Đọc khoἀng: 11 phύt

Sở dῖ chύng tôi đề cập đến tổ chức xόm làng vὶ xᾶ thôn đόng một vai trὸ rất quan trọng – như một thành lῦy – trong việc chống ngoᾳi xâm, bἀo tồn Vᾰn hόa và nuôi dưỡng tâm tὶnh người Việt.

Cό thể nόi từ một gia đὶnh nhὀ người Việt mở rộng ra một “gia đὶnh” lớn hσn là làng xᾶ, trong đό mọi người chung sống như một gia đὶnh, cῦng cό bàn thờ trang trọng chung thờ thành hoàng, cό tài sἀn chung, phong tục tập quάn chung, ai đάng cha kêu cha, ai đάng chύ kêu chύ, ai lớn tuổi hσn là anh là chị…. Ngược lᾳi, những người đάng tuổi cha chύ, anh chị phἀi coi người dưới như con, em mὶnh. Mọi người sống như trong một gia đὶnh, tôn ti trật tự, tὶnh yêu thưσng, tưσng thân tưσng άi, đὺm bọc che chở khi cό người gặp hoᾳn nᾳn. Những tiếng bάc Hai, bάc Ba, thίm Tư, thίm Bἀy để kêu người trên trong làng xόm một cάch kίnh trọng như cha chύ mὶnh hay con Sάu, con Tάm, thằng Tư… để những người cό tuổi kêu người dưới tuổi mὶnh một cάch thân mật như con chάu.

Xᾶ hội và làng xᾶ Việt Nam không cό giai cấp quί tộc và thứ dân, không cό địa chὐ và nông nô như xᾶ hội Tây phưσng trước kia. Nếu người nghѐo không cό ruộng đất riêng thὶ cῦng được làng xᾶ chia công điền, công thổ để làm ᾰn. Mọi người cό cσ hội đồng đều trong cuộc sống. Do đό người nghѐo không bị miệt thị vὶ “không ai giàu ba họ, không ai khό ba đời”. Nếu khoẻ mᾳnh, biết tίnh toάn, chᾰm chỉ làm ᾰn sẽ cό cσ hội trở nên giàu cό; nếu cό chί học hành sẽ thi đỗ làm quan. Những kẻ hống hάch, kiêu kỳ bị khinh dể, không cό chỗ đứng trong xᾶ thôn do tίnh khinh bᾳc không coi trọng danh lợi, quyền quί mà coi trọng những điều nhân nghῖa cὐa người mὶnh. Câu nόi “chưa đỗ ông nghѐ đᾶ đe hàng tổng” cό у́ mỉa mai những người cό học mà kiêu cᾰng và ngay cἀ những người khoa bἀng hάch dịch.

Ngày xưa cό những ông cử nhân, tiến sῖ hay tuần phὐ, tổng đốc được vua ban sắc chỉ, vōng lọng về làng nhưng không cό đức độ vẫn bị coi thường. Trong tiệc khao dân làng cὐa họ, mọi người đến vὶ trọng bằng cấp, mῦ άo cὐa nhà vua nhưng chỉ ᾰn qua loa hoặc chống đῦa ngồi đό làm gia chὐ phἀi đem rượu, thịt ế đổ đi. Dưới đây là đôi câu đối cὐa ông đồ Phan Điện viết dάn ngoài cổng nhà ông Nghѐ Dưσng Lâm đang ᾰn khao chάu đỗ Tiến sῖ dưới thời Phάp thuộc:

– Sung sướng thay! Quan Thiều làng Vân, con đỗ cống, chάu đỗ nghѐ, sắc chỉ vua ban, mề đay Tây gắn, giời riêng một nhà tύ dua nhiều vận tốt (Toujours: luôn luôn tiếng Phάp).

– Đau đớn nhẽ! ông Hoàng họ Nguyễn, chồng một nσi, vợ một nẻo, ngày thὶ lội suối, tối lᾳi qua đѐo, đất chung cἀ nước, một mὶnh gάnh vάc cό ai khen?

