Đọc khoảng: 11 phút

Hổ được nhiều bàn tay khéo léo, nhiều khối óc thông minh, thi nhau đánh bóng, phết sơn, tô màu. Xanh, vàng, trắng, đỏ, đen. Hoa cả mắt. Chắc nhờ vậy mà hoá thiêng. Ngoài cái vỏ loè loẹt, hổ còn được đám con thần cháu thánh ban cho một cái oai thật to. To gấp mấy lần cái chuồng sở thú. Nhe răng, giơ vuốt, gầm thét, ai mà chả sợ. Nhưng đáng sợ nhất là hổ có tài ẩn hiện dưới nhiều bí danh. Hôm nay là hùm, ngày mai là cọp. Chỗ này là kễnh, nơi kia là khái. Thỉnh thoảng nổi hứng tự xưng là ông. Ông ba mươi đàng hoàng, chứ không phải thằng này, con nọ. Đứa nào hỗn láo thì ông xé xác, nuốt tươi cho biết… nanh vuốt của ông! Trong hang tối mắt thần khi đã quắc, là khiến cho mọi vật đều im hơi (Thế Lữ). Hèn gì người ta khiếp sợ ông đến độ phải rủ nhau tôn thờ, lạy lục, cầu khẩn. Nhưng thói đời vốn kiêu bạc, giả dối. Trước đám đông, đứa nào cũng sợ ông nhưng quay mặt đi thì có đứa… sợ đếch gì nó! Nó chẳng qua cũng chỉ là… đồ súc vật. Có quái gì mà phải sợ ! Lúc hết thời, bị hạ bệ thì hổ bị phỉ nhổ là đồ mã, là… cọp giấy. Thậm chí hổ còn bị khinh là ngu. Bị anh nhà quê phạng cho một trận nên thân. Tha hồ dậu đổ bìm leo. Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu!

Ngày xưa, hổ là biểu tượng của sức mạnh, quyền uy của vua chúa.

Lúc Vua (Lê Lợi) sinh, ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm. Ngay từ bé, Vua đã có vẻ tinh anh, nghiêm nghị, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, mặt rồng, vai tả có bảy nốt ruồi, đi như rồng, bước như hổ, lông tóc đầy người, tiếng như chuông lớn, ngồi xổm như cọp. Người biết đoán là tướng rất quý…(Nguyễn Diên Niên, Lê Văn Uông, Lam Sơn thực lục, Ty Văn Hoá Thanh Hoá, 1976, tr. 236).

Ôi ! tài phun châu nhả ngọc, phượng múa rồng bay của người cầm bút ! Đi như rồng, bước như hổ (Long hành, hổ bộ) đúng là tướng tốt của bậc vua chúa. Ngồi xổm như cọp, vai tả có bảy nốt ruồi. Oai như con hổ màu vàng, ngồi giữa, trên đầu có chòm sao thất tinh của tranh “ngũ hổ “. Hình ảnh của một vị trung ương hoàng đế. Cậu bé Lê Lợi có đầy đủ các dấu hiệu của người sẽ làm vua!

Không phải chỉ có vua chúa mới thích hổ. Dân đen cũng thích. Muốn cho trẻ con khoẻ mạnh, không ốm đau quặt quẹo, cha mẹ cho nó đeo trước ngực một chiếc răng hay một cái móng hổ. Người lớn đôi lúc lăn lộn quá trớn, nhức khớp mỏi lưng thì kháo nhau tẩm bổ bằng cao hổ cốt ( xương hổ).

Xin nhảy qua chuyện lặt vặt, vớ vẩn. Ai cũng biết rằng hầm, hùm, cọp, kễnh, khái, ông ba mươi đều là… con hổ. Nhưng, mấy cái tên này nghĩa là gì, từ đâu ra ?

Tên hầm ít dùng. Edmond Nordemann cho rằng Hầm (Hang hầm ai dám mó tay) là tên gọi bắt chước tiếng gầm của hổ. (Edmond Nordemann, Chrestomathie Annamite (Quảng tập viêm văn), 1898, Hội Nhà Văn, 2006).

