Đọc khoảng: 23 phút

Đôi lời bộc bạch:
Người góp nhặt năng nhặt chặt bị sử phẩm, giai thoại, dữ kiện, tài liệu trong sách vở, trên mạng lưới, cũng như tư liệu qua thân bằng cố hữu, rồi cặm cụi sàng chữ ra câu, sẩy câu ra chữ để có bài tạp bút này. Tuy nhiên cái sẩy nẩy cái ung là sàng lúa ra thóc, lại sẩy thóc ra trấu. Thế nên trăm sự nhờ bạn đọc trăm hay không bằng tay quen trông giỏ bỏ thóc dùm. Xin ghi lòng tác dạ với muôn vàn cảm tạ. Nay xin thưa.

***

Vùng đất đồng bằng Thái Bình ngày nay, vào thời Bắc Thuộc trước thế kỷ 10, thuộc hương Đa Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Tới nhà Hậu Lê, thời Lê Thánh Tông về sau đất Thái Bình ngày nay thuộc Trấn Sơn Nam.

Đến cuối thời nhà Lê Trung hưng, Trấn Sơn Nam là một trong tứ trấn được chia làm hai trấn: Trấn Sơn Nam Thượng (tức Nam Định) và Trấn Sơn Nam Hạ (tức Hưng Yên). Năm 1832, Minh Mạng năm thứ 12 lập lại phủ, huyện của Trấn Sơn Nam Thượng gồm 4 phủ, 18 huyện. Trong 4 phủ ấy có 2 phủ Thái Bình và phủ Kiến Xương.
(Tứ trấn tại 4 hướng của Thăng Long thành là: trấn Kinh Bắc tức Bắc Ninh, trấn Sơn Nam tức Nam Định, trấn Sơn Tây, và trấn Hải Đông tức Hải Dương ngày nay).
Tỉnh Thái Bình được thành lập vào năm 1890 Thành Thái thứ 2, cắt hai phủ Kiến Xương và Thái Bình của tỉnh Nam Định và lấy thêm huyện Thần Khê của phủ Tiên Hưng thuộc tỉnh Hưng Yên.
(…) Thái Bình có 3 phủ là: Thái Ninh, Kiến Xương,, Tiên Hưng bao gồm 12 huyện.

***

Năm 1894, hai huyện Hưng Nhân, Duyên Hà còn lại của phủ Tiên Hưng cũng được nhập về tỉnh Thái Bình từ Hưng Yên. Phủ Tiên Hưng được tái lập thuộc tỉnh Thái Bình. Sau đó, cấp phủ bị loại bỏ, các huyện có sở lỵ đổi theo tên của phủ trước đó, như:

Thanh Quan là Thái Ninh, Trực Định là Kiến Xương, và Thần Khê là Tiên Hưng.

– Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thụy Vân, Thanh Quan thuộc phủ Thái Ninh.

– Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Trực Định thuộc phủ Kiến Xương.

– Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng.

Những nhầm lẫn về địa danh

Từ lâu nước ta phân chia đất đai từ huyện lên phủ, từ phủ tới trấn. Dưới huyện là tổng, làng, xã, thôn, ấp và nhỏ nhất là giáp. Thời Pháp thuộc (từ thời Thành Thái) mới có quận và tỉnh, quận tương đương với huyện và tỉnh tương đương như phủ. Tất cà vì ranh giới không rõ ràng nên có một số di tích như điện đài, lăng tẩm. Tùy theo niên đại, niên chế với dữ kiện và sự việc lúc thuộc Nam Định, khi ở Thái Bình.

Cũng vì vậy nên có một số nhà làm văn học, nhà biên khảo đã vô tình đưa lăng tẩm nhà Trần, lăng Trần Thủ Độ từ Nam Định sang Thái Bình. Cũng vì phân chia đất đai cùng tên, lại địa danh nữa: Thế nên có hai chùa Keo. (*) Xin xem tiết mục chùa Keo.

Tam Đường tôn miếu và lăng mộ nhà Trần

Tổ tiên nhà Trần vốn làm nghề đánh cá từ đất Đông Triều. Đến đời Trần Kinh chuyển về Tức Mặc (Nam Định) và qua đời ở đó. Con trai Trần Kinh là Trần Hấp, nhờ tìm được thế đất tốt đã rời mộ bố về táng tại Thái Đường, Long Hưng, nay thuộc huyện Hưng Hà. Từ nghề đánh cá, Trần Hấp chuyển lên bờ làm ruộng và trở nên giàu có, rồi chuyển qua quyền lực. Đến đời thứ tư Trần Cảnh được trao ngôi báu từ Lý Chiêu Hoàng, nhà Lý, dưới sự dàn dựng của Trần Thủ Độ, từ đó mới có nhà Trần.

Thái Đường-Long Hưng làm nơi được chọn đặt tôn miếu để xây dựng lăng tẩm an táng các vị vua và hoàng hậu đầu triều cùng nhiều trọng thần trong Hoàng tộc. Thái tổ Trần Thừa được táng tại Thọ Lăng, Thái Tông táng tại Chiêu Lăng, Thánh Tông táng tại Dụ Lăng, Nhân Tông táng tại Đức Lăng, đều thuộc đất Thái Đường. Hiển Tông táng tại An Lăng, xã Thâm Động, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, ngày nay thuộc phần xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà. Tại đây nhà Trần đã xây dựng hành cung Long Hưng nguy nga tráng lệ, đặt lăng tẩm và đền thờ các bậc tiên đế. Phía trước hành cung đặt các lăng tẩm để an táng và phụng thờ các bậc tiên đế cùng hoàng hậu.
(Sở dĩ gọi là Tam Đường vì gộp lại từ ba thôn Phúc Đường, Ngọc Đường, Thái Đường).

