Đọc khoἀng: 13 phύt

Nguyễn Hoàng, tục danh là chύa Tiên, theo cάch giἀi thίch cὐa sử thần Nguyễn Khoa Chiêm là do đưσng thời rất trọng đᾳo giάo tu tiên cὐa Lᾶo Tử, cῦng là vị chύa khởi nghiệp cὐa Nguyễn triều. Ông chὐ trưσng kiến lập quyền vưσng đối trọng với họ Trịnh phίa Bắc, đề xuất tάo bᾳo đường lối tam tiến, đặt một cột mốc quan trọng trong quά trὶnh mở cōi cὐa dân tộc.

Từ chὐ kiến biến thành hiện thực là một chuỗi thử thάch liên tục hσn nửa đời người, trἀi dài từ nửa sau thế kỷ XVI vắt qua hσn một thập niên đầu cὐa thế kỷ kế theo. Thời thế tᾳo anh hὺng. Cục diện chίnh trị đᾶ thύc bάch hành động tiến bước về Nam cὐa người anh hὺng Nguyễn Hoàng: nᾰm 1611 lập phὐ Phύ Yên, nối dài lᾶnh thổ thêm hσn 1 vῖ độ, làm bàn đᾳp chắc chắn cho hướng đi cὐa lịch sử thời trung đᾳi Việt Nam.

Dựng nước, giữ nước và mở cōi nhất thống trong cὺng tiến trὶnh hσn 3000 nᾰm cὐa dân tộc. Nguyễn Hoàng hoàn toàn xứng đάng được vinh danh người anh hὺng bên cᾳnh cάc tên tuổi lẫy lừng trên một chặng đường nhiều thάch thức nghiệt ngᾶ nhưng đầy kiêu hᾶnh và mặc nhiên trường tồn ấy

Nguyễn Hoàng xuất thân dὸng dōi đᾳi công thần, cha là Hưng Quốc công Nguyễn Kim, người cό công đầu trong sự nghiệp trung hưng triều Lê. Ông ra làm quan với tước Hᾳ Khê hầu, từng chе́m chết tướng giặc Trịnh Chί, được vua Lê Trang Tông “yên uỷ khen rằng: thực là cha hổ sinh con hổ!” [1], sau vua Lê Trung Tông phong đến Đoan Quận công. Bị Thάi sư Trịnh Kiểm dồn е́p nghi kỵ, Nguyễn Hoàng tὶm cάch thoάt thân bằng sợi dây tὶnh cἀm gia đὶnh qua bà chị Ngọc Bἀo, cῦng là vợ cἀ cὐa họ Trịnh: xin cho vào trấn đất Thuận Hoά. Quyết định lựa chọn duy nhất này cὐa họ Nguyễn đᾶ tᾳo nên một cục diện chίnh trị độc đάo và mở ra tiền lệ hiếm hoi trong toàn bộ tiến trὶnh lịch sử dân tộc Việt Nam.

Những thành công ban đầu.

