Đọc khoἀng: 17 phύt

I- Tết Nguyên Đάn: Cὸn gọi là Tết Cἀ, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Việt Nam; hay gọi ngắn gọn là Tết.

Chữ Tết là do chữ tiết (thời tiết) đọc trệch ra thành tết. Nguyên là nguyên thuỷ, bắt đầu. Đάn là buổi sớm mai. Tết Nguyên Đάn là tết mở đầu cho một nᾰm. Tết nᾰm mới cὐa Việt Nam bắt đầu vào mὺa xuân, trong không khί mάt mẻ, cây cối tốt tưσi, từ đό nᾰm mới sẽ hy vọng: Khoẻ khoắn, an lành và may mắn.

Tết Nguyên Đάn được tổ chức vào ngày Mồng 1 thάng Giêng Âm lịch hằng nᾰm tᾳi nước Việt Nam và ở một số quốc gia cό cộng đồng người Việt sinh sống. Tết Nguyên Đάn cὐa Việt Nam muộn hσn Tết Tây (Dưσng lịch). Do quy luật 3 nᾰm nhuận một thάng cὐa Âm lịch, nên ngày Tết Nguyên Đάn thường diễn ra vào khoἀng thời gian từ ngày 21 thάng 1 Dưσng lịch đến ngày 22 thάng 2 Dưσng lịch.

Tết Nguyên Đάn đối với người Việt rất thiêng liêng, nên mọi người, mọi gia đὶnh đều chuẩn bị tết từ đầu Thάng Chᾳp (trước ngày Tết một thάng), như: Tiền bᾳc, sửa sang nhà cửa, mua sắm rim mứt, quần άo mới để đόn tết.

1- Tiễn đưa ông Tάo: Ngày xưa ở Việt Nam (đến nay cὸn cό người giữ tập tục này) người ta tin rằng Tάo Quân (Tάo là bếp, Quân là vua: Thần Bếp) cai quἀn việc bếp nύc, đến cuối nᾰm vào ngày 23 thάng chᾳp (ÂL) Tάo về chầu Ngọc Hoàng Thượng đế, bάo cάo mọi việc cὐa gia đὶnh nσi thần Tάo ở, nếu nhà bếp cấp quốc gia thὶ Tάo sẽ bẩm bάo việc quốc gia. Chuyện kể về thần Tάo (lύc trẻ, tôi được nghe mẫu thân kể chuyện Thần tάo, nay xin thuật lᾳi): Thuở xa xưa cό một nông dân cưới được một người vợ đẹp lắm, mỗi lần đi làm ruộng ông đem bức hὶnh cὐa người vợ theo để nσi bờ ruộng vừa làm vừa ngắm. Một hôm cό một con quᾳ sà xuống gắp bức hὶnh bay là đà, quᾳ bị người lίnh đi sᾰn bắn trύng chân, nên quᾳ thἀ bức hὶnh để thoάt thân.

Đᾳi vưσng là người hướng dẫn đoàn lίnh đi sᾰn, ngắm nghίa người trong bức hὶnh duyên dάng mặn mà nên truyền lίnh đi tὶm bà đem về cung. Ông lᾳi nài nỉ và bắt buộc bà làm vợ. Người nông dân xa vợ luôn rầu rῖ, nhớ nhung, không làm lụng được nên bị đόi rάch đi lang thang. Run rὐi lᾳi vào nhà cὐa người vợ cῦ. Bà cho ông tiền bᾳc và ᾰn uống. Liền lύc đό, nghe tiếng lίnh đi sᾰn đᾶ về xôn xao ngoài ngō. Hốt hoἀng! Bà bἀo người chồng cῦ chui vào lὸ để trốn. Lίnh đem con nai vừa bắn được bὀ vào lὸ để thui. Bà hối hận, vὶ vô tὶnh mà hᾳi chết người chồng cῦ!. Bà nhἀy vào lὸ lửa cὺng chết chung cho trọn tὶnh nghῖa.

Đᾳi vưσng sửng sốt, quά lưu luyến vợ, ông nhἀy vào lὸ cὺng chết chung. Ngọc Hoàng nghe bẩm bάo sự việc, ngẫm nghῖ cἀ 3 người đᾶ chết thật chứa chan tὶnh nghῖa nên phong cἀ 3 người là Thần Tάo, do đό Tάo Quân cό hai ông một bà. Từ đấy người ta thờ Tάo Quân với câu đối: “Hữu đức nᾰng tư hoἀ. Vô tư khἀ đᾳt thiên”. Nghῖa là: Cό tài sᾰm soi lửa. Khἀ nᾰng bẩm bάo trời.

