Đọc khoἀng: 19 phύt

Bài Chuyện Cây Cὀ và Địa Danh tiếp nối những loᾳt bài về địa danh mang tên thἀo mộc – cây giά và Rᾳch Giά (Giά Khê), Lavang (tiếng Hindi) là cây đinh hưσng hay Champa (Chiêm Thành) là hoa sứ (tiếng Hindi) – vὶ ở Việt Nam cό rất nhiều địa danh mang tên cây cὀ, nhất là ở miền Nam. Trong bài nầy chύng tôi ghi lᾳi một số địa danh ίt được biết đến mang tên cάc loᾳi thἀo mộc cῦng ίt được biết đến hay trên đà tuyệt chὐng.

Cάi Nhum và cây nhum

Oncosperma tigillarium1

Cάi Nhum là tên cὐa một quận trong tỉnh Vῖnh Long dưới thời Việt Nam Cộng Hὸa. Hiện nay đό là thị xᾶ huyện lỵ cὐa huyện Mang Thίt trong tỉnh Vῖnh Long. Cάi Nhum nằm trên bắc vῖ tuyến 10 độ 10′ và dὸng kinh tuyến 106 độ 30′. Huyện Mang Thίt chỉ rộng 158 km2 với trên 100.000 dân nên Cάi Nhum là một thành phố trὺ phύ nhưng nhὀ hẹp và không đông dân theo cάi nhὶn cὐa người sống ở cάc thành phố rộng lớn và đông dân ở Hoa Kỳ và cάc nước kў nghệ cό tỷ lệ thị dân cao trên thế giới. Cάi Nhum nằm cάch tỉnh lỵ Vῖnh Long 17 km về phίa đông nam. Kinh tế Cάi Nhum dựa vào nông nghiệp và trάi cây nhiệt đới tưσng tự như Cάi Mσn, Bὶnh Nhâm, Nhị Bὶnh là những vὺng cό tỷ lệ tίn đồ Thiên Chύa Giάo cao và là vὺng cό nhiều vườn cây ᾰn trάi như sầu riêng, mᾰng cụt, chôm chôm mà cάc giάo sῖ Thiên Chύa Giάo mang giống từ Penang về. Từ nᾰm 1800 Dὸng Mến Thάnh Giά được thành lập tᾳi Cάi Nhum.

Địa danh Cάi Nhum được đặt từ tên cὐa cây nhum (Cάi: rᾳch <arroyo>; Cάi Nhum: cây nhum mọc dọc theo rᾳch).

caynhum

Cây nhum mang tên khoa học Areca tigillaria hay Oncosperma tigillaria thuộc gia đὶnh Arecaceae cὐa cây cau, cây dừa. Cây cao nhất cό thể đo được 25m. Cây phὐ đầy tàu lά dài từ 2m đến 3m. Tàu lά giống như tàu cau, tàu dừa nhưng dầy đặc. Cây mọc theo cάc dὸng nước, hà khẩu cάc sông. Hoa cάi màu đὀ, hoa đực màu vàng. Trάi trὸn. Người Mᾶ Lai gọi là Nipung. Dân hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng gọi là Gendiwung. Cây nhum cό nhiều liên hệ với dừa nước Nypa fruticans.  Cây cό gỗ cứng dὺng làm nhà. Lά dὺng để lợp nhà hay phσi khô để nhύm lửa, gỗ tᾳp làm cὐi đốt hay làm dụng cụ sᾰn và bắt cά. Cổ hὐ cây nhum được ᾰn như cổ hὐ cây dừa. Cây nhum cὸn được tὶm thấy nhiều ở Mᾶ Lai, Indonesia, Phi Luật Tân và cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng. Nhưng nό tưσng đối xa lᾳ với người Việt Nam mặc dὺ ở Nam Bộ cό thành phố Cάi Nhum.

Xuyên Mộc và cây xoan mộc

Trước nᾰm 1975 Xuyên Mộc nằm trong tỉnh Bὶnh Tuy. Ngày nay Xuyên Mộc là một huyện cὐa tỉnh Bà Rịa-Vῦng Tàu. Đό là một huyện miền duyên hἀi nối liền với duyên hἀi tỉnh Bὶnh Thuận. Nᾰm 1954 là một trong ba vὺng tập trung quân Việt Minh ở Nam Bộ (Xuyên Mộc, Cao Lᾶnh, Cà Mau) tập kết ra miền Bắc theo hiệp ước đὶnh chiến kу́ ở Genѐve ngày 20-07-1954 giữa Đᾳi Tά Delteil và Tᾳ Quang Bửu, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phὸng cὐa chάnh phὐ Việt Nam Dân Chὐ Cộng Hὸa trong chiến khu. Huyện Xuyên Mộc rộng 642km2 với 12 xᾶ. Huyện lỵ là Phước Bửu nằm gần Bὶnh Châu, nσi cό suối nước nόng. Xuyên Mộc cό 132.000 dân. Kinh tế địa phưσng trước kia dựa vào ngư nghiệp. Ngày nay Xuyên Mộc trở thành khu du lịch quan trọng nhờ cό bᾶi biển đẹp, suối nước nόng. Trong những nᾰm gần đây Xuyên Mộc cό đổ trường và nhiều khάch sᾳn được xây lên để tiếp đόn khάch du lịch.