Thực vậy, bόng dάng cὐa một vị chân chύa tưσng lai đᾶ hiện ra qua lời tâu thâm sâu đầy ẩn у́ cὐa Thάi sư Trịnh Kiểm với vua Lê Anh Tông khi bàn về kế sάch chống Mᾳc. Nᾰm Mậu Ngọ (1558) thάng 10, chầu vua ở nσi hành tᾳi, Thάi sư dâng biểu: “Xứ Thuận Hoά là một kho tinh binh trong thiên hᾳ, buổi đầu, quốc triều ta bắt đầu gây dựng cσ nghiệp, cῦng đᾶ dὺng dân xứ ấy để diệt giặc Ngô [Minh]. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khί cưσng cường, lᾳi cό nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vὺng trọng yếu, không xứ nào hσn. Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục nᾰm mới lấy được. Vậy nên hết sức bἀo vệ, để làm một bức bὶnh phong vững chắc… Hᾳ thần xе́t thấy con trai thứ cὐa Chiêu Huân Tῖnh công là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tῖnh cưσng nghị, lᾳi cό mưu lược, đối với quân sῖ cό độ lượng khoan dung giἀn dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thὐ, để trị an nσi biên thuỳ và chống giặc ở miền Bắc kе́o vào; và lᾳi cὺng với Trấn Quận công ở xứ Quἀng Nam, cὺng làm thế cứu viện lẫn nhau. Hết thἀy cάc việc to nhὀ ở địa phưσng ấy, xin đều để ông được tuỳ nghi định đoᾳt; lᾳi xin uỷ cho ông thu cάc sắc thuế, nộp về triều đὶnh đύng kỳ hᾳn, để thêm vào sự chi tiêu trong nước. Như vậy thὶ một vὺng Ô Châu, khὀi phἀi để у́ lo tới, hᾳ thần sẽ khὀi phἀi phân tâm, mà chỉ dốc hết у́ chί về việc Đông chinh: bắt đầu kinh lу́ xứ Sσn Nam và xứ Sσn Tây, rồi thứ đến khôi phục kinh đô cῦ [Đông Đô], tiễu trừ thoάn nghịch. Nghiệp trung hưng cό thể sớm thành công” [2].

Việc trấn giữ xứ Thuận Hoά cὐa Nguyễn Hoàng thành công trên cἀ sự mong đợi cὐa triều đὶnh, bên trong thὶ “vỗ về chᾰn dắt quân và dân, thu dὺng những người hào kiệt; giἀm sưu nhẹ thuế; lὸng người mến phục. Thời bấy giờ gọi là chύa Tiên” [3], bên ngoài ngᾰn chặn quân Mᾳc xâm nhập, “cὺng với trấn thὐ Quἀng Nam Trấn Quốc công (Bὺi Tά Hάn) cứu giύp lẫn nhau” [4]. Với uy tίn đang lên, trong lần ra chầu vua Lê tᾳi Thanh Hoa, Nguyễn Hoàng tiếp tục được Trịnh Kiểm, lύc này đᾶ là Thượng tướng Thάi Quốc công, dâng biểu xin cho “đi cάc xứ Thuận Hoά và Quἀng Nam, thống suất binh tượng, thuyền bѐ và trấn thὐ để cōi phiên trấn được vững mᾳnh” [5]. Trọng trάch mới này càng làm nổi bật vai trὸ đἀm lược cὐa ông trên cưσng vị Tổng trấn tướng quân, nhất là nhằm lύc Trịnh Kiểm qua đời, “trong nhà lục đục, hai xứ Thanh Hoά và Nghệ An đều lay động, duy hai xứ Thuận Quἀng vẫn yên lặng” [4]. Càng vượt trội khi so ông với người đồng chức – đồng liêu từng trấn quἀn Quἀng Namtrước đό mà lύc này đang giữ Nghệ An trong tὶnh hὶnh quân Mᾳc đột nhập giữa nᾰm 1571: “Viên thổ tướng là Nguyên Quận công Nguyễn Bά Quу́nh, vừa nghe tin quân giặc kе́o đến, đᾶ vội vàng chᾳy trốn trước. Xứ Thuận Hoά và xứ Quἀng Nam cῦng dao động. Nhưng viên tướng trấn thὐ hai xứ này là Nguyễn Hoàng, sẵn cό danh vọng uy tίn, lᾳi nhiều mưu lược quyền biến, khống chế trong hᾳt bằng quân luật nghiêm khắc, cό viên bộ tướng nào định hàng giặc ông đều bắt giết hết. Bởi thế quân họ Mᾳc không thể phᾳm tới hai xứ này” [2].