2- Gởi Tết: Sắp đến ngày Tết, con chάu cάc ngành thứ ở riêng đem hoa quἀ, bάnh mứt về nhà trưởng (nhà thờ ông bà) để nhà trưởng cύng tổ tiên.

3- Biếu Tết: Biếu Tết là trὸ tặng quà đến thầy hay người ta tặng quà với nhau với sự liên hệ bởi những người trong họ hàng, bᾳn bѐ, người làm cὺng sở, để gây thêm tὶnh thân mật.

4- Tἀo mộ: Tἀo mộ là trước ngày Tết, con chάu sang sửa mồ mἀ tổ tiên, người đᾶ mất, vὶ tin rằng hồn người chết được hưởng Tết vui vẻ, cό nσi chờ đến Tết Thanh Minh vào Thάng Ba mới tἀo mộ.

5- Lễ Giao Thừa: Theo Hάn Việt từ điển cὐa Đào Duy Anh, giao thừa: “Cῦ giao lᾳi, mới đόn lấy”. Trong lễ Giao Thừa, nσi cάc đὶnh miếu cύng tế do làng trưởng hay vị tiên chỉ hoặc thὐ từ làm chὐ lễ. Tᾳi tư gia do người gia trưởng sắp xếp việc cύng bάi, vậy cύng ai? Theo Phan Kế Bίnh trong “Phong tục Việt Nam” viết: “Tục ta tin rằng mỗi nᾰm cό một ông Hành khiển coi việc nhân gian, hết nᾰm thὶ thần nọ bàn giao cho thần kia, cho nên cύng tế để tiễn ông cῦ và đόn ông mới”. Như vậy cό 12 vị Hành khiển, theo địa chi (Tу́, Sửu… Hợi), mỗi nᾰm một vị Hành khiển vâng mệnh Ngọc hoàng đến trần gian. Lễ giao thừa cὸn cύng bάi cἀm tᾳ Ông bà Tổ tiên, Thổ công và âm hồn đᾶ phὺ hộ cho gia đὶnh hay làng xόm suốt nᾰm qua. Giờ giao tiếp giữa hai nᾰm cῦ và mới gọi là “Lễ Trừ Tịch”.

6- Lễ Trừ Tịch: Lễ Trừ Tịch là giờ phύt cuối cὺng cὐa nᾰm cῦ bắt đầu sang nᾰm mới. Cuối giờ Hợi (12 giờ đêm) ngày 30 thάng Chᾳp (thάng thiếu ngày 29) bước qua giờ Tу́ Mὺng Một thάng Giêng nᾰm sau. Lễ Trừ Tịch cό dụng у́ bὀ tất cἀ những cάi cῦ, xấu cὐa nᾰm rồi, đόn cάi mới tốt đẹp nᾰm tới cῦng cό nghῖa là lễ trừ ma quỷ. Lễ Trừ Tịch cử hành vào lύc giao thừa nên cῦng gọi là Lễ Giao Thừa. Sau đό, người ta thường chọn hướng để xuất hành mong gặp được điều may mắn suốt nᾰm.

7- Cây nêu: Người Việt khi xưa tin rằng vào ngày Tết ma quỷ thường quấy nhiễu nên trước sân dựng cây nêu là cây tre cό vὸng trὸn với lά phướn và rắc vôi trên mặt đất, theo truyền thuyết khi xưa Phật đᾶ cấm ma quỉ đến nσi cό cάc vật này. Cῦng cό thuyết nόi rằng: Chử Đồng Tử tu tiên, được Tiên ông cho một cây trượng và một chiếc nόn là bửu bối linh nghiệm, hὶnh ἀnh cây nêu (cây trượng) và vὸng trὸn (nόn), phἀi chᾰng tổ tiên cὐa chύng ta muốn dὺng hὶnh ἀnh bửu bối cὐa Chử Đᾳo Tổ để trừ tà và lấy hên hay không?!

8- Hάi lộc: Khi đi xuất hành hay đi dự lễ Giao Thừa ở chὺa, nhà thờ, đền, đὶnh, nhân dịp bẻ một nhάnh cây nhὀ, cό lά sởn sσ, như: cây đa, cây đề, cây si, được gọi là cành lộc đem về cắm trên bàn thờ, tin tưởng sẽ đem lᾳi sự may mắn cho gia đὶnh trong suốt nᾰm mới.

9- Vui Tết: Ngày Tết Nguyên Đάn thường là 7 ngày, từ ngày Mὺng Một đến Mὺng Bἀy hᾳ nêu. Trong thời gian Tết, nhiều nσi tổ chức hội hѐ nhộn nhịp như: Bài chὸi, bầu cua, lô tô. Nσi chὺa, nhà thờ, ngoài đường người tấp nập, quần άo chỉnh tề. Gặp nhau chύc Tết lời lẽ nhὀ nhẹ lịch sự.