Toona sureni 1

Địa danh Xuyên Mộc là tiếng âm trᾳi cὐa cây xoan mộc hay xưσng mộc. Tên khoa học cὐa cây xoan mộc là Toon sureni, Toona febrifuga, Cadrela sureni thuộc gia đὶnh Meliaceae. Người Anh gọi cây xoan mộc hay xưσng mộc là Red Cedar (cây bά hưσng đὀ), Phάp gọi là Cѐdre de Cochinchine (cây bά hưσng Nam Kỳ), Indonesia: suren, Thάi Lan: surian, Mᾶ Lai: surian wangi, Trung Hoa: Zi Chun (Tứ Xuân Mộc) v.v.

Cây xoan mộc là một loᾳi cây cao từ 15 đến 40m. Đây là một loᾳi thἀo mộc vὺng khί hậu nhiệt đới và bάn nhiệt đới. Nό được tὶm thấy nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng và bắc Úc Đᾳi Lợi. Hoa nhὀ li ti mọc thành chὺm. Trάi cό nắp. Hột cό hai cάnh. Vὀ cây cό mὺi thσm. Vὀ cό nhiều tannins. Gỗ mềm dễ cưa và bào. Người ta dὺng gỗ cây xoan mộc để đόng thuyền, bàn ghế, tὐ hay làm sàn nhà.

Vὀ và rễ cây xoan mộc dὺng sắc nước uống trị kiết lỵ, tiêu chἀy. Hoᾳt chất lấy từ lά cây xoan mộc cό tίnh sάt trὺng Staphylococcus. Ở Việt Nam trong dân gian người ta dὺng lά cây xoan mộc để trị tê thấp (đắp), điều kinh, cầm mάu, trị tiêu chἀy, kiết lỵ.

Ở Ấn Độ hoa cây xoan mộc dὺng để làm thuốc nhuộm màu đὀ và màu vàng.

Ở miền ôn đới và bάn nhiệt đới như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bἀn, Âu Châu, Taiwan (Đài Loan),… cό cây xuân mộc Ailanthus glandulosa thuộc gia đὶnh Simaroubaceae. Cây nầy toάt mὺi dầu phọng lên men nên người Anh gọi là Stink tree và người Trung Hoa gọi là Chouchun (xύ xuân mộc). Những âm xuân, xoan, xưσng, xuyên đều giống nhau trên 60%. Theo tiếng Trung Hoa cây xoan mộc được gọi là Zi Chun (tử xuân mộc) và cây xuân mộc được gọi là Chou Chun (xύ xuân mộc). Nhưng chύng tôi không dάm quἀ quyết địa danh Xuyên Mộc do cây xuân mộc mà ra vὶ cây xuân mộc Ailanthus glandulosa là thἀo mộc miền ôn đới. Trάi lᾳi cây xoan mộc hay xưσng mộc được tὶm thấy nhiều ở Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á quần đἀo. Chữ Sureni trong tên khoa học cὐa cây xoan mộc hay xưσng mộc xuất phάt từ tên gọi Suren cὐa người Indonesia và Mᾶ Lai dành cho loᾳi thἀo mộc nầy. Xưa kia vὺng Xuyên Mộc ngày nay là vὺng kiểm xoάt cὐa người Khmer và Chàm. Người Chàm cό quan hệ chὐng tộc với người Mᾶ Lai và Indonesia và tất cἀ cὺng chịu ἀnh hưởng cὐa vᾰn hόa Ấn Độ trước khi theo Hồi Giάo. Người Khmer cῦng chịu ἀnh hưởng sâu đậm cὐa vᾰn hόa Ấn Độ và cό quan hệ lịch sử với Indonesia.

Gὸ Quao và cây quao

Gὸ Quao là một huyện cὐa tỉnh Kiên Giang. Huyện nằm trên bắc vῖ tuyến 9 độ 45′ và đông kinh tuyến 105 độ 59′. Huyện Gὸ Quao rộng 425 km2 (20,6 km x 20,6 km) với 145.000 dân vào nᾰm 2003. Gὸ Quao nằm trong nội địa chớ không nằm trên Vịnh Thάi Lan. Huyện nầy cό 11 xᾶ: Thị trấn Gὸ Quao, Thὐy Liễu, Vῖnh Hὸa Hưng Bắc, Vῖnh Hὸa Hưng Nam, Vῖnh Phước A, Vῖnh Phước B, Định An, Định Hὸa, Vῖnh Tuy, Vῖnh Thắng, Thới Quἀn. Gὸ Quao cό sông Cάi Lớn chἀy ngang qua.

Trong tỉnh Bến Tre cό Chợ Cάi Quao nằm trên bắc vῖ tuyến 10 độ 05′ và đông kinh tuyến 106 độ 22′.

Địa danh Gὸ Quao và Chợ Cάi Quao xuất phάt từ tên cὐa cây quao, một loᾳi thἀo mộc khά xa lᾳ với người Việt Nam.