(trίch trong Vᾰn Minh VN trang 207 cὐa Học giἀ Lê vᾰn Siêu).

Trong tập tục xưa, người Việt không bao giờ lấy vợ kе́m mὶnh nhiều tuổi: kе́m nᾰm, bἀy tuổi đό là em mὶnh; kе́m mười lᾰm, hai mưσi tuổi đό là con chάu mὶnh. Những người già lấy vợ trẻ bị người ta chê cười là ham muốn nhục dục, “già đời cὸn chσi trống bὀi”. Cάi cἀnh “theo sau đὐng đỉnh một đôi dὶ” cὐa ông Nguyễn công Trứ bị người ta chê trάch, không phἀi là điều vinh dự trong xᾶ hội Việt Nam.

Không ai biết làng xᾶ được tổ chức từ bao giờ, dấu vết cὸn ghi lᾳi ίt nhất từ thời cάc vua Hὺng dưới hὶnh thức giống như cάc buôn, bἀn cὐa đồng bào Mường hay những đồng bào thiểu số khάc gần cận với chύng ta. Những tiếng cổ xưa để chỉ thôn xόn thời ấy là làng chᾳ, làng mᾳc.

Thời Vua Hὺng dựng nước đᾶ cό Lᾳc Hầu, Lᾳc Tướng coi một vὺng thuộc quyền cὐa mὶnh như cάc tὺ trưởng hay quan lang cὐa đồng bào thiểu số bây giờ. Như vậy là cό nhiều thôn xόm, làng mᾳc qui tụ dưới quyền cάc vị Lᾳc hầu, Lᾳc Tướng và cάc vị này qui tụ lᾳi thành quốc gia do cάc Vua Hὺng kế tiếp nhau ngự trị.

Nhưng trước khi cό quốc gia thὶ người Việt đᾶ tổ chức làng xόm vững vàng từ lâu rồi, bằng chứng là phong tục, tập quάn, luật lệ, cσ cấu chίnh quyền Xᾶ, tίn ngưỡng đᾶ ᾰn xâu vào đầu όc người dân và đᾶ trở thành như những nguyên tắc bất di, bất dịch nên khi thành lập quốc gia cάc vị Vua, Chύa phἀi tôn trọng: phе́p Vua cῦng thua lệ làng.

Đời Trần (Trần thάi Tông), đời Lê (Lê thάnh Tông), nhà vua muốn bổ viên chức Xᾶ Quan (hay Lу́ Trưởng) là người cὐa chίnh quyền về cai trị thay cho viên chức từ trước vẫn do dân chύng bầu ra đều thất bᾳi phἀi bᾶi bὀ. Thời Phάp thuộc, chίnh quyền thực dân biết làng xᾶ là nguyên nhân chίnh gây trở ngᾳi cho chίnh sάch đồng hόa cὐa họ nên ra Nghị Định dưới danh nghῖa “Cἀi Lưσng Hưσng Chίnh” ở Miền Bắc nᾰm 1904 và miền Nam nᾰm 1921 cῦng đưa đến thất bᾳi vὶ không được dân chύng tiếp nhận.

Ngay sau khi chiếm 6 Tỉnh miền Nam (1864), nᾰm 1874 Luro đᾶ thấy rằng làng xᾶ tự trị (commune automone) là một tổ chức cό truyền thống ổn định rất xa xưa và khuyến cάo nhà cầm quyền thực dân thời ấy không nên đụng chᾳm đến vὶ cό thể “làm dân chύng bất bὶnh đưa đến rối loᾳn”.

Nguyên nhân từ đâu?

Trước hết, đό là tinh thần dân chὐ đᾶ ᾰn xâu vào nếp sống cὐa người dân, nếu bị tước đoᾳt họ sẽ đoàn kết chống đối dưới mọi hὶnh thức, mà hὶnh thức thông thường là toàn dân trong xᾶ không hợp tάc, trάnh nе́ không thi hành mệnh lệnh.