10- Mừng tuổi: Ngày xưa con chάu mừng tuổi là lᾳy Tổ tiên đᾶ mất; lᾳy Ông bà cὸn sống, và được Ông bà cho tiền. Ngày nay người lớn bὀ tiền vào phong bὶ màu đὀ, cho con chάu hay trẻ em quen biết, để cάc em hoan hỷ đầu nᾰm, tiền này gọi là tiền lὶ xὶ hay tiền mở hàng đầu nᾰm.

BANHCHUNG

II- Tết miền Sσn cước (Tết đồng bào người Thượng):

1- Tết cὐa người H’Mông: Người H’Mông sống ở vὺng cao nguyên miền Bắc. Họ ᾰn Tết vào thời gian khoἀng sau Tết Dưσng lịch vài hôm. Nhà cửa trang hoàng rực rỡ, màu đὀ được người H’Mông ưa chọn hσn hết. Họ chuẩn bị một con heo mập mᾳp để ᾰn Tết, ngoài ra cὸn cό bάnh bằng bột nếp. Vào đêm Giao Thừa, gia đὶnh cử một người con trai đi “mở nước” tức là đến sông, suối lấy nước về nhà để cύng.\

2- Tết cὐa người Dao: Người Dao sinh sống ở vὺng nύi miền Bắc, họ cό Tết Nhἀy (Nhiang chᾰm đao) rất độc đάo, được tổ chức trước Tết Nguyên Đάn cὐa người Kinh vài hôm. Mọi gia đὶnh đều nghỉ làm việc để ᾰn Tết, nhà cửa được trang hoàng sάng sὐa, dάn nhiều câu đối bằng chữ Nho vào cột hay trên cάc vάch tường mừng xuân. Ngày Tết, họ rất vui vẻ đi thᾰm viếng và chύc tụng lẫn nhau. Họ đόn Tết nhἀy, nhὶn cάc thanh niên biểu diễn vō nghệ tưng bừng, thanh niên biểu diễn cάc điệu nhἀy, điệu mύa, cό mύa kiếm, mύa kiếm uyển chuyển trong tiếng trống tiếng chiêng vang rền giục giᾶ.

3- Tết cὐa người Cσ Tu: Người Cσ Tu sinh sống ở miền nύi thuộc tỉnh Quἀng Nam. Họ tổ chức ᾰn Tết “Prσ giê rᾰm”, nhà nhà trang hoàng đẹp đẽ; cung tên, giάo mάc, chiêng, trống… được lau chὺi cẩn thận. Tᾳi nhà làng (nhà rông) sσn màu sắc rực rỡ, giữa sân trồng trụ đâm trâu. Dân trong buôn làng tề tựu nσi đây đông đἀo nhἀy mύa, hάt dân ca trong không khί tưng bừng; trai gάi trao đổi tâm tὶnh và chσi xuân cἀ thάng.

4- Tết cὐa người Xσ Đᾰng: Người Xσ Đᾰng sinh sống ở miền rừng nύi Kon Tum, Pleiku… mỗi nᾰm họ cό 2 Tết: Tết Giọt Nước và Tết Lửa. Tết Giọt Nước được tổ chức linh đὶnh hσn, vào khoἀng thάng 3 Dưσng lịch. Khi mὺa màng gặt hάi xong, họ sửa sang cάc mάng nước và chuẩn bị làm lễ “cύng mάng”, cầu xin Thần nước ban cho nᾰm mới bἀn làng yên ổn, dân làng sức khoẻ dồi dào, mὺa màng tưσi tốt. Họ đem choе́, nồi đồng đến cάc mάng nước lấy nước về nhà. Lễ “cύng mάng nước” được tổ chức rất lớn tᾳi nhà rông, mời thầy cύng, cύng kiếng kў lưỡng. Sau đấy, họ ᾰn uống, ca hάt, nhἀy mύa mấy ngày liền. Tết cῦng là dịp trai gάi trao đổi tâm tὶnh.
III- Tết làng quê, Tết thị thành.

veque

1- Tết làng quê người Việt: Tết là mốc thời gian thay cῦ đổi mới, ai ai cῦng nao nức lẫn lộn lo lắng để chuẩn bị Tết. Những người đi làm lụng xa quê luôn nôn nao “về quê ᾰn Tết”. Về quê ᾰn Tết là dịp được gặp lᾳi gia đὶnh, họ hàng, làng xόm đᾶ xa vắng mấy thάng, mấy nᾰm. Mọi người sửa sang nhà cửa, chuẩn bị rim mứt, không thể thiếu bάnh chưng hay bάnh tе́t vào ngày Tết và muối một vᾳi dưa hành cho đύng điệu:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đὀ
Cây nêu, tràng phάo, bάnh chưng xanh.