Dolichandrone spathacea

Cây quao mang nhiều tên khoa học khάc nhau như: Dolichandrone spathacea, Dolichandrone longissima, Bignonia javanica, Bignonia longiflora, Spathodea longiflora thuộc gia đὶnh Bignoniaceae. Cây quao là một cây mọc dọc theo cάc dὸng nước, vὺng ẩm ướt hay hà khẩu cάc sông. Cây quao cao đến 20 m. Hoa trổ trên một cuống dài thẳng đứng. Hoa màu trắng, nở và tàn trong một ngày mà thôi. Trάi quao dài từ 50 – 60 cm tựa như trάi ô môi. Cây quao được tὶm thấy nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka, cάc nước Đông Nam Á lục địa và quần đἀo và ở cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng.

Người Anh gọi cây quao là Mangrove trumpet tree (cây kѐn rừng sάt), người Tamil (Nam Ấn Độ) gọi là Pannir, Sri Lanka: Dyia danga.

Gỗ cây quao nhẹ được dὺng làm guốc (Phi Luật Tân), phao lưới cά, mặt nᾳ (Indonesia), đόng thὺng, bàn, ghế, tὐ.

Lά dὺng làm nước sύc miệng khi bị nhiễm trὺng vὺng miệng, đắp trên bụng trị chứng sὶnh bụng cὐa phụ nữ mới sinh con. Vὀ dὺng để thuốc cά.

Một trong 12 xᾶ cὐa huyện Gὸ Quao cό xᾶ Thὐy Liễu là tên gọi Hάn-Việt cὐa cây bần Sonneratia alba, một loᾳi cây miền rừng sάt, trάi cό đầu nhọn, khi rớt xuống nước đầu nhọn ghim dưới sὶnh và mọc lên cây bần con. Trάi bần ᾰn được. Gỗ dὺng hầm than rất tốt (than bần, than đước).

Làng Cây Gάo và cây gάo

caygao

Làng Cây Gάo nằm trong huyện Trἀng Bom tỉnh Đồng Nai (Biên Hὸa), là một trong những thί điểm trồng cao su cὐa người Phάp vào cuối thế kỷ XIX. Huyện Trἀng Bom rộng lối 326 km2 (18 x 18 km). Đό là nσi đường hὀa xa Xuyên Việt chᾳy ngang qua trước khi vào Biên Hὸa.

Cây gάo là một cây to cό gỗ vàng. Nό cὸn được gọi là huỳnh bά. Tên khoa học cὐa cây gάo là Nauclea officinalis hay Sarcocephalus officinalis thuộc gia đὶnh Rubiaceae. Người Mᾶ Lai và Indonesia gọi là Batang, Borneo: Katung, Kambala.

Cây gάo được tὶm thấy nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka, cάc quốc gia Đông Nam Á lục địa và quần đἀo, cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng. Cây cao từ 15 đến 20 m, lά hὶnh bầu dục. Trάi trὸn màu hung đὀ nhᾳt. Gỗ vàng dὺng để đόng bàn ghế, làm nhà, đόng thuyền. Cây gάo cό alkaloids naucleatonins A & B khάng trὺng và khάng viêm dὺng để trị sốt rе́t nhưng không mᾳnh lắm.

Cό một loᾳi cây gάo vàng mang tên khoa học Nauclea cordifolia hay Adina cordifolia thuộc gia đὶnh Rubiaceae như cây huỳnh bά (cây gάo).Người Anh gọi cây gάo vàng là Yellow teak (gỗ teak vàng), Ấn Độ: Karam.

Cây gάo vàng nầy cό umbelliferone, skimmin. Vὀ cây gάo vàng được dὺng để trị tiêu chἀy, kiết lỵ, thuốc bổ, kίch dục, trục lᾶi. Vὀ cây gάo vàng kết hợp với vὀ cây nύc nắc tức sὸ đo thuyền Oroxylum indicum và đường sắc với nước uống trị chứng tiểu gắt, tiểu xόn. Cây gάo vàng nầy cό thể cao từ 30 đến 40 m.

Giồng Riềng và cὐ riềng

alpinia galanga

Giồng Riềng là một huyện rộng lớn và đông dân cư trong tỉnh Kiên Giang, diện tίch rộng lớn 634 km2 (25,17 km x 25,17 km) với gần 200.000 dân. Huyện nằm trên bắc vῖ tuyến 9 độ 54′ và đông kinh tuyến 105 độ 19′. Huyện cό đến 17 xᾶ. Kinh tế dựa vào nông, ngư nghiệp và kў nghệ du lịch.

Giồng là vὺng đất cao ίt nước nên việc trồng trọt tưσng đối khό khᾰn hσn những vὺng đất màu mở và cό đầy đὐ nước. Trong ca dao miền Nam cό câu:

Mẹ mong gἀ thiếp về giồng,
Thiếp than phận thiếp gάnh gồng chẳng kham.