Ngày nay quen dùng tên hùm.
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay (Hồ Xuân Hương)
Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu

Đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn (Ca dao)

Hùm đến từ chữ Hùng (bộ Chuy), nghĩa là mạnh. Người hùng Hoàng Hoa Thám được người đời gọi là Hùm thiêng Yên Thế. Tiếng Việt có từ kép hùng hổ. Hùng đi với hổ chỉ là ngẫu nhiên hay cố ý? Chữ Hùng còn có nghĩa là loài thú đực. Có lẽ vì vậy mà người ta không gọi các bà, các cô bẻ gẫy sừng trâu, thỏ thẻ như sấm vang là hùm. Quý bà chỉ được tôn vinh một cách khiêm tốn là…sư tử cái hay cọp cái thôi. Mĩ danh rất thơ mộng, ai nghe mà chả… run động.
Mèo tha miếng thịt thì đòi
Kễnh tha con lợn mắt coi chừng chừng
Kễnh là phương ngữ miền Bắc, được đồng bào miền núi dùng để gọi hổ để tỏ lòng kính sợ (Génibrel). Tên Cọp và Kễnh từ đâu ra?

 Chữ Cụ (bộ Tâm) : Kinh hãi, kính sợ, hạch dọa người ta (Đào Duy Anh).

– Chữ Củ (bộ Tẩu) : Tả cái dáng vũ dũng (Thiều Chửu). Mạnh mẽ (Đào Duy Anh).

Hổ là con vật mạnh mẽ, làm cho người ta phải kinh hãi, kính sợ. Có thể suy ra được rằng Cụ đã được Việt hoá thành Cọp  Củ thành Kễnh.

Huỳnh Tịnh Của đưa ra một tên gọi khác của hổ là Khái. Theo Đặng Thanh Hoà thì Khái là phương ngữ miền Trung (Từ điển phương ngữ tiếng Việt, nxb Đà Nẵng, 2005). Tác giả dẫn chứng bằng câu ca dao : Núi Ngũ hổ hình như năm khái. Nhưng, Khái nghĩa là gì? Theo Thiều Chửu, Khái (bộ Thạch) nghĩa là cúi lạy. Tục gọi dập đầu lạy là khái đầu. Theo nghĩa này thì Khái là con hổ được thờ, được tín ngưỡng dân gian vái lạy.

Người miền Nam hay đưa Ông Kẹ ra hù doạ con nít, làm cho con nít sợ hãi.

Huỳnh Tịnh Của giải thích Ông Kẹ: Tưởng là ông Trị, là người có công dày với đức Cao Hoàng, đến khi phục quấc, người ban cho một cái bài miễn tử, bổn tánh ông ấy thật thà, hay khi bất bình, ai nấy đều sợ, cho nên có tiếng nhát con nít rằng: ý hà ông kẹ! v.v.

Tra tìm trong chính sử của nhà Nguyễn thời Gia Long, không thấy công thần nào tên Trị. Vả lại, Huỳnh Tịnh Của cũng không cho thấy ông Kẹ có liên hệ gì với ông Trị. Giải thích của Huỳnh Tịnh Của trúc trắc, không hợp lí.

Kẹ nên được hiểu là một âm Việt khác của Cụ (nghĩa là kinh hãi, kính sợ, hạch dọa). Ông Kẹ được đưa ra để hạch doạ con nít, làm cho con nít kinh hãi. Ông Kẹ tương đương với ông Cọp. Cả hai ông đều do cùng một Cụ đẻ ra.

Người xưa đặt tên hùm, cọp, kẹ, kễnh, khái để gọi mấy con hổ mạnh mẽ, ai cũng sợ, được tín ngưỡng dân gian dập đầu vái lạy. Ngoài mấy tên có gốc Hán kể trên, hổ còn có tên thuần Việt là ông ba mươi. Do đâu mà có cái tên này ?

Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931) giải thích : “Ba mươi là tên con cọp. Lệ ngày xưa ai bắt được cọp thì thưởng ba mươi quan tiền, và phạt làm lệ ba mươi roi. Lại có người nói hôm ba mươi tối trời, cọp hay ra quấy nhiễu, cho nên thành tên ấy”.

Có người đào sâu vấn đề hơn, cho biết Sự tích ông ba mươi có liên quan đến nhân vật Phạm Nhĩ :

“Đó là vì khi có người nào săn được hổ thì nhà vua có lệ thưởng cho ba mươi quan tiền vì đã trừ được cho loài người một con thú hung ác. Nhưng vua cũng bắt người đó phải chịu ba mươi hèo để cho vong hồn Phạm Nhĩ được thoả mà không tác quái nữa.