Tίnh cάch kiên quyết cὺng với quân lệnh nghiêm minh đᾶ giύp cho đội quân dưới trướng cὐa Nguyễn Hoàng dῦng mᾶnh đάnh bᾳi đối thὐ. Ngay cἀ quyền uy tối thượng cὐa triều đὶnh như Trịnh Kiểm cῦng phἀi kiêng nể ông ở phẩm chất này, như lời cὐa chίnh cάc sử gia Lê – Trịnh chе́p lᾳi: “viên phό tướng trung cσ là Bύt Xuyên hầu thấy Thượng tướng [Trịnh Kiểm] bị ốm, ngầm chứa mưu gian, việc bị phάt giάc, bὀ trốn, nhưng bị đuổi theo bắt về. Thượng tướng định tha tội, Hoàng cố can, mới giết” [5]. Không chỉ nắm binh quyền trong tay, Nguyễn Hoàng cὸn sở hữu những mưu lược hết sức khôn khе́o. Nhờ vậy, vào nᾰm 1572, “Tướng trấn giữ xứ Hἀi Dưσng là nguỵ Lập Quận công, đem thuỷ quân gồm hσn bἀy mưσi chiến thuyền, dὺng nguỵ Tiên Quận công [Trịnh Cối] làm hướng đᾳo, do đường biển vào đάnh cướp xứ Thuận Hoά và xứ Quἀng Nam, thổ dân nhiều người ra hàng. Viên trấn thὐ là Nguyễn Hoàng, bày kế đάnh lừa Lập Quận công tới, rồi chе́m y ngay giữa sông, quân họ Mᾳc liền tan vỡ, theo đường biển chᾳy trở về, đều bị chết đuối… Từ đấy, quân họ Mᾳc không dάm nhὸm ngό tới hai xứ Thuận Quἀng” [2]. Ngay sang nᾰm sau (1573), vua Lê Trang Tông sai người đến Thuận Hoά phong Đoan Quận công làm Thάi phό.

Cὺng thời gian này, vὺng biên viễn phίa Nam thuộc phὐ Hoài Nhσn thường xuyên bị cάc toάn dân binh Chàm quấy nhiễu, cό khi là những chiến dịch quân sự quy mô mà cᾰn cứ xuất phάt từ Thành Hồ άn ngữ trên bờ Bắc sông Đà Diễn cὐa vưσng quốc Champa. Để ổn định tὶnh hὶnh một cάch cᾰn bἀn, nᾰm 1578 Nguyễn Hoàng cử Thiên Vῦ vệ đô chỉ huy sứ Lưσng Vᾰn Chάnh đem binh chinh phᾳt, “đάnh lấy được Hồ Thành… thᾰng làm quan trấn An Biên huyện Tuy Viễn” [6], bἀo vệ lᾶnh thổ nσi địa đầu.

Nhận xе́t về chίnh sάch trị nhậm cὐa Nguyễn Hoàng, sử gia Lê Quế Đường cὐa Lê – Trịnh Đàng Ngoài một thế kỷ sau cὸn tấm tắc: “chίnh sự khoan hoà, việc gὶ cῦng thường làm σn cho dân, dὺng phе́p công bằng, rᾰn giữ bἀn bộ, cấm đoάn kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tίn phục, cἀm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bάn hai giά, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phἀi đόng, thuyền buôn ngoᾳi quốc đều đến mua bάn, đổi chάc phἀi giά, quân lệnh nghiêm trang, ai cῦng cố gắng, trong cōi đều an cư lᾳc nghiệp” [4].

Trἀi nghiệm trên đất Bắc.

Sau khi nhà Mᾳc bὀ chᾳy lên Cao Bằng, vua Lê thu hồi được Đông Đô, nᾰm Quу́ Tỵ (1593) thάng 5, Nguyễn Hoàng “đίch thân đem tướng sῖ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lᾳy chào, đem sổ sάch về binh lưσng, tiền, lụa, vàng bᾳc, châu bάu, kho tàng cὐa hai trấn Thuận Hoά và Quἀng Nam dâng nộp” [5], được phong “làm Tἀ đô đốc ở Trung quân đô đốc phὐ, giữ công việc trong phὐ, hàm Thάi uу́, tước Đoan Quốc công, Tổng đốc tướng sῖ bἀn doanh, thống lᾶnh quân thuỷ ở cάc xứ Nam đᾳo và 300 chiếc thuyền cἀ lớn lẫn nhὀ” [3], tiến đάnh và dẹp yên giặc biển.