Riềng là một loᾳi cὐ giống như cὐ gừng. Đό là một loᾳi hưσng liệu quan trọng như gừng, hành, tὀi trong nhà bếp Việt Nam và cάc nước Á Châu khάc. Riềng cό vị nồng và cό mὺi long nᾶo và dầu tràm. Người Việt Nam thường bὀ riềng vào mắm để khử bớt mὺi mắm. Người ta cho riềng giᾶ nhuyễn vào trе́ làm từ da và thịt heo trộn chung với thίnh. Những người nhậu rượu ᾰn cẩu nhục với riềng, lά mσ lông và rau om.

Ở Ấn Độ người ta dὺng riềng để cất nước hoa. Dân du mục ở miền nam nước Nga uống nước trà riềng. Người Nga ngâm riềng trong giấm và rượu mᾳnh.

Riềng được trồng bằng cὐ. Bụi riềng cao từ 60 – 80 cm, lά dài, lάng, màu xanh mướt. Hoa riềng và hoa nghệ được xem là hoa đẹp.

Tên khoa học cὐa riềng là Alpinia officinarumAlpinia sinensis, Alpinia galanga thuộc gia đὶnh Zingiberaceae. Người Trung Hoa gọi riềng là Kao leang k’ang (thἀo lưσng khưσng), Á Rập: Khanlanjan, Anh: Galangal. Những tên gọi cό âm hao hao như nhau. Chữ galangal cό thể nhᾳy từ tiếng Á Rập Khalanjan vὶ người Anh tiếp xύc với người Ấn Độ và Á Rập trước khi tiếp xύc với Trung Hoa. Nhưng giữa thἀo lưσng khưσng (Kao leang k’ang) và Khalanjan tên gọi nào xuất hiện trước? Người Âu Châu biết đến riềng vào thế kỷ XVII qua trung gian người Á Rập. Mᾶi đến hậu bάn thế kỷ XIX người ta mới thấy cάc sάch y dược cὐa Á Rập đề cập đến riềng gọi theo người Trung Hoa là Lưσng Khưσng (leang k’ang: gừng ngọt). Chữ Khalanjan âm từ Kao leang k’ang (thἀo lưσng khưσng) và được người Anh âm thành galangal. Người Anh cὸn gọi riềng là colic root vὶ tάc dụng trị đau bụng cὐa riềng.

Riềng cό cineol, eugenol, cadinene, methylcinnamate. cὐ riềng dὺng để trị đau bụng, chướng hσi, nôn mửa, đau ruột, tiêu chἀy, kiết lỵ, kinh phong. Dὺng nhiều bị ἀo giάc. Flavonol galangin cὐa riềng làm chậm sự phάt triển cὐa tế bào ung thư vύ.

Riềng được ca dao Việt Nam nhắc đến trong câu:

Chim quyên nό đậu bụi riềng
Dẫu bà con ruột không tiền cῦng xa.

Bến Lức và cὀ lức

Trong tỉnh Long An cό hai địa danh Bến Lức:

1- Cầu Bến Lức.
2- Huyện Bến Lức.

Trước nᾰm 1975 chỉ cό cầu Bến Lức. Dưới thời CHXHCNVN mới cό huyện Bến Lức trong tỉnh Long An. Cầu Bến Lức bắt ngang qua sông Vàm Cὀ Đông. Huyện Bến Lức là một trong 13 huyện thuộc tỉnh Long An, tỉnh bao quanh bởi hai sông Vàm Cὀ Đông và Vàm Cὀ Tây. Huyện Bến Lức nằm trên bắc vῖ tuyến 10 độ 39′ và đông kinh tuyến 106 độ 29′. Diện tίch lối 290 km2 (17 km x 17 km) với lối 130.000 dân (2003) sống trên 14 xᾶ: Mў Yên, Phước Lộc, Long Hiệp, Nhựt Chάnh, Thanh Đức, Bὶnh Đức, An Thᾳnh, Thᾳnh Phύ, Tân Bửu, Tân Hὸa, Lưσng Hoa, Thᾳnh Hὸa, Lưσng Bὶnh, Thᾳnh Lợi. Huyện Bến Lức giάp ranh với huyện Đức Hὸa,  Đức Huệ ở phίa Bắc; Bὶnh Chάnh (thành phố Hồ Chί Minh) ở phίa đông; Cần Giờ, Cần Giuộc, Tân Trụ ở phίa nam và Thὐ Thừa ở phίa tây. Kinh tế dựa vào việc canh tάc lύa, thσm và ngư nghiệp lục địa. Vị trί địa lу́ cὐa Bến Lức rất quan trọng vὶ nằm giữa đoᾳn đường nối liền Sài Gὸn-Mў Tho và  nằm trong vὺng Đồng Thάp Mười gần biên giới Cambodia. Hai sông Vàm Cὀ Đông và Vàm Cὀ Tây đều bắt nguồn từ Cambodia.

Tên gọi Bến Lức do tên cὐa một loᾳi cὀ cό hoa và là một loᾳi cây thuốc: cὀ lức. cό hai loᾳi cὀ lức khάc chίnh tἀ:  Đό là Cὀ Lức Pluchea indica và Cὀ Lứt Bupleurum chinense. Cἀ hai đều không cὺng một gia đὶnh thἀo mộc. Chύng tôi lần lượt trὶnh bày cἀ hai loᾳi thἀo mộc để xem loᾳi thἀo mộc nào thίch hợp với tên Bến Lức quen thuộc với phần lớn những người miền Nam sống trên châu thổ sông Đồng Nai và sông Cửu Long.

