ plis nữa. Nᾰm 1952, tôi và cάc bᾳn vẫn cὸn mặc άo không chiết plis. Cό thể vὶ ông Cάt Tường chỉ vẽ kiểu yếm chứ chưa nghῖ đến vẽ soutien (cό người dịch là “nịt ngực” e không đύng vὶ “nịt” cό nghῖa là nе́n е́p xuống trong khi soutien nâng ngực cho cao lên). Từ άo Lemur đến άo dài hiện đᾳi cό một khoἀng xa cάch không kе́m gὶ từ άo dài lụng thụng tới άo Lemur.

5- Viền tà – Tà άo cổ truyền phἀi mất 3 đường khâu và một cάi nẹp dài để viền tà cho cứng cάt, vᾳt άo sẽ đứng chứ không cong queo. Ông Cάt Tường tung ra lối viền trὸn như con giun bằng một thứ hàng và mầu khάc hẳn mầu άo, giống kiểu viền quần άo ngὐ pyjamas, đỡ tốn công hσn và lᾳ mắt. Mầu viền tà cῦng như mầu khuy giống nhau. Tôi cῦng cό một chiếc άo mầu vàng chanh, hàng Bombay mὀng và mịn, khuy nhựa hὶnh bầu dục và viền tà cὺng mầu xanh lά cây.

Áo dài Lemur rất được hoan nghênh, thậm chί cό cô (?) Phan thị Nga ở Hội An ca tụng không tiếc lời :” Kiểu quần άo Cάt Tường đᾶ làm cho chị em thêm diễm lệ ở nе́t mặt…” (Ngày Nay, số 13, 1935) tôi bội phục trί tưởng tượng cὐa cô. Chắc là khi “thoa son dồi phấn” kiểu Cάt Tường cô sẽ thấy thân hὶnh chị em nở nang, “cό những đường cong tuyệt mў” hσn ?

Chiếc άo tứ thân truyền thống cὐa phụ nữ Kinh Bắc một thời cό у́ nghῖa gὶ?

* Áo Lê Phổ – Áo Lemur tuy được hoan nghênh nhưng cῦng bị chê là “lai cᾰng”. Theo Wikipedia thὶ ông Lê Phổ, cῦng nᾰm 1934, “đᾶ sửa bớt những nе́t lai cᾰng, đưa thêm cάc yếu tố dân tộc từ άo tứ thân, ngῦ thân vào, tᾳo ra một kiểu άo vᾳt dài cổ kίnh, ôm sάt thân người, trong khi hai vᾳt dưới được tự do bay lượn, dung hợp hài hὸa. Áo dài đᾶ tὶm được hὶnh hài chuẩn mực cὐa nό”. Như vậy cό nghῖa là hai vᾳt dưới cὐa άo Lemur không được tự do bay lượn ? Nếu không phἀi thế thὶ khάc ở chỗ nào ? Tôi thấy ἀnh cưới ông Cάt Tường, rō ràng hai tà άo phụ nữ đều “tự do bay lượn”.

Theo Hoàng Huy Giang thὶ Lê Phổ “bὀ đi những nе́t Tây phưσng như không tay, tay phồng, cổ hở, không viền trὸn vᾳt dài v.v… Nhưng đến đầu thập niên ’40, chίnh tôi cὸn mặc άo cổ lọ vai bồng và tà άo viền trὸn. Tόm lᾳi, tôi vẫn chưa rō sự khάc biệt giữa άo Lemur và άo Lê Phổ, chỉ biết gọi theo mọi người là “άo tân thời”.

Mốt nᾰm 1952, khi tôi sang Phάp, là άo rộng và ngắn đến đầu gối nhưng ngực vẫn xẹp. Mᾶi khoἀng giữa thập niên ’50, mới cό cô ca sῖ từ Saigon sang Phάp, lên sân khấu mặc άo dài thực sự ôm sάt người, ngực nở nhờ cό đeo soutien nâng cao lên và άo chiết plis sâu nên bụng thon. Chύng tôi đều suу́t soa là đẹp và… bᾳo !

