Đọc khoἀng: 20 phύt

Bài Dân Tộc Tίnh sau đây là diễn vᾰn cὐa Giάo sư Nguyễn Ðᾰng Thục đọc ngày 9 thάng Ba nᾰm 1955, trong một buổi diễn thuyết tᾳi Sài Gὸn, được coi như một tuyên ngôn về Lập Trường Dân Tộc cὐa miền Nam Việt Nam lύc đό.

Chύng ta đang đὸi hὀi một у́-thức để thống-nhất quan-niệm và hành-động. Cάi hệ-thống у́ thức ấy không phἀi tὶm trong sάch vở xa lᾳ, mà ở tᾳi chίnh trong bἀn thân thực nghiệm cὐa dân-tộc, một dân tộc đᾶ dάm ngẩng đầu lên phưσng Bắc để tuyên-bố: “Nam-Việt Chi Quốc, Vᾰn-hiến chi bang”(Bὶnh Ngô Ðᾳi-cάo).

Bởi vὶ hệ-thống у́-thức mà chύng ta đang đὸi hὀi không phἀi là bất cứ một у́-thức-hệ ngoᾳi-lai nào, mà chίnh là cάi у́-thức-hệ cὐa dân-tộc này, đᾶ sống và đᾶ nhiều phen tranh-đấu để sống là một dân tộc.

Bởi vậy mà tôi phἀi bắt đầu bằng vấn đề Dân tộc tίnh, trước khi nόi về dân-tộc-tίnh Việt-Nam.

Trước khi vào đề,tôi xin cung kίnh mà tâm-niệm vong linh cάc bậc anh-hὺng liệt-nữ, đᾶ ngόt một thế kỷ nay kể từ Phan Ðὶnh Phὺng đᾶ hᾰng hάi hy-sinh hᾳnh-phύc hay tίnh mᾳng cho dân -tộc. Song sự kίnh phục cό ở trong lὸng mà tôi cῦng không đừng nhận chân một sự thực này là tất cἀ những vận-động giἀi phόng dân-tộc, cάch mệnh quốc-gia ở Việt-Nam từ trước tới nay, đᾶ tὀ ra thiếu một lу́ thuyết vững vàng để hướng dẫn hành-động và chống cự với cάc chὐ-nghῖa ngoᾳi-lai mà cάc ngài cἀm thấy không thίch- hợp cho dân-tộc. Một chὐ-nghῖa gây được lὸng tin và đάng được tin cậy , thὶ cần phἀi dựa vào một lу́-thuyết xάc-thực vững vàng. Bằng không thὶ chὐ-nghῖa cό thể rσi vào không tưởng vὶ quά chὐ quan. Ðᾶ không tưởng thὶ dễ thất bᾳi. Sự thất-bᾳi liên tiếp cὐa phong trào dân-tộc Việt-Nam thực đᾶ chứng tὀ điều ấy vậy. Và cῦng nhờ cό một lу́ thuyết cό hệ-thống chặt -chẽ mà phong-trào cộng-sἀn đᾶ bành trướng trong khoἀng 30 nᾰm từ Âu sang Á .

Ðây, chύng ta muốn kiến-thiết một у́-thức hệ dân-tộc, trước hết chύng ta hᾶy hὀi xem dân-tộc là gὶ về phưσng diện khoa học, nghῖa là xᾶ-hội-học.

Ðối với xᾶ-hội-học, dân-tộc-tίnh cό thực hay không? Phἀi chᾰng vὶ ta quά yêu nước ta, quά yêu tiếng ta mà chύng ta đᾶ tᾳo ra chữ dân-tộc tίnh? Cό người hoài nghi sự thực-tᾳi Dân-tộc-tίnh, cho là một danh-từ trừu tượng viển-vông cὐa một bọn trί-thức ngồi rồi đᾶ nặn ra trong lύc “trà dư tửu hậu.”

Bởi vậy mà trước khi trὶnh bày у́-thức-hệ cὐa dân-tộc Việt-Nam về phưσng diện sinh-hoᾳt kinh-tế, chίnh -trị và vᾰn-hόa, chύng tôi cần xάc định ở quan-điểm xᾶ-hội-học cάi thực tᾳi dân-tộc. Ðấy là đầu đề câu truyện bữa nay: Cάc yếu tố tᾳo ra dân tộc tίnh.

Dân tộc là gὶ?

Trước hết nό là một sự cộng đồng chung đụng cὐa một số người. Giữa tất cἀ cάc người trong một dân tộc, nếu không cό một cάi gὶ chung đụng cộng đồng với nhau thὶ dân tộc ấy bất thành dân-tộc.

Nhưng sự cộng đồng chung đụng ấy, phἀi là môt sự cộng đồng bền vững. Một buổi họp chợ đông người hội họp không phἀi là một cộng-đồng bền vững nay họp mai tan, như thế không cό thể là một dân tộc được.

Người ta cὸn cho rằng một dân tộc là một cộng đồng về giὸng dōi về huyết thống hay về gia-tộc. Nhưng cάc quốc-gia dân tộc hiện nay trên thế-giới đều pha màu chὐng loᾳi khάc nhau, huyết tίnh khάc nhau nghῖa là lai giống đi nhiều. Vậy cộng-đồng chὐng tộc không cần thiết lắm cho sự thành lập cὐa một dân tộc . Dân-tộc là một cộng đồng cὐa một số người do lịch-sử đᾶ cấu kết nên. Dân-tộc là một sἀn phẩm cὐa lịch sử. Những đế-quốc ngày xưa như đế-quốc cὐa Tần-thὐy hoàng, đế quốc Thành-cάt Tư hᾶn, đế-quốc Nᾶ-phά-luân, đế quốc La-Mᾶ, tuy cό sự cộng đồng mà không cό thể thành một dân tộc. Bởi vὶ sự cộng-đồng ấy là một cộng-đồng ô hợp bất thường do những cuộc chinh phục chiến-thắng nhất thời, chỉ chờ sự thất bᾳi cὐa một chiến sῖ là sẽ tan rᾶ.

Vậy một quốc-gia Dân-tộc không phἀi là một biến ἀo bất thường mà là một cộng đồng bền vững cὐa một số người đᾶ cὺng nhau sinh tử cộng tồn.