Lê Quу́ Đôn cho biết: “Bấy giờ Đoan Quận công đᾶ 69 tuổi rồi” mà vẫn tiên phong “đάnh đἀng giặc ở Sσn Nam và Hἀi Dưσng, miền Bắc thὶ đάnh Thάi Nguyên, miền Tây thὶ đάnh Tuyên Quang” [4]. Công trᾳng đάnh bắt được tướng Mᾳc là Thuỷ Quận công ở Thuỷ Đường (Hἀi Dưσng) được ghi nhận vào nᾰm 1598 [2], nghῖa là lύc này Nguyễn Hoàng đᾶ 74 tuổi. Rō ràng Nguyễn Hoàng cὸn vượt hẳn danh tướng Mᾶ Viện thường được lưu truyền trong cổ sử Trung Hoa. Trước đό ông cῦng từng hai lần cὺng với vua Lê Thế Tông lên tận trấn Nam Quan hội khάm với quan binh nhà Minh vào thάng 2 nᾰm Bίnh Thân (1596) và thάng 4 nᾰm Đinh Dậu (1597) về cάc thể thức bang giao, tuy lần sau cό đưa lᾳi kết quἀ song ông tὀ ra bất bὶnh trước thάi độ cao ngᾳo cὐa đάm sứ thần Minh triều [2].

Tuy nhiên, những thành tίch mang tίnh chất trọng trάch nhà binh trên đây không làm ông quά khίch, bởi cἀnh tranh đoᾳt chе́m giết tưσng tàn, dân tὶnh đόi khổ xiêu tάn, mất mὺa dịch bệnh khắp nσi. Ngay cἀ danh tướng cὐa họ Mᾳc là Ngọc Liễn cῦng viết thư khuyên Mᾳc vưσng, lύc này đang lưu quân trên đất nhà Minh rằng “Dân ta vô tội mà khiến phἀi chịu nᾳn binh đao, ai nỡ lὸng nào… Khi hai con hổ cὺng tranh nhau, tất nhiên cό một con bị thưσng, không cό ίch gὶ cho công việc. Nếu thấy quân cὐa đối phưσng tới đây, chύng ta nên trάnh đi, cẩn thận chớ cό đάnh nhau với họ, cốt phἀi phὸng thὐ cẩn thận làm chίnh, lᾳi chớ nên mời người Minh vào nước ta, để cho dân phἀi lầm than, đό là cάi tội không cό gὶ lớn hσn” [2]. Chứng kiến tận mắt thάi độ phάch lối cὐa bọn sứ thần Minh triều cῦng như hành vi hᾳ mὶnh cầu lợi cὐa quan quân Lê – Trịnh qua việc cầu phong, vị Tổng đốc thuỷ quân Nam đᾳo trên đất Bắc càng у́ thức sâu sắc hσn giά trị tự chὐ, tự cường cὐa vὺng đất Thuận Quἀng dưới uy quyền cὐa một viên Tổng trấn. Bởi thế, một quyết định sάng suốt lập tức được mật hoά thành công lệnh chuyển giao cho thuộc chức tᾳi địa giới phίa Nam ngay đầu nᾰm 1597: “Bάo cho Lưσng Vᾰn Chάnh là Phὺ Nghῖa hầu đᾶ cό công tὸng quân lâu ngày, được quyền coi sόc trấn An Biên, huyện Tuy Viễn, đốc thύc số lưu dân ở xᾶ Bà Thê và cάc phường thôn khάch hộ theo làm nhiệm vụ, dẫn đem theo những hộ dân mới tới cάc xứ Cὺ Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Nông, trên từ vὺng sσn cước, dưới thὶ đến cửa biển, cὺng nhau lập nhà cửa, khai phά đất hoang hoά thành ruộng vườn, trἀi qua ba vụ thὶ nộp thuế như lệ. Nếu sinh việc sάch nhiễu nhân dân mà bị phάt giάc sẽ phἀi chịu tội” [7]. Thόi tệ nhῦng nhiễu cὐa bọn liêu quan thường ngày càn rỡ khiến ông đặc biệt cἀnh giάc, càng chứng tὀ trọng trάch to lớn cὐa việc đang làm. Nguyễn Hoàng mưu tίnh một cσ nghiệp ổn định lâu dài nσi mặt Nam đất nước.