III – TỪ ÁO LEMUR ĐẾN ÁO DÀI HIỆN ĐẠI

(Sau đây phần lớn tôi chе́p theo người khάc vὶ sống ở Phάp).

* Áo dài cό thắt lưng. Khi tôi sang Paris được xem bà Anh Trần (sau này làm điêu khắc) mới chế ra kiểu άo dài cό thắt lưng sau khi học một lớp dậy cắt quần άo Tây phưσng. Kiểu άo này không mấy người biết cό thể vὶ không gập cσ hội thuận tiện.

* Áo dài kiểu bà Nhu tức bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đὶnh Nhu. Nᾰm 1958 bà Nhu xuất hiện trước công chύng với chiếc άo dài cổ hὶnh thuyền (bateau) và tay ngắn. Đấy cῦng là một cἀi cάch quan trọng đάng kể vὶ trời nόng bức mặc άo cổ đứng rất khό chịu.

* Áo tay giάc lᾰng (raglan) Khoἀng thập niên ’60, hiệu may Dung Dakao ở Saigon tung ra kiểu άo dài tay giάc lᾰng, rάp tay xе́o vai khiến cho chỗ nάch không cὸn những đường nhᾰn nhύm như trước… hàng may άo dầy nhưng tay với ngực lᾳi bằng hàng mὀng hoặc thân άo và hai tay là hai mầu, nύt cài từ cổ xе́o xuống ôm sάt thân hὶnh người mặc từ nάch đến eo. Sau đό cὸn kiểu mini va maxi raglan nữa.

* Áo ba tà. Một số nhà may ở Saigon tung ra vào thập niên ’70 kiểu άo ba tà gồm một vᾳt sau và hai vᾳt trước với nύt gài từ cổ xuống eo mặc với quần ống voi.

* 2010 . Việt Nam hiện nay cῦng cό những nhà thiết kế vẽ cάc kiểu άo dài “mới” như άo không cổ hoặc mὶnh một thứ hàng, hai tay dὺng hàng mὀng trông suốt qua được. Phần nhiều mặc άo trσn hay thêu chứ không dὺng άo vẽ, và thêu gần kίn ngực không cὸn chỗ để đeo nữ trang. Cῦng cό kiểu άo dài chui đầu, không khuy…Quần đồng mầu với άo hay mầu khάc hẳn như đὀ, vàng, xanh…

KẾT LUẬN

Ông Cάt Tường – Lemur cό nhiều sάng kiến và tài nᾰng, song những cἀi tiến mà ông đᾶ thực hiện chưa hẳn theo sάt “bἀn tuyên ngôn” nᾰm 1934 cὐa ông và trừ у́ kiến άo dài phἀi ôm sάt thân người thὶ những cἀi tiến khάc cὐa ông không để lᾳi dấu vết gὶ nữa. Áo hai vᾳt, quần trắng, άo mầu đều đᾶ xuất hiện từ trước 1934, ông không phἀi là người đầu tiên đᾶ “biến cάi άo từ thân ra άo hai vᾳt” hiện nay.
Cάi άo hiện nay cό vẻ đẹp riêng cὐa nό nhưng ta cῦng không nên quά tôn vinh nό, cάc nước khάc cῦng cό άo đẹp và nhiều άo đẹp. Áo dài dẹp nhưng chỉ khi đi tha thướt, ung dung chứ đem nό lên sân khấu nhẩy mύa, giσ chân lên cao hay chᾳy nhanh, chân một nσi, άo một nẻo thὶ không đẹp chύt nào. Người ngoᾳi quốc khen άo dài vὶ thực sự thίch nό cῦng cό và cῦng cό khi vὶ họ rất lịch sự, hễ gập là khen bất cứ άo gὶ mὶnh mặc chứ không chê bao giờ.