Nhưng một cộng đồng bền vững chưa đὐ tᾳo ra quốc gia dân-tộc vί như nước Trung Quốc, nước Ấn Ðộ, nước Nga cὐa Nga hoàng. Cάi gὶ phân biệt một cộng-đồng dân-tộc với một cộng-đồng chίnh thể?

Lᾶnh thổ và giống nὸi

Khi ngưσὶ ta nόi đến một dân-tộc, một quốc-gia, ở Việt ngữ thông thường hai tiếng Quốc-gia hay Dân-tộc đi đôi với giang-sσn hay xᾶ-tắc. Giang sσn là nύi sông, tượng trưng cho khu vực đất đai, hoàn cἀnh địa-lу́ khί-hậu. Xᾶ-tắc vốn nghῖa xưa là đất với lύa, mà dân nông-nghiệp đᾶ thần thάnh hόa để thờ phụng. Phἀi chᾰng giang-sσn hay xᾶ-tắc đᾶ là cάi hoàn cἀnh địa-lу́ khί-hậu, cό biên-giới nhất-định nό đᾶ ἀnh-hưởng vào cά tίnh dân-tộc.

– Thời kỳ mà nhân-loᾳi hᾶy cὸn là những bầy dân du-mục, những bộ lᾳc sống lang thang nay đây mai đό, thὶ ở giai-đoᾳn ấy con người đᾶ nhận định được một cάi linh hồn chung là cάi у́-thức chung cὐa đoàn thể. Cάi linh-hồn chung ấy đối với họ lύc bấy giờ cό một tίnh cάch thiêng-liêng bao trὺm tất cἀ những у́ thức cά-nhân cὸn chὶm trong toàn-thể và hoàn-cἀnh. Nhưng vὶ chưa sống nhất định ở một chỗ nào, cho nên cάc đoàn thể du mục phἀi phόng đᾳi ra một đối tượng là con Rồng, là Mặt Trời, là con Gà Trống… để tượng trưng cho cάi hồn chung ấy và để phân biệt đoàn thể mὶnh với cάc đoàn thể khάc. Ngay từ thời kỳ này, cάc bộ lᾳc du-mục đᾶ у́-thức được cά-tίnh cὐa mὶnh và đᾶ cố-gắng bἀo-vệ lấy. Thời kỳ này hẳn là huyết tίnh hay chὐng-tộc-tίnh, gia-tộc-tίnh cό đόng vai một yếu-tố để cấu tᾳo ra cά-tίnh, đoàn-thể.

Lᾳc Long Quân với Âu Cσ, một trᾰm trứng nở ra một trᾰm con trai, nᾰm mưσi theo cha lên nύi, nᾰm mưσi theo mẹ xuống biển, hay Sσn-Tinh với Thὐy-tinh tranh đấu đều là những thần thoᾳi lưu truyền về sự phân-biệt cά tίnh theo huyết tίnh, theo giống nὸi. Và nếu giống nὸi hay huyết tίnh ngày nay trên thế giới, không cὸn là một yếu tố quan-trọng trong sự cấu-tᾳo ra dân-tộc nữa, nhưng ở Việt Nam hai tiếng đồng-bào cὸn mang nặng tὶnh yêu nước thưσng nὸi, tὀ rằng đối với dân Việt ta, huyết tίnh vẫn cὸn là một yếu tố đάng kể trong dân-tộc-tίnh.

Rồi nhân loᾳi bắt đầu định cư vào một khu vực đất đai nhất định. Ở đấy cό những điều kiện thuận tiện để sinh tồn như đất đai phὺ sa trồng cấy, sông ngὸi để giao thông, nύi non, biển cἀ hay sa mᾳc là những thành trὶ tự-nhiên để bἀo vệ sự an cư lᾳc nghiệp và từ đấy bắt đầu cό vᾰn minh, vὶ cό định cư mới cό thể tίch lῦy và tiến bộ. Từ đấy thὶ quốc-gia dân-tộc mới bắt đầu lấy biên- giới đất đai để hoᾳch định lᾶnh thổ. Và lᾶnh thổ hay quốc-gia đᾶ được thần-thάnh hόa để biểu thị cụ thể cho cάi у́ thức đoàn thể, cάi у́ thức dân-tộc- tίnh. Ðấy là giang-sσn xᾶ-tắc.

Và bắt đầu từ khi ngưὸi ta lấy khu vực đất đai định cư, để làm vῦ đài tranh-đấu thὶ loài người cῦng bắt đầu phân chia ra từng đoàn-thể biệt-lập. Sự sinh-hoᾳt biệt lập trong một khu vực địa-lу́ đᾶ ἀnh-hưởng rất sâu vào tinh-thần cὐa cάc đoàn-thể, khuôn đύc cho cά tίnh quốc-gia, cho dân-tộc-tίnh mỗi ngày một rō rệt, từ tίnh cάch vật-tổ mσ màng, dân-tộc-tίnh tiến tới tίnh cάch vᾰn-hόa, chίnh-trị, kinh- tế.

Bởi vὶ hoàn-cἀnh địa-lу́ đᾶ đặt cho cάc phần tử cὐa một đoàn thể định-cư những vấn-đề thực-tế chung phἀi giἀi quyết. Muốn lợi-dụng đất phὶ nhiêu ở cάc trung nguyên chẳng hᾳn để trồng cấy thὶ ίt nhất cῦng phἀi đem tất cἀ tài nᾰng để khai khẩn, biến chỗ đất hoang vu thành đồng ruộng. Rồi chύng ta cὸn phἀi đào kinh, dẫn thὐy để cho nước thὐy triều ra vào tὺy theo у́ muốn. Tất cἀ những vấn đề thực tế ấy đὸi hὀi ở chύng ta phἀi thi thố tài ba, nào tổ-chức, nào phάt- minh, nào phân-công và hợp-tάc với nhau chặt-chẽ gόp sức với nhau một cάch lâu bền, cό sự điều khiển chung công việc cho nhất trί. Luôn luôn sống trên một giἀi đất cό sự xύc-tiếp với nhau trong công việc sinh-nhai, cῦng như trong khi nhàn rỗi, chia vui sẻ buồn với nhau, do đấy mà tinh-thần sinh-tử cộng-tồn ngày càng nẩy nở, liên-kết cάc phần tử thành một khối trᾰm người như một, muôn người như một.