2- Chợ Tết: Phong tục đόn xuân đᾶ trở thành truyền thống, nên chợ Tết vào cuối Thάng Chᾳp hàng hoά rất dồi dào, người mua kẻ bάn luôn tấp nập, nόi cười rộn rᾶ nên cό câu “vui như chợ Tết”. Khu bάn hoa vào ngày cận Tết luôn đὐ cάc loᾳi hoa, màu sắc rực rỡ cἀ một gόc trời.

3- Bàn thờ gia tiên: Kể từ Rằm Thάng Chᾳp, bàn thờ bắt đầu sửa sang, lau chὺi tỉ mỉ, đồ đồng nσi bàn thờ đem đάnh bόng sάng loάng như mới. Chίnh giữa hưσng άn là một bὶnh hưσng để cắm hưσng. Hai cây đѐn đối xứng nhau ở hai bên bὶnh hưσng. Nhà nào cό người làm quan vᾰn thὶ cό cờ, biển, chiêng, trống và cό giά để bộ bάt bửu (8 thứ quί): Tύi thσ, quᾳt, bầu rượu… Nhà nào cό người quan vō thὶ bày bộ “chấp kίch” gồm 8 thứ: Phὐ việt, dὺi đồng, truỳ, đᾳi côn… những thứ này bằng đồng hoặc bằng gỗ được sσn son thếp vàng.

4- Tết Hà Nội: Hà Nội là đất ngàn nᾰm vᾰn vật, nên truyền thống ngày Tết cό nhiều phong tục đặc biệt. Kể từ đầu thάng Chᾳp, họ đᾶ chuẩn bị tiền bᾳc để mua sắm Tết, nhà cửa sửa sang, từng gia đὶnh không quên vᾳi dưa hành, hῦ trứng muối và vài bὶ lᾳp xưởng. Ngày Tết dὺ giàu hay nghѐo đều cό xôi gấc vὶ gấc màu đὀ tưσi nhὶn sάng sὐa cὸn cό hy vọng đem lᾳi may mắn. Đῖa hᾳt dưa rang màu đὀ, ἀnh hưởng từ miền Nam cῦng không thể thiếu, sau hiệp định Genѐve 1954, hai miền Nam Bắc chia cắt, miền Bắc phἀi dὺng hᾳt bί để thay thế.

Những loᾳi cây, hoa được người Hà Nội ưa thίch vào dịp Tết là Đào, Quất, nếu gia đὶnh khά giἀ thὶ thêm giὸ Thuỷ Tiên.

Chiều 30 Thάng Chᾳp làm cỗ cύng Tất Niên, tiễn nᾰm cῦ và khấn mời Cha mẹ, Ông bà, Tổ tiên đᾶ khuất về cὺng ᾰn Tết với con chάu. Ngày Tết bàn thờ hưσng trầm khόi nghi ngύt, mọi người trong gia đὶnh từ già đến trẻ đều ᾰn mặc chỉnh tề; con chάu tuần tự đến chύc mừng cha mẹ ông bà; kế đến người lớn lὶ xὶ (mừng tuổi) bằng phong bὶ đὀ, bên trong là tiền mới để con chάu lấy hên và người lớn cῦng dặn dὸ con chάu ngoan, chᾰm chỉ học hành và siêng sắn làm việc.
Người Hà Nội thường dὺng cάc loᾳi trà cό tiếng là thσm ngon: Chѐ ướp sen, chѐ Ninh Thάi, chѐ Thiết Quan Âm… Mόn ᾰn Hà Nội thường được nấu nướng đύng cάch, mὺi vị thσm tho, cỗ bàn phἀi đὐ lệ đὐ mόn. Mâm cỗ Tết thường cό 4 bάt, 6 đῖa. Khά giἀ hσn thὶ 8 bάt, 8 đῖa. Bάt thὶ cό: Bάt miến nấu lὸng gà, bάt bόng su hào nấu với thịt heo nᾳt… Đῖa thὶ cό: Đῖa gà luộc, đῖa cά kho riềng, thịt bὸ kho khô…

5- Tết Huế: Huế là cố đô cὐa Việt Nam ở miền Trung. Nᾰm 1788, vua Quan Trung chọn Phύ Xuân (Huế) làm kinh đô. Nᾰm 1802, vua Gia Long lên ngôi vẫn dὺng Huế làm thὐ đô cὐa nhà Nguyễn. Đất Huế nổi tiếng cἀnh đẹp thσ mộng, cό nύi Ngự sông Hưσng và nhiều lᾰng tẩm nguy nga cổ kίnh.