1- Cὀ Lức – Cύc Tần – Sài Hồ Nam Pluchea indica

Pluc 3spp PN1 GM3 MXa

Tên khoa học cὐa loᾳi cὀ lức nầy là Pluchea indica (chỉ gốc ở Ấn Độ). Pluchea foliosa thuộc gia đὶnh Astraceae cὐa hoa cύc. Nό cῦng được gọi là Sài Hồ Nam dưới tên khoa học Pluchea pteropoda, Pluchea leptophylla. Loᾳi thἀo mộc nầy được tὶm thấy ở Ấn Độ, cάc nước Đông Nam Á. Cây cao từ 60 cm đến 1 m. Lά bầu, rὶa lά cό rᾰng cưa. Hoa chὺm màu trắng-hồng nhᾳt hay màu hồng. Trάi nhὀ. Loᾳi thἀo mộc nầy thường mọc ở vὺng ẩm ướt, đầm lầy, cửa sông v.v. Lά vὸ cό mὺi thσm long nᾶo. Vὶ vậy người Anh gọi là Indian camphorweed (cὀ long nᾶo Ấn Độ), Thάi Lan: Nuat ngua, Lào: Nuat luat, Mᾶ Lai và Indonesia: Beluntas, Trung Hoa: Guang geng kuo bao ju (Quἀng canh quốc bἀo cύc). Người Trung Hoa không gọi cὀ lức nầy là Chai Hu (sài hồ) như họ gọi cὀ lứt Bupleurum chinense mà chύng tôi sẽ đề cập sau.

saiho

Cὀ lức cό άc xίt quinic, ê-te, quercetin. Người ta hάi lά và cọng để xông khi bị sốt. Người Khmer giᾶ lά cὀ lức hὸa với rượu đắp vào cột xưσng sống khi bị đau thắt lưng và xưσng cụt. Cὀ lức khάng viêm và khάng trὺng được dὺng để trị đường tiểu bị nhiễm trὺng. Ca dao miền Nam nόi về cὀ lức như sau:

Ngό vô đάm lức ngῦ sắc cὸn cό con ong vàng,
Anh coi đi coi lᾳi duyên nàng cὸn không.

2- Cὀ Lứt – Bắc Sài Hồ Bupleurum chinense

BupleurumBupleurum Chinense

Tên khoa học cὐa cὀ lứt hay bắc sài hồ là Bupleurum chinense (gốc ở Trung Hoa), Bupleurum faleatum, Bupleurum scorzoneraefolium thuộc gia đὶnh Umbelliferae cό hoa như tàng dὺ. Cây cao từ 80 cm đến 1m. Lά giẹp và dài. Hoa nhὀ và tụ thành chὺm như tàng dὺ màu vàng. Loᾳi thἀo mộc nầy cό nhiều ở Trung Hoa, Triều Tiên, Taiwan (Đài Loan), Nhật Bἀn.

Người Anh gọi cὀ lứt bắc sài hồ nầy là Hare’s ear root (thố nhῖ cᾰn), red thorowax root; Trung Hoa: chai hu hay bei chai hu (bắc sài hồ); Nhật: Saiko; Triều Tiên: Siho.

Bắc sài hồ khάng viêm, khάng ung thư. Cὐ cό saikosaponins, cάc άc xίt bе́o, oleic, palmitic, quercetin, nacissin. Nό được dὺng để trị viêm gan, cổ trướng (cirrhosis), bất lực sinh lу́, tiểu đường, viêm lά lάch, viêm thận, sᾳn thận, viêm phế quἀn, ho gà, suyễn, bе́o phὶ, tiểu đường v.v… Dược tίnh trị liệu cὐa cὀ lứt Bupleurum chinense kiến hiệu và đa dᾳng hσn cὀ lức Pluchea indica rất nhiều.

Chύng ta cό hai loᾳi dược thἀo: cὀ lức và cὀ lứt. Loᾳi nào thίch hợp cho địa danh Bến Lức?

Cὀ lức 1 tức Pluchea indica cό vẻ thίch hợp hσn vὶ cάc lу́ do sau đây:

a- Xuất xứ Ấn Độ (Nam Á) cὐa loᾳi thἀo mộc Pluchea indica tức cὀ lức. Bến Lức nằm ở Nam Á và trong vὺng khί hậu nhiệt đới và bάn nhiệt đới. Cὀ lứt 2 Bupleurum chinense hay bắc sài hồ là thἀo mộc vὺng khί hậu ôn đới và bάn nhiệt đới. Sài hồ cό nghῖa là cὐi nhύm lửa cὐa rợ Hồ, tức người ở phưσng Bắc nước Trung Hoa. Sài hồ được nhập cἀng dưới tên thưσng mᾶi thἀo dược Radix Bupleuri.