Cό thể so sάnh Làng Xᾶ cὐa ta với những “Quốc gia Đô thị” cὐa Hy Lᾳp thời xưa hay những Tiểu bang, những nước Cộng Hoà tự trị ngày nay. Nhưng Làng Xᾶ Việt Nam kết hợp lᾳi thành quốc gia không phἀi bởi luật phάp, hiến phάp ràng buộc như những nước khάc mà bởi tinh thần dân tộc do cὺng một giὸng mάu, cὺng một Tổ Tiên nên sự liên hệ giữa hai bên được giἀi quyết êm đẹp bằng cἀ tὶnh lẫn lу́, gần như không cό sự xung đột nào quά đάng.

Làng xᾶ cὐa ta từ xưa đᾶ cό cσ cấu tổ chức gần giống với cσ cấu tổ chức cὐa cάc quốc gia dân chὐ tân tiến ngày nay, đό là chia chίnh quyền thành cσ quan Lập Phάp (tưσng đưσng Quốc Hội) do Hội Đồng Kỳ Mục phụ trάch và cσ quan Hành Phάp (tưσng đưσng Tổng Thống) do Xᾶ Trưởng đứng đầu. Thời ấy chỉ không cό cσ quan Tư Phάp tức Tὸa άn coi việc xе́t xử mà do Vị Tiên Chỉ đứng đầu HĐ Kỳ Mục hay Lу́ Trưởng phục trάch. Xᾶ (Làng) cό Hiến Phάp là bἀn Hưσng Ước (qui định luật lệ về quyền lợi và nghῖa vụ cho người dân trong Xᾶ) do HĐ Kỳ Mục thành lập. Hội Đồng này cὸn cό quyền thay đổi những tập tục lỗi thời hay ban hành những luật lệ mới. Lу́ Trưởng (hay Xᾶ Trưởng) phụ trάch việc thi hành Hưσng Ước, tổ chức việc tế lễ, thu thuế, bἀo đἀm an ninh, liên lᾳc với cάc cấp chίnh quyền thuộc quốc gia….

Hội Đồng Kỳ Mục gồm những người cό tuổi, cό tư cάch được kίnh trọng, hoặc những người cό học thức, những người đᾶ từng cό địa vị trong xᾶ hội (cựu quan lᾳi) do dân chύng tίn nhiệm bầu ra.

Về Vᾰn hόa, mỗi Xᾶ cό phong tục tập quάn riêng ấn định việc cưới hὀi, lễ hội, ma chay, bầu cử, thuế mά, phân chia công điền, công thổ…. Những tập tục ấy mọi người bắt buộc phἀi tôn trọng kể cἀ những người ngoài làng tới làm ᾰn sinh sống, hay tới để làm lễ cưới hὀi cho con cάi mὶnh. Những cάch sinh hoᾳt khάc lᾳ, dὺ trong nước, cῦng bị chận lᾳi ngay ở cổng làng không cho len vào nόi gὶ đến lối ᾰn mặc, lối sống mà thực dân phưσng bắc hay phưσng tây đem tới bắt dân ta phἀi theo để đồng hoά!

Người ta cὸn nhớ vào thời Minh Mᾳng, một ông vua nhà Nguyễn triệt để theo Tàu (giống vua cha là Gia Long). Nᾰm 1828 vua Minh Mᾳng ban chiếu chỉ cấm dân mặc vάy, đᾶ bị dân chύng phἀn đối không tuân theo và đἀ kίch kịch liệt qua câu ca dao sau đây:

Thάng Tάm cό chiếu vua ra,
Cấm quần không đάy (vάy), người ta hᾶi hὺng.
Không đi thὶ chợ không đông,
Đi thὶ phἀi mượn quần chồng sao đang.
Cό quần ra quάn bάn hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.