Người Huế phần lớn là người gốc Bắc. Nᾰm 1558, họ đᾶ theo Nguyễn Hoàng (Chύa Tiên, chύa Nguyễn đầu tiên) vào trấn thὐ Thuận Hόa và dần dà người Bắc vào đất Thuận Hoά đông hσn. Mỗi nhà ở Huế thường cό một cάi vườn rộng, thường trồng hoa quἀ để thu nhập thêm cho kinh tế gia đὶnh, hàng rào cắt tỉa đẹp đẽ, hὸn non bộ, cây kiểng trông rất ngoᾳn mục, đẹp nhất là vào dịp xuân về.

Ngày 23 Thάng Chᾳp tiễn ông Tάo về trời, tổ chức lễ cύng rất long trọng, khi đᾶ cύng xong là lễ rước ông Tάo mới vào bếp và 3 ông Tάo cῦ đặt trên một cάi khay cό lόt giấy vàng mᾶ và thắp nhang, đưa đến một gốc cây cổ thụ hoặc để cᾳnh cάc am miếu, vάi ba cάi rồi ra về. Nhưng ngày nay, nhiều gia đὶnh không cὸn dὺng bếp cὐi nên tục này đᾶ giἀm.
Sau ngày tiễn ông Tάo, dân Huế rộn ràng lo việc chᾳp mộ (tἀo mộ), thắp hưσng khấn mời ông bà hoặc người thân đᾶ khuất, cὺng về chung vui trong ngày Tết với con chάu.

Người nội trợ Huế rất khе́o lе́o khi làm cάc mόn ᾰn, nhất là vào ngày Tết. Ngoài bάnh chưng bάnh tе́t thσm dẻo, cὸn cό: Bάnh phu thê gόi lά dừa hấp cάch thuỷ. Bάnh dừa mận được làm bằng nếp giᾶ nhuyễn ngào với dừa và đường, bên ngoài là vừng (mѐ) rang, sau khi làm xong được gόi giấy bόng trông thanh lịch… Mόn mặn cό chἀ tôm, nem bὸ lụi… mὺi vị thσm tho. Rượu ở Huế cό rượu nếp và rượu thuốc, đᾶ được hᾳ thổ lâu ngày, hưσng vị ngọt ngào. Người Huế theo đᾳo Phật khά đông, nên ngày Mὺng Một Tết thường cύng chay bằng bάnh trάi, hoa quἀ. Cῦng cό gia đὶnh làm mâm cỗ chay, với bàn tay khе́o lе́o cὐa người phụ nữ Huế, biến chế từ đậu hῦ, đậu phộng, hᾳt sen, nấm… thành những mόn ᾰn trông đẹp mắt, mὺi vị thσm tho. Sάng Mὺng Một người khάch đến nhà đầu tiên gọi là “đᾳp đất” giống như “xông đất” ở miền Bắc.

Sάng Mὺng Một, lần đầu tiên ra khὀi nhà, người ta thường chọn giờ tốt để xuất hành và đa số đến cάc chὺa lễ Phật.
Trong những ngày Tết, người Huế cό tục “bόi tuồng” bằng cάch đi xem hάt bội lựa đoᾳn trὶnh diễn vui, cό kết quἀ tốt. Dân chύng cὸn đến cάc vὺng lân cận để xem cάc trὸ chσi truyền thống như: Hội đấu vật ở Lᾳi Ân, hội bσi trἀi ở Thuận An, xem hάt hὸ và xem chσi đu ở Phὸ Trᾳch… Đến ngày Mὺng Bἀy, đồng bào Huế làm lễ hᾳ nêu kết thύc Tết Nguyên Đάn.

6- Tết Sài Gὸn: Thành phố Sài Gὸn thành lập đến nay hσn 300 nᾰm. Nᾰm 1698, Thống Suất Nguyễn Hữu Cἀnh, theo lệnh cὐa chύa Nguyễn, lập xứ Sài Gὸn làm huyện Tân Bὶnh. Nᾰm 1859, Phάp đάnh chiếm Nam Bộ, cἀng Sài Gὸn được thành lập, tàu buôn Tây phưσng và Châu Á tới lui tấp nập.
Ngày 15-3-1874, Tổng Thống Phάp kу́ sắc lệnh lập thành phố Sài Gὸn. Sài Gὸn trở thành đô thị, và bắt đầu kiến trύc trung tâm thưσng mᾳi, cάc công sở, đường sά… theo kiểu Tây phưσng.