Lăng Thái Sư Trần Thủ Độ

Lăng Thái Sư Trần Thủ Độ (1194-1264) quê ở làng Phù Ngự thuộc Hưng Hà. Vì ky húy tên “Ngự” nên gọi là lăng Ngừ (?). Trước lăng là hai bức tượng người nữ Chiêm Thành chầu hầu, giữa là mộ của thái sư. Trong lăng bầy dụng cụ sàng sẩy lúa gạo nào là dần, sàng, nong, nia bằng đá tròn, dẹt. Lại có bi ký và bi đình tựa kiểu tam mục, rõ ra văn chỉ khoa mục…Sau lăng có con cú to bằng con ngỗng lớn, đối diện là con cáo to bằng cả con bê. Tất cả cú, cáo, dần, sàng, nong, nia đều được dân làng gọi bằng “Ông”. Ông Cáo, ông Cú, ông Nong, ông Nia, v…v…

Vì Trần Thủ Độ mang lúa chiêm về trồng trọt, nên trước lăng có hai bức tượng người nữ Chiêm Thành và trong lăng thờ dần, sàng, nong, nia là vậy. Cũng vì vậy người Việt ta có mùa chiêm vào mùa ấm trời, cấy lúa tháng 10, tháng 11 và gặt hái vào tháng 5 tháng 6, trong khi lúa mùa cấy vào đầu mùa mưa và gặt vào đầu mùa khô tiếp.

(Xem Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn về lăng mộ Trần Thủ Độ).

 

Chùa Keo Thái Bình

(trích lục Thái Bình phong vật chí)

Chùa Keo (*)

Minh Mạng thứ 12, Nam Định có 4 phủ, 18 huyện, gồm phủ Thái Bình, Kiến Xương. Thành Thái thứ 2, tách Thái Bình ra thành tỉnh riêng. Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện. Tỉnh Thái Bình vì là tỉnh mới, lập 2 phủ thành 3 phủ, 9 huyện thành 12 huyện.

Theo sách Thiên hạ bản đồ và Hồng Đức bản đồ vị trí của huyện Giao Thủy nằm bên bờ con sông lớn, phía trên là ngã ba Vàng và huyện Thượng Nguyên, phía dưới là phủ Thiên Trường. Vì giải đất chung cho Nam Định và Thái Bình, nên có hai địa danh trùng tên là Giao Thủy. Vì vậy có hai chùa cũng trùng tên là chùa Keo Giao Thủy.

Chùa Keo Thái Bình thường gọi là chùa Keo Giao Thủy (tên Nôm là làng Keo) hay chùa Keo Dưới để phân biệt với chùa Keo Trên, còn được gọi là chùa Keo Hành Thiện

Chùa Keo Dưới tọa lạc ở ấp Giao Thủy, xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư. Chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được dựng từ năm 1061 ở hương Giao Thủy. Chùa được vua Lý Thánh Tông cấp đất và xây cất vào năm 1061 tới năm 1063, do thiền sư Dương Không Lộ trông coi và chủ trì. Sau vua Lý Thánh Tông đổi tên là Thần Quang tự.

Gần như có thể nói chùa Keo Thái Bình là một trong những chùa cổ nhất vì có từ đời Lý, mái thấp, rộng và cong. Toàn bộ khu chùa gồm 17 tòa, tổng cộng 128 gian, nhìn xa như chùa Nhật và Bắc Trung Hoa, nhưng trông có vẻ nặng nề hơn.

Nét nổi bật nhất là gác chuông cao 11,04m, cột kèo, dui me tòan bằng gỗ lớn hai người ôm không xuể. Gác chuông có 3 tầng mái. Tầng một có treo một khánh đá dài 1,87m, tầng hai có quả chuông đúc năm 1686, tầng ba và tầng thượng có chuông đúc năm 1796 cao 1,30 m, đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông (1686).

Và cũng có thể nói chùa Keo Thái Bình là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ XVII, với nhiều kiệt tác đặc sắc như tượng thiền sư Không Lộ bằng gỗ trầm, tượng Quan Âm từ thời Mạc, tượng La Hán thời Lê, v…v…

Chùa Keo Nam Định

(trích lục Nam Định phong vật chí)

Thường gọi là chùa Keo Giao Thủy, ở ấp Giao Thủy (tên Nôm cũng là làng Keo), xã Nghĩa Xá, nay là xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường, Nam Định.

Chùa do vua Lý Nhân Tông giao cho thiền sư Giác Hải (họ Nguyễn?) dựng năm 1121.

Giác Hải quê ở Hải Thanh, thưở nhỏ làm chài lưới, năm 25 tuổi đi tu ở chùa Hà Trạch.

Năm 1060, Giác Hải cùng Dương Không Lộ và Từ Đạo Hạnh tìm đường sang Thiên Trúc học đạo, nhưng đi lạc tới Kim Xí (Miến Điện) thì phải quay về.

Chùa Keo khởi đầu có tên là chùa Diên Phúc, Giác HảI trụ trì ở đó. Sau vua Lý Anh Tông cho quan hữu ty sửa chữa và tu bổ và ra sắc chỉ “Viên Quang tự bi minh tính tự” nên có tên là Viên Quang tự. Và đổi tên ấp Giao Thủy là ấp Nghĩa Xá.