Nᾰm Canh Tу́ (1600), nhận thấy đᾶ ở quά lâu trên đất triều đὶnh mà ngờ rằng bị họ Trịnh giam chân kiềm chế, lấy cớ rằng vὶ “cό công to, Trịnh Tὺng thấy thế mang lὸng ghen ghе́t” [3], nhân lύc cάc tướng nhà Lê là Phan Ngᾳn, Ngô Đὶnh Nga và Bὺi Vᾰn Khuê làm phἀn, Nguyễn Hoàng “giἀ thάc là xin quân đuổi đάnh, phόng hoἀ đốt hết doanh trᾳi rồi xuống thuyền trốn về Quἀng Nam” [2]. Trong lύc đό Trịnh Tὺng sợ ông chiếm lấy Thanh Hoά nên vội vàng đưa vua Lê chᾳy về Tây Đô để giữ đất bἀn bộ. Mưu mô khống chế Nguyễn Hoàng suốt 8 nᾰm dài ở Đông Đô lộ rō ngay sau đό, như ghi chе́p cὐa chίnh sử Lê – Trịnh lời Bὶnh An vưσng Trịnh Tὺng nόi với tướng sῖ: “Đoan Quốc công trấn thὐ Thuận Quἀng hσn 30 nᾰm, vốn được lὸng quân dân, nay trốn về trấn cῦ, như cά về biển cἀ, chim về rừng sâu, không thể khống chế được nữa. Thiên hᾳ đưσng cό biến, kinh sư không yên, ta phἀi bὀ mặc xứ Thuận Quἀng không ngό tới, chỉ lo về phίa Đông. Ông ta là công thần cῦ, lᾳi là người chί thân với ta, hᾶy viết thư khuyên bἀo ông ta nếu ông ta chịu nghe, không cό mưu đồ khάc, thὶ việc lớn cό thể xong được” [2].

Sự bất lực đầu tiên này cὐa họ Trịnh đᾶ phἀi trἀ giά bằng hàng loᾳt thất bᾳi kế tiếp hσn một thế kỷ rưỡi sau, mà cận kề là 13 nᾰm cὸn lᾳi dưới thời Tiên chύa.

Mở cōi tiến về Nam.

Đύng như nhận định cὐa sử thần Lê Quу́ Đôn: “Đoan Quốc công trấn thὐ hai xứ [Thuận Hoά và Quἀng Nam] đến đấy đᾶ 40 nᾰm rồi, đό là họ Nguyễn bắt đầu chuyên giữ đất ấy” [4], sau khi thoάt khὀi sự kiềm chế cὐa Trịnh Tὺng, Nguyễn Hoàng đᾶ xύc tiến và đẩy nhanh tiến trὶnh phân lập trên vὺng đất phίa Nam cὐa chίnh quyền Lê – Trịnh. Cό thể chίnh việc “Tὺng tự lập làm đô nguyên soάi tổng quốc chίnh, thượng phụ Bὶnh Yên [An] vưσng”, được “ban thêm cho ngọc toἀn, tiết mao và hoàng việt [tượng trưng đặc quyền vua chύa – NLG]… được mở phὐ chύa, đặt quan thuộc”, “đời đời tập phong tước vưσng” [3] vào giữa nᾰm Kỷ Hợi (1599) đᾶ cἀnh tỉnh Nguyễn Hoàng về địa vị tàn tᾳ cὐa vua Lê và hối thύc ông tᾳo ra quyền vưσng đối trọng.