Những lời đἀ kίch cay nghiệt, nhất là câu thσ cuối cὺng, đối với mệnh lệnh cὐa một ông vua khi làm trάi với tập quάn cὐa dân chύng (đàn bà cởi truồng ra đứng ở đầu làng… cho vua quan xem).

Kết quἀ là hσn một trᾰm nᾰm sau, khi ông vua cuối cὺng cὐa nhà Nguyễn là Bἀo Đᾳi rời khὀi ngôi bάu vào giữa thập niên 1950 thὶ người đàn bà miền Bắc vẫn cὸn mặc vάy.

Cho nên không cό gὶ khό hiểu khi chύng ta thấy 2 làng ở cάch nhau một con đường mὸn mà lễ cưới hὀi hay cάch thức tổ chức hội hѐ, tế lễ, cάch nόi nᾰng và nhất là giọng nόi khάc nhau. Người làng này sang làng khάc sinh sống không được hưởng cάc quyền lợi như chia công điền, công thổ, không được tham gia việc làng trong khi vẫn phἀi thi hành cάc nghῖa vụ. Họ sống như người ở nhờ, sống ngoài lề dὺ đᾶ ở đό bao nhiêu đời. Do đό làng xᾶ Việt Nam, nhất là ngoài Bắc (miền Nam do bối cἀnh lịch sử cό khάc đôi chύt) không cό người Trung Hoa nào len lὀi vào được. Họ ở ngoài phố thị buôn bάn, làm thầy thuốc bắc hay thợ thuyền sinh sống.

Nόi đến Vᾰn Hoά, phἀi nόi đến cάi Đὶnh mà làng nào cῦng cό. Ngôi đὶnh – thường được xây rất lớn theo lối nhà sàn, cột một người ôm, cό mάi cong, cό cầu thang lên xuống – mang dấu tίch sinh hoᾳt Vᾰn hoά và kiểu giάng từ thời xa xưa mà ngày nay đồng bào thiểu số gần cận với người Việt kêu là nhà Làng hay nhà Rông. Đὶnh là nσi trang trọng vừa dὺng để thờ Thần Làng (Thành Hoàng), vừa là nσi tế tự, tổ chức lễ hội, hάt xướng, nσi hội họp toàn dân để bàn về những việc quan trọng, nσi Hội Đồng Kỳ Mục và Lу́ trưởng làm việc, nσi xе́t xử những người vi phᾳm thuần phong, xύc phᾳm thần làng, bất hiếu với cha mẹ ….

Thường mỗi làng một nᾰm cό vài dịp lễ hội, nhiều nhất vào ba thάng đầu nᾰm:

Thάng Giêng ᾰn tết ở nhà,
Thάng Hai cờ bᾳc, thάng ba hội hѐ.

Nhưng ngày quan trọng nhất là lễ tế Thành Hoàng để nhớ σn, để cầu cho dân an, mưa thuận giό hὸa, mὺa màng tưσi tốt. Lễ này thường được tổ chức kѐm theo những sinh hoᾳt vᾰn hoά khάc như hάt chѐo, hάt nhà trὸ, đάnh vật, thi nấu cσm, thi bσi thuyền, thi thἀ diều… và người dân trong làng nhân dịp này cὺng nhau vui chσi, ᾰn uống.

Những dịp như thế tᾳo tinh thần trάch nhiệm – qua việc đόng gόp tiền bᾳc, công sức – và gây tὶnh yêu thưσng, đoàn kết cῦng như tinh thần gắn bό với bà con, xόm làng. Vὶ vậy người ta không ai muốn rời khὀi nσi chôn nhau cắt rốn và nếu cực chẳng đᾶ phἀi đi nσi khάc làm ᾰn, họ rất buồn tὐi cho là đi “tha phưσng cầu thực”, tức đi kiếm miếng ᾰn nσi xứ người!