(Với những văn bản khác thì chùa Keo Thái Bình có trước. Vì bị lụt lội, một số dân cư rời ấp Giao Thủy xuống Thiên Trường lập lên chùa Keo thứ hai. Vì vậy có hai tên: chùa Keo Hạ (Thái Bình) và chùa Keo Thượng (Nam Định). Tuy nhiên ngay những văn bản này, những tác giả diễn giải khác nhau, đôi khi chi tiết còn đối nghịch với nhau nữa)
Danh nhân

Nếu so với chiều dài của lịch sử, Thái Bình chỉ được biết đến dăm hàng qua Lý Bí người Thái Bình. Lý Bícòn có tên nữa là Lý Bôn, quê ở Long Hưng. Thời kỳ Bắc thuộc 544, Lý Bí đánh đuổi quan quân nhà Lương, lên ngôi lấy hiệu là Lý Nam Ðế đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, dựng lên thành Long Biên. Ông cho xây chùa Khai Quốc tại đây, sau vì lụt lội, dời về Tây Hồ và đổi tên là chùa Trấn Quốc, tức phần ngoài của thành Đại La. Từ thành này mới có Thăng Long xưa, Hà Nội nay.

(…) Lý Bí người Việt gốc Tàu, là con cháu Thứ sử Giao Châu Lý Nguyên Hải.

Thêm nữa, đất Thái Bình trước kia là căn cứ địa của sứ quân Trần Lãm tại Bố Hải Khẩu, nơi từng dung nạp Đinh Bộ Lĩnh. Sau Đinh Bộ Lĩnh (968-1009)dẹp lọan 12 sứ quân, xưng vương là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Tiếp đến là nhường ngôi vua cho Lê Hoàn, rồi nhà Lý rời đô về Thăng Long.

Qua sử nhà, đất Thái Bình được biết đến qua đia danh Kỳ Bố Hải Khẩu.

(Khi Đinh Bộ Lĩnh về ẩn náu với sứ quân Trần Lãm có mang mẹ theo. Khi mẹ mất, mộ mẹ Đinh Bộ Lĩnh được chôn cất tại Bố Hải Khẩu. Đồng thời, tại thôn Trung Sơn, làng Phù Lưu còn có đền Thánh Mẫu còn được gọi là Quốc Mẫu Từ. Tương truyền, đây là nơi thờ Đinh Triều hoàng hậu, tức vợ của Đinh Tiên Hoàng).

(…) Đinh Bộ Lĩnh cũng là người Việt gốc Tàu, con trai của Thứ sử Đinh Công Tráng.

(Từ thế kỷ thứ nhất, Lý Bí, Đinh Bộ Lĩnh là con cháu của quan lại người phương Bắc, vì hòan cảnh lịch sử và địa chí chống lại thiên triều để tách ra lập quốc. Từ nhà Tiền Lý, Tiền Lê để sau này có nhà Hậu Lý, Hậu Lê…Với khúc quanh lịch sử tình cờ trên, tất cả đều ngẫu nhiên xuất sứ hay có tương quan đến địa danh Thái Bình).

***

Thái Bình nguyên quán nhân

Ngoài chùa Keo ở trên với thiền sư Không Lộ. Địa danh Thái Bình được biết đến qua văn học sử là người Thái Bình như: Lê Quý Đôn, Nguyễn Thị Lộ và Bùi Viện, v…v…

Thiền sư Dương Không Lộ (1016-1094)

Thiền sư Dương Không Lộ người huyện Giao Thủy cùng với Giác Hải, Từ Đạo Hạnh sang Tây Trúc học đạo. Về nước Dương Không Lộ thuộc thế hệ thứ 10 dòng Vô Ngôn tu ở chùa Phả Lại, núi xã Phả Lại, Bắc Ninh. Theo lời truyền chùa có chuông lớn do thiền sư đúc, sau gác chuông vì đất lở nên bị xụp, chuông rơi xuống sông Lục Đầu. Nơi này được gọi là Đọa chung lại, tức “Vũng chuông rơi”.
Sau Không Lộ và Giác Hải tu ở chùa Diên Phúc và đi khắp nơi để dựng chùa, như chùa Giạm ở sườn núi Giạm, Bắc Ninh, riêng Không Lộ chuyên về đúc chuông. Sau khi vua Lý Nhân Tông mất, Từ Đạo Hạnh lên làm vua tức vua Thần Tông nối ngôi nhà Lý và phong thiền sư Không Lộ làm quốc sư.
Thiền sư viên tịch thời vua Lý Anh Tông, các đệ tử đắp tượng thờ ở chùa Thần Quang, nơi trụ trì cũ của thiền sư. Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng 9 là ngày sinh của thiền sư, dân Vũ Nghĩa, Vũ Thư tổ chức mở hội có đua thuyền rất linh đình.