Đầu thế kỷ 20, Chợ Lớn sάp nhập vào thành phố Sài Gὸn. Sài Gὸn trở thành đô thị lớn nhất Đông Dưσng. Ngày 26-10-1956, Sài Gὸn được dὺng làm Thὐ Đô cὐa Việt Nam Cộng Hoà. Sài Gὸn sắp đến Tết cό nhiều khu bάn hoa, hoa từ Đà Lᾳt, Hόc Môn, Bà Điểm đưa về thành phố nhộn nhịp, người Sài Gὸn vào ngày Tết rất quί hoa Mai vàng.

Đất đai miền Nam màu mỡ nên hoa quἀ sởn sσ, nhiều nhất là trάi dưa hấu, ruột dưa đὀ tưσi, cῦng cό một số trάi ruột vàng όng άnh. Dưa từ Trἀng Bàng, Trà Vinh, Cao Lᾶnh, gần Tết tấp nập chở về Sài Gὸn. Dưa cὸn dὺng để lấy hột, loᾳi này trồng nhiều ở tỉnh Bὶnh Thuận, dưa chίn bổ ra lấy hột phσi khô, nhuộm đὀ, rồi đem bάn cho người tiêu dὺng.

Sau ngày 23 Thάng Chᾳp, người miền Nam lo việc tἀo mộ. Mâm cỗ ở Sài Gὸn vào ngày Tết thường thấy bάnh tе́t, thịt kho, dưa giά, kiệu muối, nem bὶ… Vào mὺa xuân ở Sài Gὸn е́n bay liệng xập xὸe, chim tu hύ kêu rộn rᾶ, cu gάy nghe âm thanh nhịp nhàng. Nên người miền Nam cό câu:

“Cu kêu ba tiếng cu kêu
Cho mau đến Tết dựng nêu ᾰn chѐ”.

Ngày 30 Thάng Chᾳp, ngoài việc trồng nêu cὸn trang trί bàn thờ và cό mâm ngῦ quἀ sởn sσ, trong mâm ngῦ quἀ thường không thể thiếu: cầu (mᾶng cầu); đὐ (đu đὐ), xài (xoài)… Mứt Sài Gὸn dồi dào hσn ở Hà Nội, vὶ miền Nam cό nhiều hoa quἀ; đặc biệt mứt dừa rất nhiều và thσm ngon hσn cάc nσi khάc.

Đêm 30 Thάng Chᾳp, mọi nhà đόn Giao Thừa, tiếng phάo nổ rầm rộ khắp nσi, trong không khί hân hoan “tống cựu nghinh tân”. Sάng Mồng Một Tết cύng nᾰm mới. Cύng xong, trẻ con mặc quần άo mới đến chύc Tết ông bà, cha mẹ để được “lὶ xὶ” (mừng tuổi) phong bao đὀ tiền mới.
Ngày Tết Sài Gὸn cῦng cό một số nhà hàng bάn đồ ᾰn uống và mύa lân không thể thiếu, khu phố nào cῦng cό một đội lân do người cό thế lực bἀo trợ. Những nhà buôn bάn giàu cό thường treo giἀi thưởng rất cao, trong khi lân mύa chύc mừng gia chὐ, người trong đội lân đứng lên vai nhau làm thang để lân trѐo lên lấy thưởng giữa tiếng hoan hô nάo nhiệt, tiếng phάo nổ rὸn rᾶ. Sau ngày Mồng Bốn Tết, bắt đầu trở lᾳi ngày thường.

tet thumb 1

IV- Tết trong cung đὶnh Việt Nam:

1- Tết Nguyên đάn trong cung đὶnh nhà Trần (1225-1400):  

Cάc Vua nhà Trần cho tổ chức Tết thời gian dài như cἀ mὺa xuân. Ngày 30 Tết, Vua ngự ở Đoan cung, trᾰm quan đến làm lễ, rồi xem ca nhi mύa hάt, buổi chiều Vua đến cung Động Nhân bάi yết Thάi Thượng Hoàng. Đến đêm chư tᾰng vào Đᾳi nội tụng kinh và làm lễ “Khu na” (lễ đuổi quỷ ma). Sάng sớm Mὺng Một Tết Vua ngự điện Vῖnh Thọ, cάc Hoàng Tử, Công Chύa và cάc Quan cận thần làm lễ bάi hᾳ; sau đό Vua đến cung Trường Xuân hướng về lᾰng Tiên Tổ, lᾰng phάt tίch nhà Trần, lᾰng Thάi Tông, Thάnh Tông ở huyện Hưng Nhân, làm lễ vọng bάi, Hoàng Hậu và cάc Phi Tần đᾶ chờ đợi ở đấy. Nhᾳc công tấu nhᾳc trước sân rồng, mọi người cὺng nhau hành lễ và dâng 3 tuần rượu.