Do đấy mà người ta cό thể hy-sinh được tίnh-mᾳng để bἀo-vệ lấy giang sσn, nghe theo tiếng gọi cὐa sông nύi. Vậy lᾶnh thổ thực là một yếu-tố trọng-đᾳi để cấu tᾳo ra một dân-tộc, để hun đύc nên một dân-tộc-tίnh.

Nhà sử học Michelet viết: “Không cό một nền tἀng địa-lу́ thὶ dân-tộc vẫn là động cσ cὐa lịch-sử hầu như đi trên không trung, lσ lửng như trong bức tranh tầu không đất đứng. Và chύng ta nên nhận thức rằng đất đai không chỉ là sân khấu cho hoᾳt động cὐa đoàn-thể vὶ những thức-ᾰn, vὶ khί-hậu thὐy-thổ mà thôi, nό cὸn ἀnh hưởng người ta bằng trᾰm đường ngàn lối. Tổ nào chim ấy.”

Gần đây nhà sử học Camille Julian cững viết: “Sự khai thάc một khu rừng rậm, việc làm khô rάo một cάnh đồng lầy, cῦng quan-trọng cho sự định đoᾳt cὐa một xᾶ-hội, quan-trọng ngang với một cuộc cάch-mᾳng chάnh-trị hay là một tάc-phẩm vᾰn-chưσng.”

Trên đây mới nόi tới hai yếu-tố cấu-tᾳo ra dân tộc tίnh là yếu-tố huyết-tίnh hay là chὐng tộc và yếu tố lᾶnh thổ hay địa-lу́. Nhưng cἀ hai yếu-tố ấy cῦng chưa đὐ tᾳo nên dân-tộc-tίnh, tuy đều là yếu -tố cần thiết.

Thực vậy, chὐng-tộc không đὐ làm cho dân-tộc Việt-Nam nay cὸn là Việt-Nam vὶ rằng trong số hàng trᾰm giống Việt ở phίa nam sông Dưσng Tử cὺng thờ chung một vật Tổ là con Rồng, thὶ hầu hết đᾶ bị đồng hόa với dân Tầu, đều đᾶ bị Tầu hoά hoàn toàn, riêng chỉ cό giống Lᾳc-Việt này là cὸn tồn tᾳi cho tới ngày nay.

Cὸn yếu tố địa-lу́, cộng đồng lᾶnh-thổ, tuy là điều kiện cᾰn-bἀn để tᾳo nên tinh-thần quốc-gia, hay một dân-tộc-tίnh, và riêng đối với dân-tộc Việt Nam yếu-tố địa-lу́, cộng-đồng lᾶnh thổ, khởi kỳ-thὐy ở lưu vực sông Nhị Hà, Thάi Bὶnh ngoài Bắc Việt thực đᾶ đόng gόp một vai trὸ quyết-định cho sự bἀo tồn nền độc-lập cὐa dân-tộc Việt-Nam đối với cάc cuộc xâm-lược cὐa quân Nguyên, quân Tống, quân Minh, quân Thanh.

Nhưng lᾶnh thổ cῦng không đὐ để quyết-định dân-tộc tίnh. Yếu-tố lᾶnh thổ chỉ mới là điều kiện cho dân-tộc hoᾳt-động, xây-dựng, biểu-hiện dân-tộc-tίnh ở cάc cάch thức tổ chức sự cộng-đồng sinh-hoᾳt về thực-tế và tinh-thần. Lᾶnh thổ không phἀi là một vật thần bί. Nό chỉ tượng trưng cho một cάi gὶ cao-siêu hσn, ấy là tinh thần đoàn kết và thống nhất.

Tổ chức kinh tế chάnh trị

Thực vậy, lᾶnh-thổ cộng-đồng mới chỉ là điều kiện cho một hệ thống kinh- tế chung thống nhất. Sự liên-hệ về sinh-hoᾳt kinh tế phần lớn do điều kiện giao thông thuận tiện. Giao-thông bắt đầu là đường thὐy, là sông ngὸi, cho nên ở xᾶ-hội định-cư nông-nghiệp phần nhiều người ta họp chợ bên sông, cῦng như người ta lập làng, lập ấp ở hai bên bờ sông. Cό lᾶnh-thổ rồi mới cό phân công trong sự sἀn xuất và tίch lῦy. Cό tίch lῦy rồi mới cό tiến bộ, câu phưσng ngôn: “Cό an cư rồi mới lᾳc nghiệp” rất xάc đάng. Nhưng quốc-gia dân-tộc không phἀi là một mớ người ô hợp. Và lᾶnh-thổ hay chὐng-tộc không phἀi là một định mệnh thần bί thiêng liêng. Chύng ta nên nhớ bao giờ loài người cῦng đόng vai chὐ-động trên mặt đất, cῦng tự làm lấy lịch-sử cὐa mὶnh. Sở dῖ loài người khάc với bầy cầm thύ, là vὶ ở chỗ ta tuy cῦng phἀi thίch-ứng điều-hoà với hoàn cἀnh địa-lу́, khί hậu để sinh-hoᾳt, nhưng người ta đᾶ tiến-bộ từ bầy cầm thύ đến bộ-lᾳc, đến quốc-tộc dân-tộc. Sự tiến-bộ ấy là nhờ sự biết sάng tάc ra công-cụ, kў-thuật, biết tổ-chức đời sống chung, biết phân công hợp tάc. Trong sự tổ-chức đời sống, về tinh thần cῦng như thực tế, loài người tὀ ra khάc với cầm thύ ở chỗ biết у́ thức, đᾶ tự mὶnh làm chὐ được hoàn cἀnh, tự mὶnh làm lấy lịch-sử và tiến bộ không ngừng. Ðấy là vᾰn-hoά tίnh cὐa nhân loᾳi.

Cάc dân tộc muốn phάt triển, muốn sống cὸn trên mặt địa-cầu này thὶ hẳn rằng đời sống kinh-tế không cό thể để cho lộn xộn ô hợp, kẻ nọ tranh cướp kẻ kia, vô trật-tự, vô kỷ-luật, công tư lẫn lộn.