Tam nguyên Duyên Hà Lê Quý Đôn (1726-1784)

Lê Quí Đôn người huyện Duyên Hà, cụ nổi tiếng thông minh từ nhỏ, thi đỗ Giải Nguyên, rồi Hội Nguyên và Đình Nguyên nên là vị Tam nguyên thứ hai lúc mới 27 tuổi. Lúc đầu, cụ được bổ làm Hàn lâm viện thị thư, sau làm quan ở các trấn (trong đó có Trấn Sơn Nam Thượng), cụ thăng dần lên tới Công bộ thượng thư vào năm 1784 là năm cụ mất.  Năm 1760 đi sứ sang Tàu, các danh sĩ Trung Hoa và sứ thần Đại Hàn rất khâm phục sự ứng đối và văn tài của cụ.  Những bài tựa của các danh sĩ Trung Hoa trong một số tác phẩm của cụ đã được viết trong thời gian đi sứ này.  Những tác phẩm của cụ là: Vân Đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Danh thần lục, Quế Đường thi tập, Đại Việt thông sử, Quốc triều tục biên, Bắc sứ thông lục, Phủ biên tạp lục, v…v…

Thời Hậu Lê, năm Cảnh Hưng thứ 36, cụ Lê Quý Đôn được cử làm Tổng tài quốc sử quán, coi việc tục biên quốc sử và địa dư. Cùng với Nguyễn Hòan, ông sọan tập Phủ biên tạp lục khi ông được cử làm Hiệp trấn tham tán quân cơ ở phủ Thuận Hóa. Trong sách biên chép khá tường tận về xứ Đàng Trong, nhất là xứ Quảng Nam. Phủ biên tạp lục được xem là sách địa dư chí, hay bút ký chép lẫn lộn những điều thấy nghe, từ một cõi biên thùy đến thành quách, núi sông, đường sá, v…v… Nhưng với tục biên quốc sử và địa dư, cụ Lê Quý Đôn gần như không viết gì về Thái Bình quê hương của cụ.

(…) Ngoài sách Kiến văn tiểu lục viết chút ít về…lăng mộ Trần Thủ Độ.

Bà Nguyễn Thị Lộ(1400-1442)

Bà quê ở làng Hải Hồ tục gọi làng Hới, chuyên làm chiếu, vì vậy mới có giai thoại với cụ Nguyễn Trãi qua câu đối “Ả ở nơi nào, bán chiếu gon? – Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?” và bà đáp: “Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon – Cớ chi ông hỏi hết hay còn”.

Từ nhỏ bà đã thuộc lòng các sách Tứ thư, Ngũ kinh, v…v…lại biết làm thơ. Bà nổi tiếng là người đẹp nhất vùng. Sau khi cha mất, bà phải cùng mẹ tần tảo nuôi dạy các em, phải đem chiếu đi bán và trong một lần lên kinh thành bán chiếu bà đã gặp cụ Nguyễn Trãi, rồi trở thành người bạn đời của cụ Ức Trai Nguyễn Trãi.

Cũng như bà Huyện Thanh Quan (Cung trung giáo tập), trong văn học sử bà là một trong hai bậc nữ lưu duy nhất lãnh chức Nữ nghi học sĩ vào thời nhà Lê. Cho đến bây giờ bà vẫn còn là một nghi án còn đang tồn nghi trong “Vụ án Lệ Chi viên” (Trại Vải ở Bắc Ninh) qua cái chết của vua Lê Thái Tông, để cụ Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc.

Cử nhân Bùi Viện (1839-1878)

Bùi Viện quê làng Trình Phố, phủ Kiến Xương, đỗ cử nhân triều Tự Đức. Năm 1873, ông là người Việt đầu tiên sang Mỹ đến San Francisco và được Tổng thống Ulysses S. Grant tiếp đón. Qua tin tức…báo chí (!): Năm 1967, khi gặp đại sứ VNCH, Tổng thống Lyndon B. Johnson cũng nhắc đến (?) sứ thần đầu tiên người Việt là Bùi Viện.
Thế nhưng với tín tại thư bất như vô thư thì cho tới đầu thế kỷ XXI, chưa một sử liệu, tài liệu nào, chứng từ nào khả dĩ chứng minh được Bùi Viện đã qua Mỹ …
Qua văn khố bộ ngoại giao Mỹ không có tài liệu ghi chép về chuyện Bùi Viện qua Mỹ. Nếu như được S. Grant tiếp kiến 2 lần sao không tại Washinton mà ở San Francisco. Và không thuận lý vì được một tổng thống Mỹ tiếp kiến chẳng phải là dễ dàng và không thể không có những dấu tích ngay từ hàng lãnh sự địa phương như Hồng Kông hay Yokohama nơi Bùi Viện tiếp xúc và được cấp giấy tờ giới thiệu qua Mỹ.
Thêm nữa, theo Nguyễn triều châu bản và Đại Nam thực lục chính biên với bút phê và ấn dấu của Tự Đức. Ngoài Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ do Giám mục J.D.Gauthier dẫn dắt qua Pháp. Có tất cả 10 tài liệu về Bùi Viện với cơ quan đặc trách chuyên chở đường thủy, vì là Chánh quản đốc nha tuần tải. Nhưng không có chứng từ nào khác liên quan đến Bùi Viện qua Hồng Kông, Nhật hay tiếp xúc với người Mỹ.