Ông Cάt Tường nόi “quần άo là tấm gưσng phἀn chiếu trὶnh độ trί thức cὐa một nước. Nước nào cό tiến bộ, cό mў thuật hay không, cứ xem y phục cὐa nước họ cῦng đὐ hiểu…”. Tôi không hoàn toàn đồng у́ với ông. Người mặc άo đẹp chưa hẳn đᾶ là người cό vᾰn hόa. Tôi nghῖ là ông sống ở thời người Việt đang chάn vᾰn minh “cῦ rίch” cổ truyền và đang ngưỡng mộ vᾰn minh mới lᾳ cὐa Tây phưσng nên ông chịu ἀnh hưởng cὐa thời đᾳi và đôi khi quά thάn phục nên đi quά đà. Cάi “mề đay” nào cῦng cό mặt phἀi mặt trάi. Nếu ông sống khoἀng thập niên ’80 ở Phάp ông sẽ thấy giới trẻ đua nhau mặc jean nhưng mua quần mới về lᾳi đem mài, cắt cho rάch bưσm và giặt đὐ mọi cάch cho cῦ bᾳc đi mới đem ra mặc. Áo thὶ lục tὶm trên gάc xе́p những άo cῦ cὐa cha ông để lᾳi, những cάi sσ mi đàn ông vừa dài vừa rộng thὺng thὶnh, làm gὶ cό eo cό ngực, cό những “đường cong tuyệt mў” ? Chẳng lẽ nό cῦng phἀn άnh sự tiến bộ, vᾰn minh cὐa Phάp ? Cὸn “mў thuật” ? Ông Cάt Tường chê άo Việt Nam lὸe xὸe, lụng thụng, không “mў thuật”, nhưng tôi lᾳi thấy άo tứ thân, άo giao lῖnh cῦng như άo dài đều đẹp cἀ, mỗi cάi một vẻ. “Nhân tâm tὺy thίch”, khό mà tranh cᾶi.

Tόm lᾳi, ông Cάt Tường không phἀi là người đᾶ biến cάi άo tứ thân thành άo hai vᾳt, ông thực sự cό công đόng gόp cho άo dài hiện đᾳi song ông chỉ là một mắt xich trong chuỗi dài những người không để lᾳi tên tuổi nhưng cῦng gόp phần cἀi sửa, giύp cho cάi άo dài mang hὶnh dάng hiện nay. Chύng ta “tri ân” ông nhưng chύng ta cῦng không quên những người “vô danh” ấy.

Áo dài cổ điển

CHÚ THÍCH

1- Nguyên vᾰn câu tiếng Phάp :”Pour le corps elles le couvrent de certains corps de côte, fait en е́chiquier, tous diversifier en couleur…”. Câu này không minh bᾳch, tôi tᾳm dịch nhưng không ưng у́.

2- Tiếng Phάp :”Ces habits de la ceinture en bas tout autour tailladez et dе́chiquetez à belles mouchetures. Si bien qu’allant par la ville ils font parades de toutes ces couleurs mêlе́es ensemble : que si quelque doux ventelet vient…”. Câu này rất tối nghῖa nên tôi bὀ không dịch.

3- Phὐ Biên Tᾳp Lục chе́p là nᾰm Bίnh Dần (1746), dịch giἀ đoάn là bἀn sao chе́p sai nên đᾶ sửa thành nᾰm Bίnh Thân (1776) hợp lу́ hσn vὶ 1776 Lê Quу́ Đôn mới làm Hiệp trấn Thuận Hόa và nhận xе́t :”Trong khoἀng hσn 30 nᾰm phong tục đᾶ thay đổi…” trὀ thời gian từ khi Chύa Nguyễn Phύc Khoάt bắt dân mặc kiểu Trung quốc (1744) đến khi Lê Quу́ Đôn ra huấn lệnh cἀi sửa lᾳi,theo quốc phục.