Một thời xa xᾰm trong những bộ lᾳc công-cộng nguyên-thὐy thὶ đoàn thể chỉ mới là một gia-tộc vật-tổ hay là một thị tộc nhà Lang trong đό những tάc dụng chίnh cὐa đoàn thể như chάnh trị, vᾰn hόa, kinh-tế cὸn lẫn lộn với nhau chưa phân-hόa, và chὐ quyền bấy giờ cὸn cό tίnh cάch mσ màng, thần-bί.

Nhưng rồi chẳng bao lâu những đoàn thể đό càng ngày càng bành-trướng, chὐ-quyền cῦng phân hόa dần dần, đời sống kinh tế cῦng được tổ chức, và quyền lợi công với quyền-lợi tư đᾶ cό những luật lệ nghiêm chỉnh định-đoᾳt. Cάi lịch trὶnh tiến-hόa ấy đᾶ được quan niệm phân-minh từ hσn hai ngàn nᾰm nay ở quyển sάch Hệ từ, mà rất phὺ hợp với у́ kiến cὐa cάc nhà xᾶ hội học hiện đᾳi.

“Cό trời đất rồi muôn vật mới nẩy nở.
Cό muôn vật rồi mới cό phân biệt nam nữ.

Rồi mới cό vợ chồng. Rồi mới cό cha con, gia đὶnh.
Rồi mới cό lệ vua tôi Rồi mới cό giai cấp trên dưới.

Từ đấy người ta mới đặt ra lễ nghῖa kỷ luật.”

Vậy kỳ-thὐy trong sinh hoᾳt kinh-tế chung đụng đᾶ nẩy ra cό sự phân công để tᾰng gia sἀn-xuất. Tuy sự phân công ấy đᾶ bắt đầu cό từ thời-kỳ du-mục nhưng mới chỉ phân công theo Nam giới và Nữ giới, rất sσ sài. Chỉ khi nào bắt đầu định-cư vào một lᾶnh thổ, một khu vực đất đai nhất định thὶ sự phân-công và tổ chức mới trở nên phức-tᾳp. Nhưng sự phân-công vốn để trἀ lời cho nhu cầu đoàn-thể, chứ không cό ngụ у́ phân chia giai cấp, quί tiện, để rồi tranh đấu một mất một cὸn.

Nếu thực sự cό sự tranh-đấu giữa người với người để tiêu diệt lẫn nhau theo đύng nghῖa: “Người là lang sόi với người” thὶ nhân loᾳi cὸn làm sao mà trưởng thành quốc-tộc, dân-tộc? Thὶ đâu cὸn là dân-tộc-tίnh?

Trάi lᾳi dân tộc đᾶ luôn luôn biểu dưσng cάi у́ thức và sứ-mệnh lịch-sử cὐa nό. Bên trên sinh hoᾳt kinh tế cộng đồng càng ngày lễ-nghῖa càng phάt-triển, càng ngày tổ-chức chίnh-trị càng trở nên phức tᾳp và cần thiết. Khi nόi đến cάi у́-thức cὐa một quốc-gia dân-tộc thὶ người ta nghῖ ngay đến cάch thức tổ chức đời sống chung, tức là chế độ chίnh-trị và xᾶ-hội kinh-tế cὐa nό. Vậy điều kiện thiết yếu cὐa một dân-tộc là điều kiện tổ-chức đời sống chung. Ðiều-kiện này đὸi cό sự tổ-chức chὐ-quyền để điều hành nhất-trί quyền lợi kinh tế. Tổ chức chὐ-quyền chίnh-trị và kinh tế là chế độ và triều đᾳi.

Chế-độ và triều đᾳi đᾶ đόng một địa vị trọng-yếu trong việc cὐng-cố cho cάi у́-thức quốc-gia dân-tộc. Nhà xᾶ-hội-học Frazer, trong cuốn tὶm hiểu về những nguyên-do thần-bί cὐa quân-chὐ cό viết :

“Sự trung thành với nhà vua là một liên-hệ chίnh-trị cσ bἀn ở nước Phάp dưới chế-độ xưa, cῦng như tất cἀ cάc dân-tộc Âu-tây. Dân-tộc đồng nhất với chế-độ quân-chὐ, bởi một hiện-tượng tưσng-tự như hiện-tượng đᾶ chuyển-dịch cho cάc đế-vưσng đầu tiên ở Ai Cập tất cἀ thế lực do cάc tίn ngưỡng cổ xưa đᾶ biểu lộ tất cἀ thế-lực thần-bί cὐa vật-tổ.” Frazer (Les origines magiques de la royautе́).

Hẳn rằng chế-độ sinh-hoᾳt kinh-tế, chάnh-trị đều là những yếu-kiện, những động-cσ thύc-đẩy nhân-loᾳi trong lịch-trὶnh tiến-hόa. Nhưng phἀi chᾰng đấy là nguyên-lу́ tᾳo ra dân-tộc ? Nước Gaulle lẫn lộn nhiều thị-tộc đᾶ thống nhất thành một quốc gia sau cuộc chinh-phục và đô-hộ cὐa Ðế-quốc La-Mᾶ. Song phἀi chᾰng cuộc chinh-phục và thống-nhất ấy chỉ tựa vào vō-lực và sức mᾳnh thống trị? Ngoài sức mᾳnh thống trị, phἀi chᾰng cuộc đô hộ cὐa La Mᾶ không mang lᾳi cho đất Gaulle một nền vᾰn-hόa La Hy làm nguyên-lу́ thống nhất cὐa dân-tộc Phάp.

Cῦng như đất Giao Chỉ đᾶ bị nhà Hάn đô-hộ hàng mười thế kỷ. Cάc bộ-lᾳc thị-tộc sống trên đất Giao Chỉ bấy giờ dưới quyền thống trị cὐa nhà Hάn đều đᾶ đoàn-kết lᾳi thành một khối thống nhất. Nếu sức mᾳnh thống-trị và chế-độ cό thể thống-nhất được thὶ sao Giao Chỉ không thấy sάt-nhập vào bἀn đồ Trung Quốc, như Quἀng Ðông, Quἀng Tây, Vân Nam chẳng hᾳn và dân Giao Chỉ sao không đồng hόa vào với dân Tầu như Mᾶn, Mông, Hồi, Tᾳng mà lᾳi thống nhất thành một khối là dân tộc Việt-Nam ở trên một quốc-thổ biệt lập với Trung Quốc là Ðᾳi Cồ Việt?