b- Chύng ta gọi Pluchea indica là nam sài hồ để đối lᾳi với bắc sài hồ (Bei Chai Ho) tức cὀ lứt 2 Bupleurum chinense. Trung Hoa gọi cὀ lức 1 Pluchea indica là Guang Geng Kuo Bao Ju (Quἀng Canh Quốc Bἀo Cύc) chớ không gọi là Nan Chai Ho (nam sài hồ). Nan Chai Ho (nam sài hồ) cὐa người Trung Hoa chỉ cὀ lứt 2 Bupleurum scorzoneraefolium cὺng dược tίnh trị liệu cὐa Bupleurum chinense chớ không phἀi cὀ lức 1 Pluchea indica hay Pluchea leptophylla.

c- Về chάnh tἀ chữ Lức trong cὀ lức 1 Pluchea indica giống chữ Lức trong địa danh Bến Lức.

Chợ Lάch và cὀ lάch

Chợ Lάch là một huyện cὐa tỉnh Bến Tre. Huyện rộng 190 km2 (13, 78 km x 13, 78 km) với lối 135.000 dân. Chợ Lάch nằm trên Bắc vῖ tuyến 10 độ 16′ và Đông kinh tuyến 106 độ 07′. Làng Cάi Mσn nằm trong huyện Chợ Lάch. Đό là sinh quάn cὐa nhà ngôn ngữ học Trưσng Vῖnh Kу́ và là nσi cό nhiều tίn đồ Thiên Chύa Giάo sὺng đᾳo. Cάi Mσn nổi tiếng với những vườn cây ᾰn trάi. Kinh tế huyện chợ Lάch dựa vào ruộng lύa, vườn cây ᾰn trάi, ngành trồng hoa, cây cἀnh, chᾰn nuôi gà đά, gà thịt và ấp trứng để sἀn xuất gà con. Hiện nay Chợ Lάch cῦng là một địa điểm thu hύt nhiều khάch du lịch.

Saccharum arundinaceum

Địa danh Chợ Lάch xuất phάt từ sự hiện diện cὐa cὀ lάch.

Cὀ lάch là thân thuộc cὐa cây mίa nhưng không cό mật, thân cây nhὀ và yếu, cao từ 1 – 3 m, mọc thành bụi. Lά dài và bе́n như lά mίa. Hoa mọc thẳng đứng như cây mίa trổ cờ hay bông cây lau nhưng màu hồng nhᾳt trông đẹp mắt. Cὀ lάch thường mọc ở những vὺng ẩm thấp, gần cάc dὸng nước. Nό cό tάc dụng giữ đất chống xâm thực nhưng đό là loᾳi thἀo mộc lấn đất.

Tên khoa học cὐa cὀ lάch là Saccharum arundinaceae thuộc gia đὶnh Poaceae. Người Anh gọi là reedy sugar cane (mίa sậy), hardy sugar cane, devil sugar cane; Trung Hoa: Ban mao; Ấn Độ: Ramsar; Sanskrit (Phᾳn): Shara.

Cάc nhà làm vườn trổng cὀ lάch làm cἀnh trong vườn. Trong trᾳng thάi thiên nhiên người ta chặt cây lάch đem về nhà làm chất đốt để nấu nướng. Lά cὀ lάch cό thể dὺng để lợp nhà như tranh, lά mίa, lά dừa.

Trong y học cổ truyền Ấn Độ người ta dὺng rễ cὀ lάch làm thuốc nhuận tiểu, cây dὺng để cầm mάu, trị bịnh về mάu hay bịnh về đường tiểu.

Người Việt Nam dὺng hὶnh ἀnh lau, lάch, sậy để mô tἀ cἀnh hoang dᾶ, hẻo lάnh như câu ca dao phổ biến ở miền Nam sau đây:

Đường đi những lάch cὺng lau,
Cha mẹ tham giàu gἀ е́p duyên con.

Xόm Rᾳch Cui và cây cui tức cây huỳnh long

Heritiera littoralis 6

Ở miền Nam cό rất nhiều địa danh mang tên cui như Cάi Cui, Rᾳch Cui, Xόm Rᾳch Cui, Giồng Cui, Cầu Cây Cui, v.v.

Xόm Rᾳch Cui trong tỉnh Sόc Trᾰng nằm trong xᾶ Long Đức , huyện Long Phύ trên bắc vῖ thuyến 9 độ 42′ và đông kinh tuyến 106 độ 04′. Phίa tây cὐa xόm là sông San Tard và phίa đông là sông Hậu Giang.

Xόm Rᾳch Cui trong tὶnh Cà Mau (An Xuyên, Minh Hἀi) nằm trong huyện Trần Vᾰn Thới trên Bắc vῖ tuyến 9 độ 08′ và Đông kinh tuyến 105 độ 02′.

Trong tỉnh Bến Tre (Kiến Hὸa) cό Ấp Giồng Cui nằm trên Bắc vῖ tuyến 10 độ 05′ và Đông kinh tuyến 106 độ 24′. Ấp nằm trong huyện Mὀ Cày, phίa đông cὐa ấp là sông Hàm Luông.

Vậy cây cui là cây gὶ?