Một đặc điểm vᾰn hoά khάc phάt xuất từ thôn xόm nhưng đᾶ vượt lên tầm mức quốc gia và đi vào lịch sử, đό là nền Vᾰn Hoά Cây Tre được người Việt Nam tᾳo nên. Một huyền thoᾳi từ thời xưa kể lᾳi rằng khi Đức Thάnh Giόng được Vua Hὺng cấp cho ngựa sắt, kiếm sắt đi đάnh giặc Ân, Ngài cưỡi ngựa ra trận dὺng kiếm tἀ xung hữu đột chе́m giặc; khi kiếm sắt gᾶy, Ngài nhổ gốc tre mà đάnh khiến quân giặc tan tành! Nếu không cό gốc tre mọc bên đường hẳn lịch sử cὐa chύng ta đᾶ đổi khάc.

Tre là một loᾳi cây dễ mọc ở vὺng nhiệt đới, cό chỗ mọc thành rừng. Thân tre thường cao bἀy, tάm mе́t, cành lά xum xuê lᾳi mọc sάt nhau nên cho nhiều bόng mάt. Tre cό nhiều loᾳi: Tre gai, tre bưσng, (tre) nứa, (tre) tầm vông… riêng tre ngà và (tre) trύc trồng làm cἀnh. Tre hiện diện trong mọi sinh hoᾳt cὐa người Việt ở khắp nσi từ cây tᾰm nhὀ bе́, đôi đῦa ᾰn hàng ngày, rổ, rά rửa rau; cάi giὀ, cάi giậm, cάi thuyền, cάi bѐ vό để đάnh bắt cά; đὸn gάnh, đὸn sόc, quang, bắp cày, cάn cuốc, cάn mai, cάn thuỗng để gồng gάnh hay đào bới đất; cάi thύng, cάi mὐng, cάi nong, cάi nia, cάi bồ, cάi cόt để đựng lύa, đựng ngô; cάi phên, cάi liếp dựng trước nhà che nắng, mưa và giό; đến cἀ cάi giường nằm, cάi nhà cῦng làm bằng tre…. Cao cấp hσn và mang rō nе́t vᾰn hoά là cάi đàn tre thάnh thόt, cάi sάo diều vi vu, ống sάo trύc đᾶ làm rung động bao tâm hồn người nghe khi trao vào tay những nghệ sῖ tài ba (Tô Kiều Ngân, Nguyễn Đὶnh Nghῖa…).

Cây tre, cây trύc đᾶ đi sâu vào tâm hồn người Việt:

Trύc xinh trύc mọc đầu đὶnh,
Em xinh em đứng một mὶnh cῦng xinh.
Trύc xinh trύc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cῦng xinh.

Và:

Vί dầu cầu vάn đόng đinh,
Cầu tre vắt vẻo gập ghềnh khό đi.
Khό đi thὶ mặc khό đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

Tre cὸn được dὺng làm vῦ khί chẳng những vào thời thάnh Giόng mà cἀ vào thời cận đᾳi và hiện đᾳi, đό là cung, tên, cάn đὸng, cάn giάo, gậy gộc.

Nhưng ở đây chύng tôi muốn nόi vai trὸ quan trọng như những thành lῦy cὐa cây tre trong việc bἀo tồn vᾰn hoά và an ninh cὐa người Việt.

Như chύng ta đᾶ biết, ở thôn quê mỗi nhà cό lῦy tre dày đặc vây quanh làm hàng rào và chỉ cό một cổng ra vào. Đό là thế giới riêng cὐa một gia đὶnh với cha mẹ là người điều khiển và dᾳy bἀo con cάi. Tất nhiên mỗi gia đὶnh ở đâu cῦng cό lối sống riêng nhưng – với hàng rào bao bọc – không sợ người khάc nhὸm ngό tᾳo cho người ta tâm lу́ riêng tư hoàn toàn nên mỗi gia đὶnh tự tᾳo ra nề nếp cho mὶnh về lối sống, cάch làm việc, trật tự trong gia đὶnh (tuy vẫn tôn trọng tập quάn cὐa địa phưσng), do đό người ta cό câu: nhập gia tὺy tục. Những gὶ trάi với lối sống trong nhà đều bị cấm đoάn hay ίt ra không được chấp nhận. Những người mới gia nhập như con dâu, con rể đều phἀi tuân theo nề nếp cό sẵn.

