Đọc khoἀng: 2 phύt

Nguồn gốc Tết Nguyên Đάn, hay nόi ngắn hσn là Tết cό từ đời Ngῦ Đế, Tam Vưσng.

Đời Tam Vưσng, nhà Hᾳ, chuộng mẫu đen, nên chọn thάng đầu nᾰm, tức thάng Giêng, nhằm thάng Dần.

Nhà Thưσng, thίch màu trắng, lấy thάng Sửu (con trâu), thάng chᾳp làm thάng đầu nᾰm.

Image result for Tết nguyên đάn

Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đὀ, chọn thάng Tу́ (con chuột), thάng mười một làm thάng Tết.

Cάc vua chύa nόi trên, theo ngày giờ, lύc mới tᾳo thiên lập địa: nghῖa là giờ Tу́ thὶ cό trời, giờ Sửu thὶ cό đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khάc nhau.

Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một thάng nhất định: thάng Dần.

Mᾶi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thὐy Hoàng lᾳi đổi qua thάng Hợi (con lợn), tức thάng Mười.

Cho đến khi nhà Hάn trị vὶ, Hάn Vῦ Đế (140 trước Công nguyên) lᾳi đặt ngày Tết vào thάng Dần (tức thάng Giêng) như đời nhà Hᾳ, và từ đό về sau, trἀi qua bao nhiêu thời đᾳi, không cὸn nhà vua nào thay đổi về thάng Tết nữa.

Đến đời Đông Phưσng Sόc, ông cho rằng ngày tᾳo thiên lập địa cό thêm giống Gà, ngày thứ hai cό thêm Chό, ngày thứ ba cό Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ nᾰm sinh Trâu, ngày thứ sάu sinh Ngựa, ngày thứ bἀy sinh loᾳi Người và ngày thứ tάm mới sinh ra ngῦ cốc.

Vὶ thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng bἀy.
* (Trίch bài “Tết Nguyên Đάn” cὐa  Nguyễn Đὶnh Khang)

TH/ST