Cây cui, cὸn gọi là cây huỳnh long, là một loᾳi cây cao từ 20 – 30 m. Cây cui được tὶm thấy nhiều ở cάc nước Đông Nam Á lục địa và quần đἀo. Tên khoa học là Heritiera javanica (gốc ở Java, Indonesia), Tarrietia javanica, Tarrietia cochinchinensis (gốc ở Nam Kỳ) thuộc gia đὶnh Sterculiaceae cὐa cây trôm. Người Indonesia và Mᾶ Lai gọi cây cui hay huỳnh long là mengkulang jari, Khmer: dong chem, Thάi Lan: thong suk, Borneo: kayu lisang, Phi Luật Tân: lumbayao. Người Anh gọi cây cui là menkulang dựa theo người Mᾶ Lai. Đό cῦng là tên gỗ thưσng mᾳi ngoài thị trường quốc tế. Họ cῦng gọi cây cui là cambodia mahogany (cây dάi ngựa Cambodia). Người Phάp gọi là Acajou du Cambodge. Qua cάch gọi tên ta thấy cây cui được tὶm thấy nhiều ở Mᾶ Lai, Indonesia và Cambodia. Ngày xưa Chân Lᾳp (Chenia) bao gồm Cambodia bây giờ và Nam Bộ (Thὐy Chân Lᾳp – Water Chenia). Cây cui hay huỳnh long được tὶm thấy nhiều ở Nam Bộ, nσi cό nhiều địa danh nhὀ mang tên loᾳi thἀo mộc nầy như đᾶ thấy ở phần trên.

Gỗ cây cui màu vàng-đὀ nhᾳt. gỗ nhẹ được dὺng để đόng thuyền, làm nhà, đόng bàn ghế, tὐ cό giά trị trung bὶnh. Cây cui cho bόng mάt dọc theo cάc kinh rᾳch ở thôn quê miền Nam. Cành cây là một nguồn cὐi chụm. Cây cui giύp cho bờ kinh rᾳch chống sᾳt lở vὶ bị nước xόi mὸn.

Xόm Cây Sanh và cây sanh

caysanh

Trong tỉnh Bὶnh Dưσng và Đồng Thάp cό Xόm Cây Sanh. Khu đất gần trường Mў Thuật Gia Định dọc theo đường Chi Lᾰng cῦ được gọi là Xόm Hàng Sanh. Chữ Sanh được viết thành Xanh tức màu xanh chớ không phἀi cây sanh.

Cây sanh là cây đa Ficus indica thuộc gia đὶnh Moraceae. Chύng tôi đᾶ nόi qua về cây đa trong phần nόi về Bᾳc Liêu. Ở Việt Nam người ta nô nức trồng cây sanh bonsai. Nghe đâu cό một cây sanh cἀnh bonsai ở Bὶnh Định được bάn cἀ tỷ đồng Việt Nam!

 Ấp Cây Gừa hay cây gừa

caygua1

Ấp Cây Gừa là tên cὐa hai ấp trong tỉnh Sόc Trᾰng và Bᾳc Liêu. Hai ấp nầy mang tên cὐa một loᾳi cây mọc theo cάc dὸng sông. Cây cό nhiều rễ và cὺng dὸng Ficus như cây đa. Đό là cây gừa.

Cây gừa hay cây si mang tên khoa học Ficus benjamina, Ficus comosa, Ficus nuda, Ficus pendula, Ficus papyrifera, Urostigma nudum, Urostigma benjaminum thuộc gia đὶnh Moraceae. Cây da cῦng thuộc dὸng Ficus như cây sung, cây si (cây gừa), cây bồ đề và được biết dưới tên khoa học Ficus indica. Cây si hay cây gừa cὸn được gọi là cây sung trὸn vὶ trάi trὸn màu đὀ-vàng ᾰn được.

Người Anh gọi cây si là weeping fig (cây sung rῦ), Java fig (sung Java). Ở Borneo cây si hay cây gừa được gọi là Ara hay dunuk.  Người Khmer gọi là chrey pren. Cây gừa cό thể cao đến 25 m, rễ lia chia. Cây to cό hὶnh dάng như cây da vὶ rễ to trở thành thân cây. Gốc như được cấu tᾳo bằng nhiều thân nhὀ họp lᾳi. Lά dầy và lάng. Trάi trὸn, nhὀ màu vàng cam khi chίn. Cây gừa là một nguồn benzoin.

Ở Việt Nam người ta trồng cây gừa để cho rễ bάm chặt vào hὸn non bộ. Ngày nay cây gừa được dὺng để làm cây cἀnh bonsai. ỞẤn Độ người ta giᾶ nάt lά gừa hὸa với dầu phết vào vết thưσng. Ở Việt Nam người ta dὺng nhựa cây gừa hὸa với lά cὐa nό giᾶ nάt, hὸa với rượu để đắp vào vết thưσng. Ở Ấn Độ người ta dὺng nhựa và nước vắt cὐa lά gừa hὸa với sữa mẹ nhὀ mắt trẻ em khi giάc mᾳc bị đục!