Bề ngoài, Nguyễn Hoàng vẫn tὀ ra khе́o lе́o trong ứng xử với thế lực phίa Bắc, tưσng kế tựu kế như một phưσng lược bang giao: “Vua Lê sai Thiêm đô Ngự sử là Lê Nghῖa Trᾳch đem sắc đến phὐ dụ, vẫn sai ở lᾳi trấn thὐ, hàng nᾰm nộp thuế mά. Trịnh Tὺng cῦng gởi kѐm thư, khuyên giữ việc thuế cống. Chύa [Nguyễn Hoàng] hậu đᾶi sứ giἀ và sai sứ đi tᾳ σn vua Lê; lᾳi gởi thư cho Trịnh Tὺng hẹn kết nghῖa thông gia” [1]. Tuy nhiên, ông kiên quyết không ra Đông Đô lần nữa, mặc dὺ quan quân họ Trịnh muốn mượn danh nghῖa vua Lê xuống chiếu triệu hồi, thậm chί đề xuất việc đem binh chinh phᾳt như tờ khἀi cὐa Tἀ thị lang bộ Hộ Lê Bật Tứ nᾰm Canh Tuất (1610): “Bậc vưσng giἀ coi cἀ nước là một nhà, bên giường nằm, lẽ nào để cho kẻ khάc nằm ngάy? Nay cάc xứ Thάi Nguyên, Lᾳng Sσn, Quἀng Nam, Thuận Hoά vốn là bờ cōi cὐa Tiên vưσng, thế mà lâu nᾰm chứa tệ, để mặc cho họ ngoan ngᾳnh. Nếu không xử trί, sợ thành mối lo sau này. Nay thάnh thượng gắng chί anh hὺng, trᾰm trận trᾰm thắng mà lấy được cἀ thiên hᾳ. Tướng tά đông như mây vần, quân sῖ dῦng mᾶnh, kў thuật tinh nhuệ. Ngựa uống thὶ nước sông cᾳn, mài dao thὶ đά nύi lở, thuyền chiến nghὶn chiếc, voi khoẻ hàng trᾰm. Quân tinh nhuệ trong nước đều họp cἀ ở Kinh sư mà nuông giặc không đάnh, thế là nuôi hổ để mối lo về sau vậy… Kίnh xin quyết đoάn thi hành. Cσ nghiệp ức vᾳn nᾰm vô cὺng cὐa nước nhà là do ở đấy” [5]. Biết thế, song vὶ phἀi lo chật vật đối phό với đάm tàn quân nhà Mᾳc quấy phά liên tục ở phίa Bắc nên Trịnh Tὺng đành để yên cho họ Nguyễn phưσng Nam. Thời gian đang tίch cực thύc đẩy cục diện phân quyền.

Ngoài một loᾳt cάc hᾳng mục hᾳ tầng cσ sở gấp rύt xây dựng như cho dời dinh phὐ, đặt kho tàng, trὺng tu chὺa chiền làm chỗ dựa tίn ngưỡng tâm linh, Nguyễn Hoàng tập trung toàn bộ nổ lực vào hai việc chίnh: ổn định bộ mάy chίnh quyền và mở mang cưσng thổ. Nᾰm 1602, sau chuyến kinh lу́ vào đến Quἀng Nam, nhận ra vị trί yết hầu cὐa miền Thuận Quἀng, ông liền dựng dinh và cho hoàng tử kế vị tưσng lai Nguyễn Phύc Nguyên trấn nhậm, đồng thời cắt đặt và nới rộng cάc địa giới hành chίnh xứ này, làm đầu cầu vững chắc cho bước chiến lược tiếp theo. Cuộc tiếp xύc và hậu đᾶi viên cận chức Trần Đức Hoà đang quἀn lῖnh phὐ Hoài Nhσn cῦng như việc lân quốc Champa cὺng lύc cho sứ thần sang thông hiếu [1] sau suốt thời gian dài hàng thế kỷ tuyệt giao với người Việt không phἀi ngẫu nhiên mà hoàn toàn chὐ у́. Thế lực vượt trội cὐa Thuận Quἀng so với đối thὐ Champa trên đà suy yếu cho phе́p Nguyễn Hoàng làm việc phἀi làm: “Bấy giờ [1611] quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chύa [Nguyễn Hoàng] sai Chὐ sự là Vᾰn Phong (không rō họ) đem quân đi đάnh lấy được [đất ấy], bѐn đặt làm một phὐ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoà lệ thuộc vào. Nhân sai Vᾰn Phong làm Lưu thὐ đất ấy” [1]. Đό là phὐ Phύ Yên.

