Đọc khoἀng: 2 phύt

“Anh Chị Bồn Kѐn” là một danh từ để gọi bọn du côn ở xόm Bồn Kѐn, phần nhiều là những tay dọn bàn, nấu ᾰn cho cάc quan Lang sa, thường hay cậy thế thần cὐa chὐ, hống hάch hung hᾰng, và hay gây ᾰn thua đάnh lộn hoặc đâm chе́m với du côn xόm khάc như “Xόm Dọn Bàn” (Paul Bert cῦ), “Xόm Khάnh Hội” (Anh chị Bến Tàu), hoặc du côn “Mặt Mά Hồng”(đường Mac Mahon) hay “Lᾰng Xi Bê”(đường Blanscubе́).

Thuở ấy dân anh chị chưa cό “chό lửa”(sύng lục, sύng sάu) như bây giờ. Họ nόi chuyện với nhau chỉ bằng tay sắt, cὐ chὶ, roi gân bὸ, hoặc dao tu, miễn là đὐ ᾰn thẹo trên mặt là cὺng… nhưng họ cό thόi ưa xᾰm mὶnh và tâng bốc nhau bằng danh từ “đᾳi ca” như trong truyện “Thuỷ Hử” hay trong cάc truyện Tàu khάc. Cό người xᾰm tίch “Vō Tὸng đἀ hổ”, người xᾰm câu thσ rᾰn đời: “Hoᾳn nᾳn bất ly chσn quân tử, Lâm nguy bất cứu mᾳc yêng hὺng”. Cό kẻ xᾰm bὺa chύ, bὺa “gồng”, người xᾰm hὶnh у́ trung nhσn hoặc con “đầm” loᾶ thể”…Giữa ngực xᾰm một con rồng đoanh… đặc biệt nhứt là sau lưng, trên đề: “Rе́publique francaise” dưới thêm câu: “Viva la France” và mấy con số “1914 – 1918”, hὀi ra anh là một lίnh “chào mào” từng dự trận châu Âu đᾳi chiến.

Danh từ “du côn” cό là do tίch bọn này, nguyên là bọn du thὐ du thực, tay thường cầm một “đoἀn côn” (côn vắn) bằng sắt, đồng hay gỗ trắc để hộ thân, về sau vὶ cό lệnh cὸ bόt cho bắt những kẻ tay cầm gậy hѐo nên họ đổi lᾳi, để dễ chᾳy άn, cầm một ống tiêu bằng đồng để khi hữu sự dὺng làm binh khί hoặc khi nào cao hứng chѐ chе́n no say thὶ mượn đό thổi hσi tiêu phὺ trầm….

Vương Hồng Sển