***

Thái Bình ngụ cư nhân
Trong văn học sử từ thời nhà Lê có cụ Nguyễn Trãi, thời nhá Mạc có cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến Thái Bình qua thi văn hoặc Sấm ký và nhiếu nhất là qua giai thọai. Vì Thái Bình không có núi rừng nên không phải vùng đất của địa linh nhân kiệt với long chầu hổ phục. Một phần nữa có thể vì Thái Bình nằm trong Trấn Sơn Nam Thượng của nhà Trần, nên nhà Trần bỏ bê để chăm lo cho Nam Định. Trở về với sử thì, từ thưở xa xưa, người Tàu lưu lạc đến mảnh đất hẻo lánh xa xôi để khai sơn lập quốc, ngoài cụ vua Lý Bí, cụ vua Đinh Tiên Hoàng còn có dân…”ngụ cư” tao nhân mặc khách khác: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, bà Huyện Thanh Quan, Cống Quỳnh…

Ức Trai Nguyễn Trãi (1380-1442)
 Văn chương tự cổ đa vi lụy

Thi tửu tòng kim thả cố hoài
(Tặng con cháu ba họ giáo thụ tại Thái Bình)
Văn chương tự cổ, thường tai họa
Thơ rượu ngày nay mới miệt mài
Mặc dù chỉ góp nhặt được hai câu thơ trong một bài thơ nào đó cụ Nguyễn Trãi gửi cho ông giáo thụ Thái Bình. Vì cụ bà của cụ là bà Trần Thị Thái, là người Thái Bình, cũng là con gái thứ ba của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán thuộc nhà Trần. Thêm nữa, mặc dù cụ Ức Trai Nguyễn Trãi là người Chí Linh, qua tương quan trên, cụ rất gần gũi với đất Trấn Sơn Nam với Thái Bình. Như giai thoại cụ với bà Nguyễn Thị Lộ.
Ngoài ra sách Tang thương ngẫu lục (nghĩa là ngẫu hứng chép lại việc một thời tang thương) nguyên tác Hán văn của Phạm Đình Hổ (1770-1815) viết truyện cụ quở trách Lê Quý Đôn (cũng người Thái Bình) vì rút bớt ân trạch với những khai quốc công thần thưở trước (trong đó có cụ Nguyễn Trãi). qua…một giấc hòe.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)
Cũng như cụ Nguyễn Trãi, cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêmngười Cổ Am, Hải Dương. Quê cụ, cụ Trạng có câu: “Tan tác Kiến kiều Anđất nước – Xác sơ Cổthụ sạch Am mây” (Lúc này chưa có địa danh Kiến An và Cổ Am, riêng Hải Dương với tên cổ là Hải Đông, vì nằm ở phía đông Thăng Long thành). Thái Bình được sấm ký ghi chép: “Dù mày đánh bắc dẹp đông – Mười hai phủ huyện của ông thì chừa.
Từ Bình Ngô Đại Cáo của cụ Nguyễn Trãi “Tuấn kiệt như sao buổi sớm – Nhân tài như lá mùa thu” để có giai thoại Ngựa đá sang sông về cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hà thời thạch mã độ giang – Thử thời Vĩnh Lại nghinh ngang công hầu (Bao giờ ngựa đá sang sông – Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng). Qua giai thoại này, cho biết rõ sông Thái Bình nối lền hai địa danh Thái Bình và Hải Dương: Bên này là Quỳnh Côi, Phụ Dực, bên kia là Vĩnh Lại, Vĩnh Bảo là đất của quê hương cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Với giai thoại, năm Minh Mạng (1791-1840) thứ 14, Nguyễn Công Trứ được vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền. Khi sai người mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ. Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi:”Minh Mạng thập tứ – Thằng Trứ phá đền = Phá đền phải làm đền- Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay”. Nguyễn Công Trứ lập tức thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền, và cho người sửa sang lại đền cụ Trạng khang trang hơn.

Riêng với Nguyễn Công Trứ thì:Nguyễn Công Trứ (1778-1858) Nguyễn Công Trứ quê gốc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nhưng thân sinh là Nguyễn Công Tấn là tri huyện Quỳnh Côi, sau là tri phủ Tiên Hưng. Ông bà Nguyễn Công Tần, sinh hạ cậu bé Củng (tên Nguyễn Công Trứ thuở nhỏ) ở Quỳnh Côi.

Cũng có thể vì vậy, cụ Nguyễn Công Trứ đã kiến mộ dân nghèo đắp đê biển, lập ấp. Cụ chiêu mộ nông dân lưu vong ở các nơi đến để khai khẩn đất hoang ở đây và lập lên huyện Tiền Hải. Một trong những dòng họ giúp Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ quai đê lấn biển, cụ Lại Thế Nhang, người Kiến Xương, cụ đưa con cháu về khai khẩn trước tiên. Cụ Lại Thế Nhang sau được thờ làm thần hoàng làng.

Cụ Nguyễn Công Trứ mất tại chính quán (Nghi Xuân). Lúc sinh tiền, dân huyện Tiền Hải mang ơn cụ và lập sinh từ cho cụ. Về sau cụ cũng được sắc phong làm tôn thần thành hoàng của cả tổng Hướng Đạo, huyện Tiền Hải vào năm Khải Định thứ 2.

Lúc còn niên thiếu, cụ mê cô đầu đến nỗi phải đi theo cô đầu gánh hòm đồ nghề cho các cô. Một hôm cụ quảy đồ nghề cho nàng đi hát, khi qua khu miếu ở giữa cánh đồng làng Tường Yên thuộc huyện Thư Trì (Kiến Xương). Đoàn hát vào nghỉ mệt. Cụ định giở trò “nài hoa ép liễu”. Nhưng cô nàng không chịu nên vùng vằng…”ứ hự”.
Một thời gian sau, sau khi cụ đỗ đạt và được bổ làm tri huyện Thư Trì. Tổng lý đem cô đầu đến hát mừng quan mới. Khi nghe cô đầu ngâm câu: “Giang sơn một gánh giữa đồng… Thuyền quyên ứ hự… Anh hùng nhớ chăng?…” Cụ sực tỉnh và nhìn kỹ lại thì đúng là cô nàng xưa kia ở làng Ô Mễ (Thư Trì). Lần này thì mình là quan huyện, chắc cô nàng không còn…ứ hự nữa, mà có lẽ là…”ừ hự”. Người ta bảo cô này sau được làm quan tắt. Nghĩa là một bước nhẩy lên làm bà huyện ngay thôi.
Cụ là Dinh điền sứ, mở mang huyện Tiền Hải. Vì vậy đất Thái Bình nẩy sinh ra phố cô đầu huyện Vũ Tiên, chắc là do thừa hưởng cái di sản vui thú ả đào, ca trù của cụ.