Ngày nay còn có câu:

Trời sinh ra hùm có vây,
Hùm mà có cánh, hùm bay lên trời để nhớ cuộc náo động Thiên cung của Phạm Nhĩ xưa kia”. (Truyện cổ Việt Nam, tập 1, Văn Hoá, 1983, tr. 171).

Đúng là truyện hùm có vây của trẻ con. Nghe cho vui thì tạm được. Nhưng, đem ra làm bằng chứng để giải nghĩa một tên gọi của dân gian thì e rằng hơi khiên cưỡng. Mặt khác, chưa thấy sách vở của người lớn ghi chép chuyện vua nào “thưởng ba mươi quan tiền, đồng thời phạt ba mươi hèo” cho người giết được cọp. Vừa thưởng vừa phạt, vừa đánh vừa xoa. Thời phong kiến, nước ta chưa hề có luật lệ nào ba phải đến mức “ba mươi” như vậy.

Ngày xưa, tại các thôn xóm xa xôi hẻo lánh, gần núi rừng, thỉnh thoảng có người bị cọp tha. Tai hoạ khủng khiếp như vậy nhưng dân có kêu than, cầu cứu bề trên cũng vô ích. Quan nào cũng còn bận… việc quan. Sống chết mặc bay. Dân làng phải tự lo phòng vệ. Liều mạng rủ nhau đi săn bắt cọp. May thì giết được cọp. Rủi thì bị cọp giết.

Dường như nhóm Khai Trí Tiến Đức và tác giả truyện Phạm Nhĩ đã thêm mắm thêm muối hơi nhiều vào… một tục lệ của làng Phương Lâm.

Làng Phương Lâm (Hà Nam) thờ hai anh em Hoàng Đình Thụ và Hoàng Đình Độ. Phía trước đình làng có một gò đất nhỏ. Xưa kia nơi đây cây cối rậm rạp, thường có hổ về.

“Theo các cụ già ở làng Phương Lâm thì thường đến đêm 30 tháng chạp, năm nào cũng có hổ về phục tại gò đất trước cửa đình để chầu hai tướng họ Hoàng, gần sáng thì lủi vào rừng. Thấy vậy, nhân dân địa phương khi làm lễ ra đình cúng tất niên thường đem xôi, thịt lợn, chuối ra đặt tại gò đất cho hổ ăn (…).

Có lần hổ xuống “cánh đồng bò” là nơi chuyên môn chăn bò của thôn Chanh bị mắc bẫy (vì dân làng Chanh bị nhiều lần mất bò do hổ vồ đem đi). Con hổ bị lột da. Biết được tin ấy, dân Phương Lâm sang làng Chanh xin chuộc bộ da hổ đem về đình. Hàng năm cứ đến dịp 30 tết lại nhồi trấu vào trong, đem đặt tại gò đất như cũ, để giữ lại tục lệ xưa mà làng đã thực hiện”(Hồ Đức Thọ, Lệ làng Việt Nam, Hà Nội, 1999, tr. 45).

Dân làng Phương Lâm có tục cúng hổ vào đêm ba mươi tháng chạp. Để tránh phạm huý, dân làng gọi hổ là ông ba mươiBa mươi nghĩa là ngày ba mươi tết của làng Phương Lâm, chứ không phải ba mươi quan tiền hay ba mươi hèo của nhà vua.

***

Nói đến cọp, xin thêm vài câu để phân biệt… cọp coi hát và coi hát cọp.

Xóm Khoen Tà Tưng của vùng đất Cà Mau, thời còn “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, mời một gánh hát về “Hát bội giữa rừng“, mua vui cho bà con. Hát xong, gánh hát rời đi nơi khác…

“Chừng một hai tháng sau, cái sân khấu nọ tốc nóc, bao nhiêu nọc tràm làm hàng rào đã lung lay ngã nghiêng trên dòng nước, chừng đó người ta thấy một đôi ông cọp thường lui tới ngồi cú rũ dựa gốc cây gừa bên bờ rạch. Nhứt là đêm có trăng, mấy ổng le lưỡi dài thòn, như nhớ tiếc bao nhiêu con mồi ngon, bao nhiêu tiếng kèn tiếng trống. Biết đâu về sau nầy mấy tiếng “coi hát cọp” là do sự tích của mấy ổng hồi xưa, không chừng!”. (Sơn Nam, Hát bội giữa rừng).