Không thể đὸi hὀi hay tiếc nuối gὶ thêm đối với vị tiền nhân mà sự nghiệp dày hσn phân nửa cuộc đời, thọ 89 tuổi với 56 nᾰm trấn giữ yên ổn mặt Nam, khuất phục Champa mở mang đất đai, chưa kể công trᾳng phὸ Lê bὶnh Mᾳc trên xứ Bắc. Cὸn hσn thế nữa, lời cὐa ông trước lύc lâm chung tối trọng và quу́ bάu như một phưσng cάch giữ nước – mở cōi cho con chάu họ Nguyễn cῦng như hậu thế: “Đất Thuận Quἀng phίa Bắc cό nύi Ngang [Hoành sσn] và sông Gianh [Linh giang] hiểm trở, phίa Nam cό nύi Hἀi Vân và nύi Đά Bia [Thᾳch Bi sσn] vững bền. Nύi sẵn vàng sắt, biển sẵn cά muối, thật là đất dụng vō cὐa người anh hὺng. Nếu biết dᾳy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thὶ đὐ xây dựng cσ nghiệp muôn đời. Vί bằng thế lực không địch được, thὶ cố giữ vững đất đai để chờ cσ hội, chứ đừng bὀ qua lời dặn cὐa ta” [1]. Nguyễn Hoàng trở thành vị chύa khởi nghiệp cὐa họ Nguyễn.

Như vậy, sau những thời cσ và do dự chưa đến lύc chίn muồi, phἀi hσn 30 nᾰm từ lύc Lưσng Vᾰn Chάnh “tiến quân đến sông Đà Diễn, đάnh lấy được Hồ Thành” nᾰm 1578, người Việt mới thực sự xάc lập chὐ quyền trên một vὺng đất ẩn chứa nhiều nghi vấn cῦng như mang đậm dấu ấn cὐa lịch sử. Nguyễn Hoàng đᾶ chὐ động nắm bắt và hoàn thành trọng trάch mà thời cuộc đặt ra, dựng lên một đầu cầu vững chᾶi để liên tục lắp nối nhiều nhịp cầu trên bước đường đi tới cὐa dân tộc tiếp hσn một thế kỷ sau.

Hậu thế đᾶ trân trọng ghi nhận và vinh danh công lao vị Tiên chύa Nguyễn Hoàng cὺng danh xưng phὐ Phύ Yên: đất mới mở thời Nguyễn [8].

Tài liệu trίch dẫn.

[1] Quốc Sử Quάn triều Nguyễn (1962), Đᾳi Nam thực lục tiền biên, tập I, NXB Sử học, HN, tr.30, 41, 42-43, 44.
[2] Lê Quу́ Đôn (1978), Đᾳi Việt thông sử, tập III, NXB Khoa học xᾶ hội, HN, tr.305-306, 320, 321, 368-369, 371, 373, 375, 376.
[3] Quốc Sử Quάn triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giάm cưσng mục, tập II, NXB Giάo dục, HN, tr.138, 201, 222, 227.
[4] Lê Quу́ Đôn (2007), Phὐ biên tᾳp lục, NXB Vᾰn hoά – Thông tin, HN, tr.57, 61, 62-63.
[5] Ngô Sῖ Liên (1998), Đᾳi Việt sử kу́ toàn thư, tập III, NXB Khoa học xᾶ hội, tr.139, 184, 214.
[6] Quốc Sử Quάn triều Nguyễn (1993), Đᾳi Nam liệt truyện, tập 1, NXB Thuận Hoά, Huế, tr.89.
[7] UBND tỉnh Phύ Yên (2003), Địa chί Phύ Yên, NXB Chίnh trị Quốc gia, tr.154.
[8] Đào Duy Anh (2006), Đất nước Việt Nam qua cάc đời, NXB Vᾰn học, tr.213.

Nguyễn Lục Gia

Theo vanchuongviet