(…) Ở miền bắc chỉ có hai xóm cô đầu nổi tiếng là Khâm Thiên (Hà Nội) và Vũ Tiên.

(Từ văn học sử và giai thoại trên cho thấy cụ Nguyễn Công Trứ từ lúc sinh ra, tiếp theo đeo đuổi cử nghiệp, rồi làm quan đều ở Thái Bình. Sau này cụ…giang hồ nửa gánh, giang sơn một chèo đây đó như sang tận bên Tàu giống như…cụ Nguyễn Du vậy.)

Thêm nữa với Nguyễn Du thì:Nguyễn Du (1766-1820) Nguyễn Du người xứ Nghệ sau khi học hành, thi cử, đỗ thì làm quan, không đổ thì đi khắp bốn phương trời tìm nơi dạy học, hay làm thầy thuốc, thầy bói, thầy địa lý… và có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà (Thái Bình). Sau cụ làm tri huyện Phụ Dực.
Vì thi Hương chỉ đỗ tam trường, làm quan nhỏ, nay đây mai đó trong 10 năm gió bụi (1786-1795) cụ ăn nhờ ở đậu nhà anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn ở xã Hải An, huyện Quỳnh Côi. Nhà họ Đoàn có cô gái tên Đoàn Nguyễn Thị Huệ vừa 21 tuổi, mất cha nên được ông anh cả Đoàn Nguyễn Tuấn nuôi dưỡng. Nguyễn Nể (anh Nguyễn Du) và Đoàn Nguyễn Tuấn tác hợp cho Nguyễn Du và Đoàn Thị Huệ và giao cho gia trang ở Quỳnh Hải. Ở đây Nguyễn Du làm bài Quỳnh Hải nguyên tiêu: “Vạn lý Quỳnh châu thử dạ viên.- Hồng lĩnh vô gia huynh đệ tán”. Ngoài ra cụ còn làm những bài như Mộ Xuân mạn hứng, Xuân tiêu lữ thứ, trong đó có những câu: Một năm đất khách nào lâu, kìa xuân Quỳnh hải từ đâu lại rồi?.

Ngoài Truyện Kiều, bài văn tế Thập loại chúng sinh, bút ký Bắc hành tạp lục thì bài Quỳnh Hải nguyên tiêu trong Xuân tiêu lữ thứ, là một tác phẩm được người sau nhắc đến.Trong Xuân tiêu lữ thứ, sau 10 năm gió bụi (như Thúy Kiều) ở Quỳnh Hải, cụ trên đường đi nhậm chức tri huyện Phù Dung, hay tin vợ mất (cụ có ba vợ, mười tám người con). Cụ Nguyễn Du làm bài Ký mộng: “Thệ thủy nhật dạ lưu – Du tử hành vị quy” với nghĩa không biết bao giờ trở lại Quỳnh Hải. Đồng thời ngay ở bến đò Phù Dung, cụ làm bài thơ nhớ người vợ đầu tiên người Thái Bình, trong đó có câu: “Trần thế bách niên khai nhãn mộng”, hiểu là…cõi trần thế trăm năm chỉ là giấc mơ.
Cụ Nguyễn Du thi đỗ tam trường năm 24 tuổi, mất năm 54 tuổi. Cụ “ngụ cư” tại Quỳnh Hải và làm tri huyện ở Phụ Dực. Trong khoảng thời gian này, cụ đón bà sinh mẫu từ Bắc Ninh về Thái Bình, sau đó làm tri huyện Phù Dung thuộc phủ Tiên Hưng.

(Tuy nhiên, thời Lê Trung hưng, phủ Tiên Hưng thuộc Trấn Sơn Nam Hạ (Hưng Yên), còn có tên khác là phủ Khoái Châu vào thời nhà Lê 1490, Hồng Đức thứ 21).
(…) Sau cụ đi đây đi đó từ Huế ra Thăng Long, đi sứ sang Tàu và con đường hoạn lộ trong vòng 30 năm. Khoảng thời gian này,10 năm cụ quanh quẩn ở…Thái Bình.
Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848) Tên thật bà là Nguyễn Thị Hinh, chồng là Lưu Nghị (1804-1847), người huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Ông làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh).Thời ấy, dân tình gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan vì giai thoại:

Một hôm ông Huyện đi vắng, có người đàn bà còn trẻ, tên Nguyễn Thị Đào đến cửa quan kiện người chồng phế bỏ việc gia đình, hắt hủi vợ nhà, nên xin cho được bỏ chồng. Vì thương người thiếu phụ bỏ cả xuân xanh trong cảnh cô đơn, bà thay chồng phê vào lá đơn câu thơ: chữ rằng xuân bất tái lai, cho về kiếm chút kẻo mai nữa già!