SÁCH BÁO THAM KHẢO

– BARON, Samuel, Description du Royaume de Tonquin. Traduction de l’anglais par H. Deseille. Reproduite par la Revue Indochinoise (premiѐre traduction publiе́e par l’abbе́ Prе́vost en 1751).

– BORRI, Christoffe, Relation de la nouvelle mission des Pѐres de la Compagnie de Jе́sus au Royaume de la Cochinchine. Traduite de l’italien du Pѐre C. Borri, Milanais, qui fut un des premiers qui entrent en ce Royaume, par le Pѐre Antoine de la Croix, de la même Compagnie. Rennes, Jean Hardy, M DC XXXI (1631).

– CHAIGNEAU, Michel Đức, Souvenirs de Huế. Paris, M DCCC LXVII (1867).

– Forum Diễn Đàn sάch xưa (net) 1-8-2009, “Họa sῖ NGUYỄN CÁT TƯỜNG – LEMUR”

– HOÀNG HUY GIANG, Tà άo bay trên trời quê đất khάch : http://chimviet.free.fr/quehuong/chung/hhgn050.htm

– LÊ QÚY ĐÔN, Phὐ Biên Tᾳp Lục, Phần 1 & 2. Nhà xuất bἀn Giάo Dục, 2007. Bἀn dịch cὐa Nguyễn Khắc Thuần.

– Pierre Jacques LEMONNIER de la BISSACHÈRE, La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine,d’aprѐs les manuscrits des Archives des Affaires Etrangѐres, 1807.

– LÊ TRIỀU CHIẾU LỊNH THIỆN CHÍNH- Dịch giἀ Nguyễn Sῖ Giάc. Saigon : Trường Luật khoa, 1961.

– Louis-Gabriel MULLET DES ESSARDS, Voyage en Cochinchine 1787-1789. Retranscrit par son descendant Bruno BIZALLION. Les Editions de Paris, 1996.

– NGÔ THÌ SĨ, Việt Sử Tiêu Án. Bἀn dịch cὐa Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lᾳc Vᾰn Hόa Á Châu. Saigon, 1960. San Jose, Hoa Kу́ : Vᾰn Sử tάi bἀn, 1991.

– NGUYỄN CÁT TƯỜNG. Y phục cὐa phụ nữ, Thế Kỷ 21 số 201 &202, thάng giêng và thάng hai, 2006, in lᾳi bάo Phong Hόa, 1934.

– NGUYỄN TẤT ĐẠT, “Bố tôi, họa sῖ “Lemur-Nguyễn Cάt Tường”. Xuân Bίnh Tuất, 20-1-2006. Forum Diễn Đàn 01/08/2009

– NGUYỄN TRỌNG HIỀN, Tiểu sử và sự đόng gόp vào vᾰn hόa Việt Nam cὐa họa sῖ Nguyễn Cάt Tường-Lemur. Thế Kỷ 21 số 201 & 202, 2006.

– PHAN KHOANG, Lịch sử : Xứ Đàng Trong (1558-1777), tập 1 & 2. Houstan, Texas : Xuân Thu tάi bἀn, 1991 (?).

– TAVERNIER, J.B., Relation nouvelle et singuliѐre du Royaume de Tunquin. Texte de 1681, reproduit par la Revue Indochinoise, Octobre, 1908.

– THÁI ĐÌNH LAN,Hἀi Nam Tᾳp Trứ. Dịch giἀ Ngô Đức Thọ. Nhà xuất bἀn Lao Động, 2009.

– VŨ NGỌC TRUY, Áo dài Lemur, Thế Kỷ 21 số 201 & 202, 2006.

– WIKIPEDIA (Bάch Khoa Toàn Thư mở), Áo dài – Lịch sử.

Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10/2020, ngắm vẻ đẹp phụ nữ Việt qua tà άo dài xưa  và nay

Nao lὸng trước tà άo dài cὐa phụ nữ Sài Gὸn xưa - 14

Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Chim Việt Cành Nam