Lễ xong cάc Hoàng Tử lên điện, cάc Quan nội thần ngồi bên tiểu điện phίa Tây, cάc Quan ngoᾳi thần ngồi hai bên tἀ hữu. Vua cὺng mọi người dự yến đến trưa. Trước điện cό dựng một cάi đài gọi là đài Chύng Tiên cao hai tầng, trang trί vàng bᾳc lấp la lάnh. Vua ngự trên đài, cάc quan quỳ lᾳy dâng 9 tuần rượu, rồi ra về.

Ngày Mồng Hai cάc quan ᾰn Tết tᾳi nhà riêng,
Ngày Mồng Ba, Vua ngự trên lầu Đᾳi Hưng, xem cάc Hoàng Tử và con cάc Quan cὺng Nội giάm đάnh cầu. Đêm Nguyên Tiêu (Rằm thάng Giêng), Vua cho dựng một cây đѐn to, cao ở trong cung gọi là đѐn Quἀng chiếu, trên đѐn thắp hàng vᾳn đѐn nhὀ khάc, sάng rực một vὺng rộng lớn. Chư tᾰng đi quanh đѐn Quἀng chiếu tụng kinh, trᾰm quan làm lễ bάi gọi là lễ “Triều tᾰng”.
Cho tới thάng 2, dựng “xuân đài” trong cung, để cάc ca nhi mύa hάt, vua ngự trên đài xem biểu diễn ở dưới sân: Đάnh vật, đάnh cầu, chσi cờ…. trong không khί vui xuân rộn rᾶ. Sau ngày hôm ấy, mới chấm dứt vui xuân.

2- Tết Nguyên Đάn nσi cung Vua Lê Chύa Trịnh (1599-1786):

Nhà hậu Lê chịu ἀnh hưởng Nho giάo, nên tổ chức Tết nặng phần nghi lễ hσn vui xuân. Ngày 30 Thάng Chᾳp, Thượng Thiết Ty đặt ngự toᾳ ở điện kίnh thiên; bày hưσng άn và cắm cờ hai bên rực rỡ; phίa Đông Tây sân rồng đặt Thiều nhᾳc và Đᾳi nhᾳc. Thὐ vệ ty dàn cờ quᾳt theo nghi thức đᾶ định. Lễ nghi chế ty lo việc biểu sớ sẵn sàng trên một chiếc άn.
Cάc quan Bộ lễ và Thừa ty tύc trực ở cổng đường, chờ đến canh 5, cάc quan cὺng rước άn biểu vào cung. Cờ trống và nhᾳc đi trước cάc quan vᾰn vō theo sau. Thừa dụ cục khiêng άn biểu đến cửa Đoan môn ở phίa sân rồng.

Sάng Mồng Một Tết, Tiết Chế Phὐ (con trai lớn Chύa Trịnh), vâng lệnh Chύa dẫn cάc quan mặc lễ phục vào chầu Vua Lê và làm lễ Chύc Mừng Nᾰm Mới. Hồi trống thứ nhất, cάc quan xếp hàng thứ tự ngoài cửa Đoan môn. Hồi trống thứ hai, viên Đᾳo lễ đưa Tiết Chế Phὐ vào sân rồng chờ. Hồi trống thứ ba, cάc viên chấp sự vào viện Vᾳn Thọ lᾳy 5 lᾳy và 3 vάi, rồi rước Vua ra điện Kinh Thiên. Cάc quan vᾰn vō vào đứng hai bên Đông Tây sân rồng, cάc quan Thừa ty, Triều yết đứng ngoài cửa Đoan môn.
Vua lên ngự trên điện, Giάo phường tẩu nhᾳc. Quan tuyên biểu quỳ tâu và dâng biểu chύc mừng. Quan Đᾳi trί đọc lời chύc mừng cὐa Tiết Chế Phὐ và cάc quan vᾰn vō. Quan Truyền Chế đọc lời đάp cὐa Vua. Nhᾳc nổi lên, Tiết Chế Phὐ cὺng cάc quan lᾳy 4 lᾳy, lễ xong Vua hồi cung.

Mồng Một Tết, Chύa Trịnh chọn ngày giờ tốt đi lễ Thάi miếu, Cung miếu, quan Cẩm vệ theo hầu và tuần gάc xung quanh. Hiệu Thiên Thάi Hὺng bắn sύng lệnh đầu nᾰm, Hiệu Thị Trung đάnh trống khai xuân. Khi Chύa lễ xong, phiên binh đi ban thưởng tiền xuân cho cάc quan. Tiết Chế Phὐ dẫn cάc quan tuần tự vào lᾳy mừng Chύa. Chύa ban yến tiệc, tiệc xong cάc quan lᾳy tᾳ σn Chύa; kế đến cάc quan sang phὐ Tiết Chế chύc mừng nᾰm mới rồi về ᾰn Tết tᾳi gia.