Vậy chế-độ chάnh trị với sức mᾳnh vō-lực không đὐ để tiêu-diệt được cά-tίnh độc-lập cὐa dân-tộc Việt Nam. Bởi vậy mà sau những cuộc khởi nghῖa kế-tiếp tuy thất bᾳi luôn, nhưng nuôi được cάi tinh-thần bất-diệt cὐa một đoàn-thể, muốn sống riêng biệt, độc-lập, tự-do để tự mὶnh tổ-chức lấy đời sống chung cὐa mὶnh. Rồi mᾶi tới Ðinh Bộ Lῖnh, người đᾶ thống nhất được thập nhị sứ-quân, nước Việt Nam mới trưởng thành là một quốc-gia độc lập. Nhưng cῦng chίnh vὶ cάi tinh-thần vᾰn-hόa Trung Hoa nό đᾶ dᾳy cho dân VIệt biết cάch tổ chức nền thống-nhất cὐa mὶnh. Xem thế đὐ biết chế-độ chίnh-trị biểu-thị cho у́ chί sống chung cὐa đoàn-thể hσn là một nguyên lу́ cấu tᾳo ra dân tộc.

Nhưng cάi tinh-thần quốc-gia dân-tộc ấy, trἀi qua cάc giai đoᾳn lịch sử về trước, nếu cό biểu-thị ra dưới hὶnh-thức trung-quân và trung-thành với triều-đᾳi thὶ chỉ vὶ cάc nhà vua ấy, cάc triều-đᾳi ấy đᾶ tượng trưng ở thời đᾳi ấy cho cάi у́ chί cὐa đoàn-thể như là hiện-thân cὐa những nguyện-vọng chung, như thế-lực cὐa tâm hồn chung hợp thành cάi nguyên-lу́ chίnh-thức cὐa chὐ-quyền quốc-gia dân-tộc. “Duy thiên âm trất hᾳ dân”: Chỉ cό trời ngầm xuống ở nhân-dân.

Hội-nghị Diên-Hồng dưới triều Trần đᾶ chứng-minh nhà vua không dάm vῦ đoάn tự-quyết về vận-mệnh đoàn-thể. Nhà vua lưỡng lự muốn hàng địch, mà nhân-dân thὶ quyết đάnh, kết cục у́-chί cὐa nhân dân đᾶ vᾳch đường cho triều-đᾳi phἀi tuân theo.

Như vậy thὶ nhà Nước với chế-độ chίnh-trị kinh-tế không tᾳo nên được tinh-thần dân-tộc. Quyền lợi kinh-tế cό thể là một động-cσ để đoàn-kết, để bἀo vệ lấy quyền sống thực tế. Nhưng nό cῦng lᾳi là động-cσ để chia rẽ, bởi vὶ lὸng ίch-kỷ bἀn nhiên cὐa con người “Giầu ghen khό ghе́t.”

Cộng đồng quyền-lợi thực không phἀi nguyên lу́ tᾳo nên cάc phong-trào giἀi phόng dân-tộc liên tiếp diễn ra trên thế giới kể từ sau cuộc thế-giới đᾳi-chiến 14-18 đến nay. Nᾰm 1923, đᾶ xẩy ra một việc chưa từng thấy ở lịch-sử chίnh-trị và ngoᾳi giao quốc-tế. Hội-nghị quốc-tế Lausane chίnh phὐ Thổ Nhῖ Kỳ đᾶ kу́ với chίnh phὐ Hy Lᾳp một hiệp ước trao đổi từng khối lớn nhân-dân cὐa nhau. Dân Hy Lᾳp ở Thổ trở về đất Hy và Thổ ở Hy trở về đất Thổ. Sau đấy thὶ từng vᾳn người dân Cσ Ðốc vốn sinh sống ở đất Thổ từ trước nᾰm 1914 đᾶ trở về Hy Lᾳp hết. Nền kinh tế ở Thổ do đấy mà bị đἀo lộn, vὶ tất cἀ nền nội-thưσng ở Thổ và một phần lớn ngoᾳi thưσng nữa, trước nᾰm 14-18 vốn ở trong tay khối dân Hy Lᾳp ấy cἀ. Cάc nhà lᾶnh đᾳo Chίnh-phὐ Quốc-gia Thổ lύc ấy tuy biết trước sự tai hᾳi về quyền lợi kinh tế sẽ xẩy ra như thế, nhưng vὶ tinh thần dân-tộc đὸi hὀi, bắt-buộc họ phἀi quyết-định sự trao đổi ấy bất cứ bằng một giά nào, để kiến thiết lᾳi một quốc gia độc-lập hoàn-toàn. Do đấy chύng ta thấy sự cộng-đồng quyền-lợi kinh-tế phἀi ở sau sự cộng-đồng у́-thức quốc-gia dân-tộc.

Và sự cộng-đồng quyền-lợi kinh tế không đὐ khiến cho dân Ấn Ðộ từng khối lớn nhân dân nổi lên phong trào bất hợp tάc. Trong hàng ngῦ cό đὐ cάc tầng lớp người bất phân giai cấp, nào là trί-thức, nào là vô-sἀn, lao-động, nông-dân, thưσng gia, công chức, học-sinh, nam phụ lᾶo ấu, một lὸng đoàn-kết đứng trên quyền-lợi vật-chất để hưởng-ứng tiếng gọi thiêng liêng cὐa Tổ-quốc.

Lᾳi như ở Việt Nam trἀi qua ngόt một thế kỷ nay, sự cộng-đồng quyền-lợi không thể giἀi thίch cho bao nhiêu hiện tượng hy-sinh tίnh mᾳng cho Tổ Quốc, bị tὺ tội, bị lao-lung cὐa khắp cάc từng lớp xᾶ-hội Việt Nam kẻ giầu cῦng như người nghѐo, kẻ học-thức cῦng như người thất học.