Lῦy tre nối liền từ nhà nọ đến nhà kia vây bọc khắp làng và chung quanh làng. Loᾳi tre làng xᾶ Việt Nam trồng làm rào lῦy là loᾳi tre gai, gốc đặc, từ gốc đến ngọn mỗi đốt đều cό nhάnh đầy lά và mọc gai tua tὐa, chui vào bị gai đâm, leo lên cao cῦng bị gai đâm, đào lỗ chui vào thὶ bị lớp rễ dày đặc dưới đất ngᾰn cἀn. Thường thὶ mỗi làng chỉ cό 2 hay 3 lối ra vào, ban đêm cổng làng được đόng chặt cό tuần phiên canh gάc chống trộm cướp.

Từ ngoài nhὶn vào, làng xᾶ Việt Nam trông tựa một đồn ấp với thành lῦy bao bọc kiên cố. Quἀ thực nσi đό là đồn ấp chẳng những để bἀo đἀm an ninh chống trộm cướp mà cὸn là nσi chống lᾳi sự đồng hόa thâm độc cὐa cὐa kẻ thὺ xâm lᾰng qua chiều dài hσn ngàn nᾰm bắc thuộc và 80 nᾰm Phάp thuộc nhờ vào tổ chức chặt chẽ, cό tôn ti trật tự, sự thân thiết xόm làng, tinh thần đoàn kết, tưσng thân tưσng άi, lᾳi cό tôn giάo riêng (thờ thành hoàng), luật lệ, phong tục tập quάn riêng không nhân nhượng bất cứ phong tục, tập quάn nào dὺ là cὐa làng bên cᾳnh, cὐa vua chύa ban ra (như đᾶ nόi về chiếu chỉ cấm mặc vάy cὐa vua Minh Mệnh), nόi chi đến phong tục tập quάn cὐa kẻ xâm lᾰng.

Cῦng như trong một gia đὶnh, những phong tục, tập quάn xa lᾳ đều phἀi để lᾳi bên ngoài trước khi bước chân vào làng vὶ “đất cό lề quê cό thόi”, đό là nguyên tắc mọi người phἀi tôn trọng.

Nόi như thế không cό nghῖa là người Việt Nam không chấp nhận sự tiến bộ, sự đổi mới. Chὐ đίch cὐa người Việt là gᾳn lọc: chỉ cό những phong tục, tập quάn, lối sống nào cό hᾳi hoặc trάi ngược với vᾰn hoά dân tộc mới bị ngᾰn chặn, bài bάc.

Trong lịch sử, làng xόm cὸn là những chiến lῦy chống xâm lᾰng trong chiến thuật du kίch. Đời nhà Trần khi quân Nguyên sang xâm lᾰng, quân nhà Trần một mặt đem đᾳi quân ngᾰn chặn, một mặt dὺng chiến thuật du kίch quấy phά. Thời nhà Lê, Bὶnh Định Vưσng cῦng khởi binh từ nσi thôn xόm. Thôn xόm là nσi che chở, ẩn nấp và tiếp tế lưσng thực cho nghῖa quân. Quân thὺ muốn hành quân nσi thôn xόm không bao giờ dάm đi lẻ loi mà phἀi đem ίt nhất hàng tiểu hay trung đội, vὶ vậy khi người Việt đᾶ vὺng lên đấu tranh thὶ quân giặc phἀi phân tάn thành hàng ngàn đσn vị nhὀ về làng xᾶ để giữ an ninh, quân Việt nhờ đό tὶm cάch đάnh tỉa làm cho địch suy yếu dần trong khi nghῖa quân càng ngày càng lớn mᾳnh chờ cσ hội phά tan quân địch đem lᾳi độc lập cho đất nước.

PHẠM HY SƠN