Sơn Nam kể truyện cọp coi hát trong rừng. Còn ai muốn coi hát cọp thì phải ở thành phố. Sơn Nam nhầm lẫn cọp coi hát với coi hát cọp. Ngày xưa và cả ngày nay, nhiều rạp hát, rạp chiếu bóng có lệ cho trẻ con (khoảng dưới 10 tuổi) đi theo cha mẹ, khỏi phải mua vé. Đi xem chiếu bóng hay xem hát người lớn thường dắt thêm trẻ con. Ngoài Hà Nội gọi là (trẻ con được) kèm. Trong Sài Gòn gọi là (trẻ con được coi hát) cọpCọp là âm rút gọn của accompagné (tiếng Pháp, nghĩa là kèm). Thời Pháp, coi hát cọp nghĩa là coi hát không mất tiền. Sau này tiếng lóng cọp được dùng với nghĩa rộng, chỉ chung những cái không phải bỏ tiền ra mua. Anh Tám Sạc-Ne ngày ngày đọc báo cọp. Thằng Năm Đa- Kao thỉnh thoảng được bạn bè cho ăn cọp

Tôi còn giữ hai kỉ niệm coi hát cọp. Một cái muốn nhớ, một cái khó quên.

Chẳng hiểu ma dẫn lối quỷ đưa đường ra sao mà hôm ấy (năm 1953) cái thằng tôi lỏi tì lại nổi hứng đi chơi về phía nhà Bác Cổ (Bảo tàng lịch sử Hà Nội bây giờ). Định bụng nếu chán thì leo lên đê sông Hồng bên cạnh hóng mát. Từ nhà đi thẳng một mạch hết phố Ngô Quyền, rẽ tay phải là đến nhà Hát Lớn, nhà Bác Cổ. Quái lạ, nhà Hát Lớn hôm nay có chuyện gì mà người đứng đầy thế này? Tôi tới gần, lẩm nhẩm đọc hàng chữ to tướng trên tấm vải chăng ngang. À, có đoàn Gió Nam (ban Thăng Long, Trần Văn Trạch, Mỹ An…) từ Sài Gòn ra. Người ta đang lũ lượt xếp hàng vào nghe “nhạc cải cách”. Thì cứ thử liều xem. Có mất mát gì đâu. Tôi chen lẫn vào đám đông, đứng cạnh một ông đi một mình. “Ông kèm cháu với”. Ông mỉm cười, gật đầu cho tôi đi sát bên cạnh. Lúc đưa vé cho người kiểm soát, ông thân mật để tay lên vai tôi. Thế là trót lọt. Lần đầu tiên trong đời tôi được xem hát. Nhớ mãi cảnh Khánh Ngọc đứng trên lầu nghe Trần Văn Trạch hát Tình Ca của Phạm Duy.

Năm 1995, vợ chồng tôi về chơi Hà Nội. Sáng chủ nhật la cà quanh Bờ Hồ. Mỏi chân, định tìm ghế ngồi nghỉ. Bỗng thấy rạp Thăng Long trước mặt. A ha! Xem múa rối nước tại Hà Nội hẳn là phải thú vị hơn lần xem tại Lyon bên Pháp. Nhân tiện được ngồi thư giãn… Rạp hát đông trẻ con, ồn ào vui nhộn. Chúng tôi gợi chuyện một ông ngồi bên cạnh, kèm đứa con nhỏ. Lát sau mới biết vé của chúng tôi sao mà đắt thế. Hỏi người đưa chỗ. Ông này ấp úng bảo chờ để đi hỏi thủ trưởng. Một lát sau ông quay lại cho biết :

– Vì hai bác không kèm trẻ em.

Tôi cười :

– Kèm thêm trẻ em rẻ hơn là đi một mình à?

– Dạ, đúng như vậy đấy!

Nói xong, ông bỏ đi. Ông ngồi bên cạnh nói như để an ủi vợ chồng tôi :

– Ở đây như vậy đấy, hai bác ạ. Hai bác ở nước ngoài về, phải không?

Một hôm bỗng nhớ mấy điệu hát chèo, tôi lấy cái băng mua tại rạp Thăng Long ra nghe. Băng giới thiệu đoàn múa rối nước, bằng tiếng Anh. Không có nhạc. Chán mớ đời!