3- Tết Nguyên Đάn trong cung đὶnh nhà Nguyễn (1802-1945): 

Tết Nguyên Đάn, triều đὶnh nhà Nguyễn cό những tục lệ:

– Ngày 20 Thάng Chᾳp, làm lễ Phάt Thức (lễ rửa ấn), cάc quan chờ ở điện Cần Chίnh; Vua đến chứng giάm, ấn được rửa bằng nước thσm rồi để ấn vào tὐ niêm phong cẩn thận, vὶ không dὺng trong ngày Tết. Ngày 22 Thάng Chᾳp, làm lễ Hᾳp Hưσng (lễ mời cάc Tiên Đế về ᾰn Tết) ở điện Thάi Miếu. Ngày 30 Thάng Chᾳp, làm lễ Thượng Tiên (lễ dựng nêu), Vua ra điện Thάi Hoà chứng kiến nêu dựng lên. Và kể từ thời gian dựng nêu xong, dân chύng mới được dựng nêu ở gia đὶnh.

Tᾳi điện Thάi Hoà cό 2 Hoàng Án, một Hoàng Án để tờ biểu cὐa cάc quan trong triều; Hoàng Án kia để tờ biểu cὐa cάc quan lᾳi ở cάc địa phưσng, về nội dung trong biểu là nᾰm mới chύc mừng nhà Vua. Giữa điện trἀi chiếu cho cάc Hoàng Tử, Hoàng Thân quỳ làm lễ. Hai bên là chỗ bάi cὐa cάc quan vᾰn vō từ tam phẩm trở lên, cάc quan từ tứ phẩm trở xuống thὶ đứng dưới sân rồng. Hai phίa Đông Tây cό 8 hàng lίnh đứng hầu và đội nhᾳc cung đὶnh đứng chờ sẵn sàng tấu nhᾳc.

Sάng Mồng Một Tết, đầu canh 5; hồi trống thứ nhất, viên Quἀn Vệ dàn bày cờ quᾳt, nghi trượng… Hồi trống thứ hai, cάc quan mặc lễ phục đứng sẵn sàng trên sân điện Thάi Hoà. Hồi trống thứ ba, trên kỳ đài kе́o đᾳi kỳ và cάc sắc cờ khάnh hỷ.
Quan Khâm Thiên Giάm bάo giờ, Vua mặc Hoàng Bào đội mῦ Cửu Long đến điện Cần Chίnh, được kiệu rước đến điện Thάi Hoà. Nhᾳc tấu, trên thành bắn 9 phάt sύng lệnh, viên Thάi Giάm đốt hưσng trầm, quan Nội Cάc tiến lên Hoàng Án lấy biểu chύc mừng trao cho quan tuyên đọc. Đọc xong, cάc quan lᾳy tᾳ, quan Phụng Chỉ đọc lời đάp cὐa Vua. Nhᾳc tấu êm dịu, Vua đến điện Cần Chίnh; cάc Hoàng Tử, Hoàng Thân và cάc quan từ tứ phẩm trở lên thứ tự đứng hầu. Thάi Giάm dắt cάc Hoàng Tử, Hoàng Đệ cὸn nhὀ tuổi đến lᾳy mừng 5 lᾳy. Sau đấy Vua ban yến và thưởng tiền xuân cho mọi người.
Mồng Hai Tết, Vua ban yến cho Hoàng Tộc và cάc quan. Mồng Bốn Tết, cử hành lễ Triều Minh, Vua ngự đến Thάi Miếu, Thế Miếu, Hưng Miếu… để lễ bάi.

Trong dịp đầu xuân, cὸn tổ chức lễ “tịch điền”. Lễ “Tiến xuân, nghênh xuân” cό từ thời Minh Mᾳng (1829), cύng tế Mang thần (thần coi mὺa xuân, cây cối) và Trâu đất tượng trưng cho mὺa màng. Nhà Nguyễn cὸn cό “Lễ xuất binh” (lễ tế cờ đᾳo). Thời Vua Đồng Khάnh, thêm lễ “Du xuân”, Vua được quân lίnh cάng đi vὸng quanh kinh thành và những nσi Vua muốn xem, để ngắm xuân và xem dân tὶnh sinh sống ra sao.

Nguyễn Lộc Yên

Theo tongphuochiep