Vậy thὶ ngoài sự cộng-đồng quyền-lợi kinh-tế cὸn cό những yếu-tố tâm lу́, động-cσ tinh-thần phức-tᾳp tập hợp lᾳi để cấu tᾳo ra cάi thực tᾳi xᾶ-hội là dân-tộc, cάi у́-thức quốc-gia đứng ở trên у́-thức giai-cấp. Những nhà chὐ-trưσng giai-cấp đấu tranh vὶ quyền-lợi kinh-tế cộng-đồng cῦng phἀi thừa nhận cάi thực tᾳi Dân-Tộc-Tίnh, như Horrabin chẳng hᾳn, tάc-giἀ cuốn “Ðịa lу́ kinh-tế sử đᾳi quan” xuất bἀn 1929 ở Luân-đôn: “Chύng tôi thừa nhận thực tᾳi cὐa Dân-tộc tίnh. Và nếu không cό bằng chứng gὶ khάc nữa, thὶ những biểu thị cὐa dân Ái Nhῖ Lan và dân Ấn Ðộ cῦng xάc nhận cho cάi thực tᾳi ấy vậy.” (La Revol. Prol. Ed tr. 67)

Và đứng trước cάi sự kiện lịch-sử hiếm cό ngày nay đang diễn ra ở trước mặt là từng khối người bất phân tίn-ngưỡng hay giai-cấp, gần một triệu lῦ lượt bὀ mồ mἀ tổ tiên để mᾳo hiểm vào đây. Ðể tὶm cάi chi? Quyền lợi chᾰng? Quyền lợi cὸn phἀi cό công trὶnh khai-thάc. Vἀ chᾰng cό ngu chi mà bὀ quyền-lợi sẵn cό để đi tὶm một quyền lợi viển vông ở phưσng xa đất lᾳ? Không, cάi việc di dân khổng lồ cὸn đang tiếp diễn chỉ vὶ một lу́-do, một động cσ giἀn-dị là: Dân-tộc-tίnh truyền thống cὐa dân Việt, vượt lên trên tất cἀ quyền-lợi nhὀ nhen.

Ngôn ngữ và tâm lу́ chung

Ngoài những yếu-tố kể trên như huyết-thống, lᾶnh-thổ, chế-độ kinh-tế và chάnh-trị, đều là những yếu tố thiết yếu để tᾳo-thành cάi thực tᾳi xᾶ-hội là Dân tộc, cὸn một loᾳi yếu-tố đặc-biệt thiết-yếu nữa là yếu-tố tâm-lу́ chung và ngôn ngữ. Muốn cὺng nhau chung sống trong một đoàn thể thὶ ίt nhất cῦng phἀi cἀm-thông được với nhau; ngoài tὶnh đồng-bào cὸn phἀi giao-dịch trao đổi với nhau về tư tưởng và tὶnh tự. Nào phἀi chỉ cό sự trao đổi tinh thần giữa người sống mà thôi. Cὸn phἀi truyền tử nhược tôn, thế hệ này truyền lᾳi gia-bἀo tinh-thần cho thế hệ sau nữa. Ðây là sứ mệnh cὐa vᾰn-tự ngôn-ngữ. Ngôn-ngữ quἀ thật là một lợi khί để cho người nọ người kia hiểu nhau. Cό hiểu nhau rồi mới hợp-tάc, mới cό sự đồng-tὶnh nhất trί trong hành động cὐa đoàn thể. Cάc nhà xᾶ-hội-học thuộc về lập trường Duy-tâm hay Duy-vật, thἀy đều công-nhận ngôn ngữ là một điều-kiện tối thiết-yếu cho sự sinh-hoᾳt và tiến hoά cὐa xᾶ-hội nhân-loᾳi. Ðối với dân tộc, tiếng nόi mẹ đẻ lᾳi càng thiết-yếu để thống nhất у́-chί, thống-nhất nhân-tâm. Nhưng tiếng nόi mẹ đẻ cό phἀi là yếu tố quyết-định cho sự tồn-tᾳi cὐa dân-tộc hay không ? Ðây là vấn-đề đᾶ gây lên hai bên bờ sông Rhin một cuộc khẩu chiến kịch-liệt giữa lу́ thuyết Quốc-gia Ðức với lу́ thuyết Quốc-gia Phάp. Nhà tư-tưởng Ðức là Fichte, lên tiếng lấy ngôn ngữ làm tiêu-chuẩn cὐa dân-tộc-tίnh. Ông cᾰn-cứ vào những triết-gia như Bacon, Vico và Leibnitz đều chὐ-trưσng cάi yếu-tố giἀn-tiện cὐa lịch sử một dân-tộc là tiếng nόi. Trong những bài diễn-thuyết cho dân-tộc Ðức, ông định-nghῖa một dân-tộc-tίnh như sau:

“Những kẻ nόi cὺng một thứ tiếng là một đoàn thể mà tᾳo-hόa đᾶ liên-kết với nhau bằng những sợi giây phức tᾳp và vô hὶnh.”

Cὺng một chὐ-trưσng ấy, Rohr trong Hàn lâm viện Ðức, về tiếng nόi mẹ đẻ cό trἀ lời câu hὀi “Một dân tộc là gὶ?”: — “Chύng tôi gọi một dân-tộc cάi bἀn ngᾶ chung mà tίnh cάch riêng biệt thὶ cᾰn cứ vào tiếng nόi, vào chίnh cάi phưσng-tiện tinh-thần nό đᾶ tᾳo ra cάi quan-niệm cὐa chύng ta về thế-giới và về nhân-loᾳi, sự tranh đấu cὐa dân-tộc Ðức là sự tranh-đấu cho ngôn-ngữ. Những biên-giới dân-tộc ngày nay trước hết đi theo với biên giới ngôn-ngữ. Kẻ nào cho con cάi mὶnh trưởng-thành ở một tiếng nόi ngoᾳi-quốc thὶ ấy là đᾶ làm quà con chάu mὶnh cho một dân-tộc khάc. Vận-mệnh cὐa ngôn-ngữ chίnh là vận-mệnh cὐa dân-tộc.”