Hay chuyện, chồng cô Đào kiện lên quan trên, ông Huyện bị cách chức. Nhưng sao đó ông lại được phục hồi, và thuyên chuyển về Bộ Hình và được thăng chức Lang trung, ít lâu sau ông Huyện mất năm 43 tuổi.

Vì bấy lâu nay qua văn sách cho rằng sau khi ở Huế về Thăng Long. Bà làm bài Thăng Long Thành Hoài Cổ. Thế nhưng bà làm Cung trung giáo tập ở cố đô Huế chỉ có một tháng ngắn ngủi, không đủ thời gian để cảm tác: “Tạo hoá gây chi cuộc hý trường – Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”. Vì vậy, thêm giai thoại nữa để mình chứng…

Chuyện quan Huyện lại đi vắng nữa, bà ấy thay chồng đăng đường. Một ông Hương cống tới xin mổ trâu để giỗ bố. Bấy giờ mùa màng thất bát, triều đình hạn chế mổ trâu trong dịp tế lễ khao vọng để giữ trâu canh tác. Bà ngại ngùng, nhưng trước sự năn nỉ của ông Cống, và cảm động trước hiếu hạnh của ông. Bà hóm hỉnh cầm bút phê vào đơn: “Người ta thì chẳng được đâu – “Ừ ” thì ông Cống…làm trâu thì làm”. Biết bà Huyện chơi chữ để lỡm mình, nhưng vì được việc nên ông Cống cũng vui vẻ ra về.

Từ hai giai thoại trên. Một là danh xưng ông Cống có từ thời Lê. Thời Minh Mạng đổi là “Cử nhân”. Hai là năm 1833, Minh Mạng đổi tên Thăng Long Thành là Bắc Thành. Khi này ông Lưu Nghị 30 tuổi. Hiểu là sau năm 1833, trên dưới 10 năm ông làm quan ở huyện Thanh Quan, ông Huyện bị cất chức. Vì vậy bà Huyện về lại Thăng Long mới có câu thơ cảm hoài: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo – Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.

Hơn thế nữa, bà Huyện Thanh Quan làm bài Thăng Long thành hoài cổ chẳng hẳn là hoài Lê qua văn sách. Mà bà mượn hình ảnh Thăng Long qua hình tượng ông Huyện Thanh Quan: “Nghìn năm gương cũ soi kim cổ – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường” để hoài cảm, hoài niệm ông chồng đã quá vãng.

Bởi lẽ bài Thăng Long thành hoài cổ có tên cũ là: Quá phu quân cố lỵ cảm tác.

Cống Quỳnh (1677-1748)
Trước ông Lưu Nghị, chồng bà Huyện Thanh Quan 100 năm, có ông Cống Quỳnh là Tri phủ Thái Bìnhnăm 1718. Tên thật ông là Nguyễn Quỳnh, người làng Bột, tỉnh Thanh Hóa. Thi Hội nhiều lần bị hỏng, nên ngoài tên gọi ông Cống, dân gian gọi ông là Cống Qùynh. Theo giai thoại khi đi sứ, vua Tầu thử tài và được phong Lưỡng Quốc Trạng Nguyên (?) nên có tên là Trạng Quỳnh.

Ông Cống Quỳnh thành danh qua giai thoại bà Đoàn Thị Điểm tiếp sứ nhà Thanh:

Ở bến đò, ông Cống Quỳnh đã mặc giả làm chú lái, cầm sào đợi sẵn… Đò ra giữa dòng sông, một tên trong đoàn sứ bộ hổng ruột, lỡ xổng ra một tiếng “bủm”. Hắn đã không biết sượng mặt, còn đọc một câu chữa thẹn: “Lôi động Nam bang” (Sấm động nước Nam). Ông Cống Quỳnh đang chèo, liền đứng thẳng, vạch quần đái vổng cần câu xuống nước mà nói: “Vũ qua Bắc hải” (Mưa qua bể Bắc).

Ngoài ra, còn thêm một giai thoại khác nữa là nhân lúc bà Đoàn Thị Điểm đang tắm, ông Cống Quỳnh đứng ngoài cứ nằng nặc đòi vào xem. Bà Đoàn Thị Điểm nói nếu đối được câu này thì cho vào: Da trắng vỗ bì bạch. Ông Cống Quỳnh không đối lại được.
(…) Cho đến nay cũng chưa ai đối được vế đối hóc hiểm ấy.

1 – Tên sông Trà Lý, có truyền thuyết cho rằng vì ông tổ của họ Trần tên Trần Lý.

Từ Trần Lý, dân gian đọc trại là Trà Lý (?).

Trên sông Luộc có cầu tên “cầu Lê”. Lê là họ của mẹ Trần Cảnh.

Sông Hóa thuộc huyện Quỳnh Côi, Phụ Dực, một địa danh Hưng Đạo Vương năm 1288 phá tan quân Mông Cổ ở khúc sông này.

2 – Thái Bình được sấm ký Trạng Trình ghi chép như ở trên:

“Dù mày đánh bắc dẹp đông – Mười hai phủ huyện của ông thì chừa.

Thế nhưng chiến tranh chưa tới đã gặp phải nạn đói năm Ất Dậu. Để rồi dân Thái Bình tha phương cầu thực, nhưng vẫn không quên cái máu Thái “lọ” trong người:

“Thái Bình là dân ăn chơi – Tay bị tay gậy khắp nơi tung hòanh”.

3 – Thái Bình không bao giờ có tai nạn giao thông đường sắt.
Thái Bình là tỉnh không có đồi núi.
Số người dân Thái Bình đi làm ăn xa nhiều nhất so với các nơi khác.