***

Bọn học trò lười chúng tôi còn nuôi một thứ cọp khác. Đó là cọp bài của nhau. Cọp, nói đủ là cọp-dê, là do copier (tiếng Pháp, nghĩa là sao, chép) được Việt hoá. Tiếng lóng ngày nay gọi hàng giả là cọpCọp này cũng là copier. Chính xác hơn thì Cọp của thời kinh tế thị trường là copy (tiếng Anh, đồng nghĩa với copier của tiếng Pháp).

Bà con ta bên Cali rất sợ một giống cọp mới. Cọp này là mấy ông Cop (cảnh sát giao thông). Xe đang phóng vùn vụt trên xa lộ. Bỗng giật mình. Liếc nhìn kính chiếu hậu. Đèn nháy tưng bừng. Thế là…bị cọp vồ mất bóp rồi, má bầy nhỏ ơi! Lại phải thắt lưng buộc bụng, nhịn bia, nhịn nhậu đến bao giờ đây? Yêng hùng xa lộ Biên Hoà năm xưa lầm bầm, chửi thề một mình. Lát sau, lẳng lặng nhận giấy phạt, thận trọng cất vào túi. Rồ máy, nhấn ga. Phóng… dưới tốc độ cho phép.

***

Ai cũng sợ cọp. Nhưng… cọp mà ăn nhằm gì!

“Đức Khổng Tử khi sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà khóc ở ngoài đồng, nghe thê thảm lắm. Ngài nói rằng: Người đàn bà này xem như trong nhà có trùng tang. Rồi sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa rằng: Ở đây lắm hổ, bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, bây giờ con tôi lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ạ! Thầy Tử Cống bảo: Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác? Người đàn bà nói: Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc, tàn bạo như các nơi khác.

Thầy Tử Cống đem câu chuyện thưa lại với Đức Khổng Tử. Đức Khổng Tử nói: Các ngươi nhớ đây: Chính sách hà khắc khốc hại hơn là hổ!”.

(Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, Thọ Xuân, 1962).

***

Thời Pháp có bà me tây khoe với người tình vừa đi chơi vườn bách thú Hà Nội. Bà thấy con : tí ti dôn, tí ti noa, luý măng dê toa, măng dê moa, măng dê tú lơ mông (tí màu vàng, tí màu đen, nó ăn thịt mày, ăn thịt tao, ăn thịt mọi người). Anh chàng cột nhà cháy nhe răng cười, hiểu liền là người yêu tả con cọp. Thời đó dân Hà Nội gọi những người thất nghiệp, lang thang trong vườn bách thú là làm nghề “xỉa răng cọp”.

***

Tại một hàng bán đồ mã, có hai con cọp giấy ngồi xổm bàn chuyện thế sự. Bỗng chú cọp con vuốt hai sợi ria mép, lên giọng với bác cọp già:

– Loài người rõ là ngu dại. Như ta đây, màu mè sặc sỡ, dáng vẻ thật oai, giá lại rẻ, đã từng một thời tạo uy tín trên thị trường mê tín, thế mà không hiểu tại sao từ hai ba năm nay lại bị tẩy chay, ế ẩm. Chẳng lẽ ta mất thiêng? Bọn ngu dại lại quay về với đám già nua, giá đắt, đã từng bị ta hất cẳng ra khỏi thị trường.

Bác cọp già, mắt chẳng thèm ngó cọp con, móm mém thều thào:

– Bọn nó không ngu đâu. Chẳng qua lúc túng thì phải dùng hàng rẻ tiền. Bây giờ khá rồi. Cúng lễ phải tỏ lòng thành. Đồ cúng phải đàng hoàng. Bọn ta tuy già nua, kém loè loẹt, nhưng được làm bằng giấy tốt, phẩm bền. Bọn bay chỉ hào nhoáng bề ngoài nhưng bên trong chỉ là mớ giấy dùng cho công việc chẳng thơm tho gì của loài người. Bọn bay năm xưa nhục mạ chúng ta. Rốt cuộc bây giờ cũng chỉ là một lũ cọp giấy, cọp con. Tất cả chỉ là chuyện trâu buộc ghét trâu ăn thôi. Ta nói cho mi biết : Cùng là cọp giấy nhưng phẩm chất khác nhau chứ!

Cọp con bỗng nhận ra mình chỉ là cọp giấy hạng tồi, rẻ tiền. Hổ phụ sinh khuyển tử (bố hổ sinh con chó)… Mình chỉ là đám hậu sinh… khả ố !
(Lyon, Tết Canh Dần, 2010)

Nguyễn Dư

Theo Chim Việt Cành Nam