Theo nhà lᾶnh-tụ quά-khίch quốc-gia thὶ tiếng mẹ đẻ, thứ tiếng mà chύng ta suy-nghῖ, thứ tiếng mà chύng ta dὺng để phἀn-ứng lᾳi một cάch tự nhiên với những việc xẩy ra hàng ngày ra bên ngoài, tiếng nόi ràng buộc chύng ta vào một nền vᾰn-hόa và tục-lệ truyền thống, tiếng nόi nό khuôn đύc tâm-hồn chύng ta hẳn là một tiêu chuẩn quyết-định dân-tộc-tίnh. Sự thực thὶ luôn luôn và bất cứ ở nσi nào, hễ công dân cό trường hợp tὀ bầy у́ muốn một cάch tự-do thὶ nό sẽ phάt biểu về vấn đề dân-tộc-tίnh bằng tiếng mẹ đẻ. Chίnh tiếng mẹ đẻ hσn là tiếng sinh ngữ khάc đᾶ tᾳo ra у́-thức dân-tộc, cάi у́-thức nό quyết định у́-chί cὐa người ta muốn làm công-dân cὐa một dân-tộc nhất-định nào. Phἀi chᾰng cῦng vὶ một у́-tưởng động-cσ ấy mà cάch đây 30 nᾰm học-giἀ Việt-Nam ngoài Bắc trong bầu không khί thất vọng về chίnh-trị đᾶ phἀi đề-cao truyện Kiều để cố bἀo-vệ lấy quốc-hồn, quốc-tύy:

“Truyện Kiều cὸn tiếng ta cὸn
Tiếng ta cὸn nước ta cὸn.”

Ðấy là đề cao triệt để ngôn-ngữ vậy. Nhà xᾶ-hội học tuyên-bố về ngôn-ngữ rằng: “Không thể cό ở đâu một tiếng nόi thống nhất, ngoài nσi nào đᾶ cό một dân tộc, hay là ngoài nσi nào đᾶ thấy cό một dân-tộc cό у́ thức về sự thống nhất quốc-gia dân-tộc.”

Nhưng ở thế-giới hiện nay cό những dân nόi cὺng một thứ tiếng mà hợp thành hai dân-tộc như Anh Mў chẳng hᾳn, lᾳi cῦng cό thể như nước Thụy-Sῖ gồm bốn thứ tiếng nόi khάc nhau. Và tiếng nόi là sἀn-phẩm cὐa lịch sử xᾶ-hội như Meillet đᾶ nhận xе́t: “Mỗi một tiếng nόi là một sἀn-vật cὐa một lịch trὶnh tiến hόa trong ấy cό những ἀnh hưởng phức tᾳp. Tiếng nόi, hσn là một chế độ, tập tục xᾶ-hội khάc, đὸi phἀi giἀi-thίch bằng lịch sử.”

Vậy thὶ tiếng nόi thay đổi tὺy theo thời đᾳi và địa-phưσng. Nό không phἀi là nguyên-lу́ đẻ ra sinh hoᾳt dân-tộc. Nό phἀi dựa vào sinh-hoᾳt để chứng minh và nό phάt-xuất tự cuộc sinh-hoᾳt cὐa dân-tộc.

Bởi vὶ ngôn-ngữ không cό liên-tục tίnh, thay đổi với thời gian và không-gian như thế, cho nên ở bên này sông Rhin, nhà triết-gia Renan đᾳi-diện cho tinh thần dân-tộc Phάp đᾶ lấy thuyết tâm-linh về dân-tộc-tίnh để trἀ lời thuyết ngôn-ngữ về dân-tộc-tίnh cὐa thuyết gia Ðức như sau:

“Một dân tộc là một linh hồn,
một nguyên lу́ tâm linh.”

Cάi linh-hồn ấy thuộc về quά-khứ và hiện-tᾳi. Quά khứ là cὐa chung dân-tộc gồm cἀ một gia-tài kỷ-niệm vinh-quang hay tὐi-nhục. Hiện tᾳi là một nguyện vọng chung, một mối đồng tâm cὺng nhau sinh tử cộng tồn, một у́-chί chung để tiếp tục làm vẻ vang rᾳng tὀ cάi hưσng hὀa bất phân tổ-tiên để lᾳi. Một dân-tộc cῦng như một cά thể là kết quἀ cὐa một dῖ-vᾶng xa-xᾰm cὐa bao nhiêu sức cố-gắng, bao nhiêu nỗi hy-sinh, bao nhiêu lὸng tận trung bάo quốc. Thờ phụng tổ tiên là một trong những hành vi chίnh-đᾳi để ghi nhớ công σn người đᾶ tᾳo tάc cho ta. Một quά khứ vẻ vang, những danh nhân lịch sử, một vinh-quang chân-chίnh, đấy là tất cἀ vốn liếng xᾶ-hội làm nền mόng cho cάi у́-tưởng quốc-gia dân-tộc.

Lấy linh-hồn chung cὐa dân-tộc như Renan đᾶ tuyên bố, kể thὶ cῦng quά trừu tượng thật, nhưng dân tộc mà sở dῖ tồn tᾳi, và biết bao con dân đất nước trên thế giới đᾶ nỗ lực hy-sinh tất cἀ để bἀo-vệ Tổ-Quốc tự-do độc-lập là vὶ người ta tin vào Tổ-quốc như một cάi gὶ thiêng-liêng, bất diệt, vô cὺng linh động vượt quά giới hᾳn cὐa không gian và thời gian.

Cho dân tộc cό một linh-hồn mà bἀo là chὐ-quan không xάc thực thὶ tức là muốn phὐ nhận địa-vị chὐ-động cὐa loài người trên mặt đất.

Non cao ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu ?

Vô у́-thức hay у́-thức, nhân-loᾳi cῦng tự làm lấy lịch-sử cὐa mὶnh, cho nên dὺ thuyết tâm-linh cὐa Renan cό quά trừu-tượng đi nữa, chύng ta cῦng không cό thể phὐ-nhận được yếu-tố tâm-linh về Dân-tộc-tίnh.