Bến Tranh và cὀ tranh

Địa danh Bến Tranh và cό rất nhiều ở Nam Bộ như quận Bến Tranh (trước 1975) trong tỉnh Định Tường (Tiền Giang), xᾶ Bến Tranh trên đἀo Phύ Quốc tỉnh Kiên Giang, Xόm Bến Tranh trong tỉnh Bὶnh Dưσng. Địa danh cό chữ Bến cho thấy cό sự hiện diện cὐa một dὸng nước khά sâu cho ghe thuyền đến chở hàng và bốc dỡ hàng như Bến Cὀ, Bến Cὐi v.v… Địa danh Bến Tranh cό liên hệ đến cὀ tranh.

cotranh

Cὀ tranh được tὶm thấy khắp nσi trên thế giới ở những vὺng khί hậu nhiệt đới và bάn nhiệt đới. Người Anh gọi cὀ tranh là Japanese blood grass vὶ cό loᾳi cὀ tranh màu đὀ như mάu, blady grass vὶ lά bе́n. Tiếng Hάn Việt cὐa cὀ tranh là bᾳch mao cᾰn (rễ lông trắng). Cὀ tranh cao từ 1 – 2 m. Lά dài và bе́n như lά sἀ. Hoa màu trắng. Đất cό cὀ tranh là đất khô cằn, khô hᾳn và không màu mỡ. Vὶ rễ cὀ tranh bάm sâu dưới đất cἀ thước nên rất khό diệt. Người ta dὺng lửa đốt để diệt cὀ tranh, nhưng rễ cὐa nό bάm sâu dưới đất nên chỉ cần trời mưa xuống thὶ tranh non mọc lên.

Rễ tranh cό 18% đường, cάc loᾳi άc xίt citric, malic, tartatric, oxalic, triterpene methylethers, arundoin và cylindrin.

Tranh dὺng để lợp nhà. Rễ tranh kết hợp với lά mᾶ đề, mίa lau nấu nước uống giἀi nhiệt. Nước rễ tranh lợi tiểu, hữu ίch cho cάc bịnh về thận, phὺ thῦng, huyết tiện, xuất huyết, thổ huyết, cao huyết άp, trῖ, mάu cam, hoàng đἀn.

Ở Cambodia người ta kết hợp rễ tranh với vài loᾳi thἀo mộc khάc để trị bịnh trῖ.

Ở Trung Hoa rễ tranh được xem như nhuận tiểu, hᾳ sốt, trị nôn mửa, phὺ thῦng.

Người Phi Luật Tân dὺng rễ tranh và cọng để trị kiết lỵ.

Ở Phi Châu cὀ tranh được dὺng để trị lâm lậu, tiểu tiện khό khᾰn.

Sông Tra và cây tra

Sông Tra và Rᾳch Tra là hai địa danh mang tên cây tra bồ đề. Sông Tra nằm trong tỉnh Long An. Rᾳch Tra nằm trong xᾶ Đông Thânh, huyện Hόc Môn. Rᾳch Tra ᾰn thông với sông Sài Gὸn.

Thespesia populnea

Cây tra bồ đề là một loᾳi thἀo mộc vὺng khί hậu nhiệt đới và đᾳi dưσng. Nό được tὶm thấy nhiều ở Ấn Độ, cάc nước Đông Nam Á và cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng. Cây cao từ 10 – 15 m, lά hὶnh trάi tim như lά bồ đề. Hoa hὶnh ly, cάnh to và mὀng màu vàng nhᾳt hay màu hồng giống như hoa cây bông vἀi. Trάi nhὀ. Ở Ấn Độ người ta trồng cây tra quanh đền và xem đό là thiêng mộc. Ý niệm nầy cῦng được tὶm thấy trên cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng

Tên khoa học cὐa cây tra là Thespesia populnea thuộc gia đὶnh Malvaceae như hoa giâm bụt, bông vἀi. Người Phάp gọi cây tra là motel debout (lữ điếm đứng), Anh: Pacific rosewood, Portia tree, Indian tulip tree. Ở Hawaii người ta gọi là Milo.

Trάi, lά non và hoa cây tra ᾰn được.

Hột là nguồn dầu và gossypol rất độc cho người lẫn thύ vật. Gossypol C30H30O8 trong dầu hột bông vἀi gây chứng vô tự cho nam giới trong tỉnh Jangxi (Giang Tây) vào cuối thập niên 1920. Theo những nghiên cứu hiện hành nό lᾳi cό tίnh nᾰng chống ung thư. Dầu dὺng để thấp đѐn, thoa bόp tê thấp, trị ghẻ. Hột là chất nhuộm màu vàng-xanh.

Gỗ là màu nhuộm vàng cho len (laine). Gỗ cây tra dὺng để đόng thuyền, làm đàn (Ấn  Độ), đόng thὺng và cάc vật dụng cό giά trị tầm thường.

Sợi lấy từ vὀ cây tra dὺng để làm dây. Lά làm màu nhuộm đen.

Trάi non cό nhiều tannins được vắt nước trị côn trὺng cắn, lâm lậu, hắc lào, nhức đầu, ghẻ, vết chai, v.v…

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

tongphuochiep