Trước năm 54, mật độ dân số Thái Bình cao nhất nước: 10.000 người một cây số vuông. Năm Ất Dậu 1945 Thái Bình có số người chết đói cũng nhiểu nhất nước.
4 – Múa rối nước xuất hiện từ thời Lý (1010-1225), là một nghệ thuật kết hợp giữa các nghệ nhân, quân rối, buồng trò…Múa rối nước Thái Bình có 7 phường hội cổ truyền ở các làng Nguyễn, Tăng, Tuộc, Đống, Kỳ, Hội, và (?) thuộc huyện Đông Hưng.

Con rối được làm bằng gỗ mít, bên ngoài phủ sơn để chống thấm nước. Mỗi con rối là một tác phẩm điêu khắc dân gian, mỗi con một vẻ thể hiện một tính cách. Nhân vật tiêu biểu nhất là Chú Tễu, thân hình được cải trang bụ bẫm với nụ cười hóm hỉnh. Mỗi buổi biểu diễn rối nước, Chú Tễu ra giới thiệu, hai tay chỉ trỏ, miệng hát lời dọn đám. Nghệ nhân khi biểu diễn phải ngâm mình dưới nước để điều khiển con rối theo các diễn biến của vở diễn. Nhạc đệm cho cuộc diễn là bộ gõ gồm trống, mõ, thanh la.

5 – Ca dao thách cưới, thách cheo một thời ở làng Keo:

Em là con gái làng Keo
Em ra thách cưới, thách cheo với chàng
Xin chàng chín chiếc tầu sang
Mỗi tầu hai chiếc xà lan đi kèm
Tầu thì gạo trắng, gân bò
Tầu thì rượu nếp với vò rượu tăm
Lá đa hái giữa đêm rằm
Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên lôi
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi
Lại thêm chín chục con giơi góa chồng

Ca dao cô gái làng Bộ La, cạnh làng Keo:

Cha đời con gái Bộ La
Làm mắm mắm thối làm cà cà thâm

6 – Làng Nguyễn (huyện Đông Hưng) có một loại bánh đặc trưng cho là: Bánh cáy.

Như bánh gai không có “gai” làm nhân. Thế nên bánh cáy cũng không có…”con cáy, con còng” nào ở trong bánh cả. Lý do có thể vì bánh hơi cay khi ăn nên gọi là bánh cay, rồi dần dần gọi trại thành bánh cáy chăng?
Theo giai thoại ở một làng tại Thái Bình: Vì thần hoàng làng tên “Tôm”. Vì kỵ húy nên con tôm được gọi là con tép.

Được gọi là ổi Bo vì ổi trồng ở làng Bo, xã Hoàng Diệu. Câu đối làng Bo: Bò lang chạy vào làng Bo. Bò lang là bò có lông loang lỗ – Làng Bo nói lái “bò lang” là làng Bo.

7 – Người Thái Bình làm lớn nhất nước là thiền sư Dương Không Lộ.

Dưới thời vua Lý Thần Tông, thiền sư là quốc sư (danh vị cho người tu hành), tức tể tướng (danh vị cho dân thường), chức vụ tương đương với thủ tướng bây giờ.
8 – Thả đèn trời được ghi chép từ năm 1900 trong “Thái Bình phong vật chí”, ở xã Trình Phố (huyện Tiền Hải). Lệ đặt ra là làm đèn giấy bằng cái sọt to, dán giấy kín xung quanh, chừa hở phía dưới còn trong đặt bát mỡ có bấc để đốt. Khi thi, đốt đèn tự bay lên cao, đèn nhà nào bay cao nhất mà không bị cháy thủng là thắng cuộc. Lệ thi đèn này có nguồn gốc từ phép treo đèn của Khổng Minh đời Tam Quốc bên Tàu.

Thi đốt Đèn trời trong ngày Tết, ngày lễ còn có hàm ý tâm linh xua đuổi bóng đêm và ma quỷ. Và người thắng trong cuộc thi sẽ được may mắn cả năm.
9 – Tỉnh lỵ Thái Bình khi mới thành lập năm 1890, đặt tại xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên. (thời Thành Thái). Sau tỉnh ly mở rộng sang các huyện lân cận thành thị xã Thái Bình, rồi thành tỉnh Thái Bình. Tỉnh Thái Bình đông giáp huyện Kiến Xương và huyện Đông Hưng; tây giáp huyện Vũ Thư; nam giáp huyện Vũ Thư; bắc giáp huyện Đông Hưng.

10 – Thái Bình là tỉnh duy nhất ở nước ta có cả 4 mặt giáp với sông hoặc biển.
Thạch trúc gia trang
Lập xuân, Giáp Ngọ 2014

Nguồn:
Góp nhặt sỏi đá theo Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Khắc Ngữ, Duyên Anh, Băng Đình và Thái Bình Địa Dư Chí, Thái Bình phong vật chí, Nam Định địa dư chí, Nam Định phong vật chí.
Ngoài ra một số chi tiết được gom góp qua những tác giả ba đời tay bị tay gậy khắp nơi tung hòanh như Hoàng Nguyên Linh, Nguyễn Văn Thọ, Văn Chính và Lê Viết Thiếp.
Những tác giả…”ngụ cư” là Nguyễn Thanh, Phạm Trọng Chánh và Thúy Sơn.

Phí Ngọc Hùng

Theo Chim việt Cành Nam