Giữa hai thuyết Dân-tộc-tίnh trên đây , một cὐa Ðức, một cὐa Phάp, một đằng cᾰn cứ vào điều kiện khάch quan là ngôn-ngữ, một đằng cᾰn cứ điều kiện chὐ quan là tâm-linh, thὶ cό thuyết thứ ba là thuyết truyền-thống cὐa dân-tộc Việt mà người anh-hὺng nhà Lу́ đᾶ thu vào bốn câu thσ bất hὐ :

Nam quốc sσn-hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tᾳi thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phᾳm
Nhữ đẳng hành khan thὐ bᾳi hư .

Nύi Sông Nam cό Vua Nam-Việt
Trên sổ trời riêng biệt phân minh
Sao người xâm phᾳm, nghịch binh ?
Chớ coi người sẽ tan tành hư không.

Ðây Lу́ Thường Kiệt đᾶ lấy Sσn-Hà Xᾶ-Tắc làm yếu-tố quyết-định cho dân-tộc -tίnh. Sσn Hà Xᾶ Tắc đây không phἀi là Nύi Sông vật hὶnh mà là Sông Nύi cό hồn, theo tin tưởng truyền-thống cὐa dân Việt. Và Xᾶ-Tắc không phἀi chỉ là tổ-chức hὶnh-thức lễ-nghi mà là cἀ một biểu tượng về đất đai lύa thόc tức là thần thάnh hόa tổ-chức cộng đồng sinh-hoᾳt kinh-tế cὐa dân nông-nghiệp. Như vậy Sσn-Hà Xᾶ-Tắc thực biểu-thị cάi у́-niệm Dân-tộc-tίnh do sự tổng hợp yếu-tố tâm linh với yếu-tố vật-thể, điều-kiện chὐ-quan với điều-kiện khάch-quan đᾶ tᾳo nên.

Họ Lу́ tin vào Sσn-Hà do mệnh Trời ngầm định, nhưng không quên “Cό trời mà cῦng cό ta.”

Không quên cάi у́-chί quật-cường, cάi vai trὸ chὐ-động cὐa nhân-dân Việt, cho nên Ông tin chắc đάnh tan những quân xâm-lược. Bắc cự Tống, Nam phᾳt Chiêm-Thành, tây chinh Mường mάn.

Nhờ cό một tin tưởng thần-bί vào Sσn-Hà Xᾶ-Tắc, vào Dân-tộc-tίnh linh-động, vào chὐ-quyền Quốc-gia như vậy, nên tướng sῖ nhà Lу́ đᾶ mở một thời kỳ vō công oanh-liệt cὐa nước nhà. Và hσn thế nữa, binh phάp Việt-Nam lᾳi cὸn được người Tầu qua học hὀi, bắt chước. P. Pasquier trong sάch “L’Annam d’autrefois” phἀi khen rằng: “Nước Nam biết dὺng lίnh làm ruộng trước nước La-Mᾶ thὐa xưa.”

Vậy Dân-tộc-tίnh đâu phἀi một vật không linh-động? Dân-tộc у́-thức sứ-mᾳng lịch sử cὐa nό, у́-thức vai tuồng chὐ-động cὐa nό biểu-hiện ra thời gian và không gian bên ngoài, nào vật tổ, nào lᾶnh thổ, nào vᾰn hόa, nào quốc học, nào kinh-tế chίnh-trị. Cάi у́-thức ấy tồn-tᾳi như Andrе́ Siegfried trong Hàn Lâm Viên Phάp đᾶ nhận định:

“Trong tâm lу́ cάc dân-tộc cό một cᾰn bἀn bất biến nό luôn luôn biểu hiện ra. Về nhiều điểm chύng ta cὸn giống với tổ-tiên Gaulois cὐa chύng ta, và những đặc tίnh mà sử-gia Tacite thời La-Mᾶ đᾶ ghi nhận được ở cάc dân Man-di hay cάc dân Do-Thάi đưσng thời thὶ cῦng cὸn nhận thấy được ở dân Ðức, dân Do-Thάi ngày nay. Tuy nhiên phἀi cό những sự thίch ứng.” (L’Âme des peuples)

Cάi у́-thức ấy manh-nha nẩy nở tự bên trong sâu thẳm tâm-hồn cάc phần-tử nhân-dân để phόng đᾳi ra bên ngoài ở cάc biểu hiện. Rồi lᾳi từ cάc biểu hiện cụ thể ấy phἀn-chiếu vào trong tâm-hồn để lᾳi phόng đᾳi ra những chiến-công oanh liệt cὐa tướng sῖ, những chί-khί dῦng-mᾶnh cὐa sῖ-phu, những hành-động phi thường, khἀng khάi cὐa tất cἀ anh-hὺng dân-tộc.

“Thà làm quỉ nước Nam cὸn hσn làm vưσng đất Bắc.”

Trần Bὶnh Trọng

Như vậy dân-tộc nào phἀi vô hồn?

Hồn cὐa nό nằm trong Dân-tộc-tίnh, mọi sợi giây truyền-thống bất tuyệt, nối quά khứ với hiện-tᾳi, kể từ vật tổ Rồng Tiên đến Hồn Sông Nύi, đến Sσn Hà Xᾶ Tắc, cho đến hồn nước ngày nay ở miệng nhà cάch-mệnh Quốc Gia Phan Bội Châu:

“Chứa chan Mάu-Quốc, Nước vẩn vσ hồn.”

Hồn nước, cάi у́-thức truyền-thống khi tiềm-tàng khi biểu-lộ, từ cά-nhân thông với nύi sông vῦ-trụ, một dὸng bất đoᾳn bất phân nối quά-khứ với hiện-tᾳi và tưσng lai, đây là Dân-tộc-tίnh, và Dân-tộc-tίnh ấy cό thật.

Tranh minh họa: Con Rồng Chάu Tiên.

Thế Kỷ 21/ Nᾰm Thứ Mười, #123, July 1999

LTS. Sau khi hiệp định Genѐve 20-7-1954 kу́ kết, đất nước Việt Nam chia hai, gần một triệu người dân miền bắc đᾶ di cư vào nam, cὺng với dân miền nam xây dựng một quốc gia Việt Nam không Cộng sἀn.

GS Nguyễn Ðăng Thục