Đọc khoἀng: 7 phύt

Theo nghiên cứu cὐa Stephen Oppenheimer viết trong sάch Eden in the East cὐa ông, thὶ hiện nay nhiều nhà ngôn ngữ học đᾶ đồng thuận: Trong vὺng Viễn Đông cό đến 3 ngữ hệ lớn, là Hoa-Tᾳng (Sino-Tibetan), Nam Á (Austro-Asiatic) và Nam Đἀo (Austronesian); ngoài ra, cὸn cό một ngữ hệ thứ tư là Austro-Tai, tức nhόm Tai-Kadai, nhưng mối quan hệ lai lịch chưa rō ràng lắm.[1]

Cὸn theo nghiên cứu cὐa Roger Blench viết trong luận đề “Stratification in the peopling of China: how far does the linguistic evidence match genetics and archaeology?” mà ông đᾶ đọc tᾳi diễn đàn Human migrations in continental East Asia and Taiwan: genetic, linguistic and archaeological evidence ở Geneva ngày 10-13/6/2004, thὶ chỉ riêng trên đất nước Trung Hoa cῦng đᾶ cό đến 8 ngữ hệ khάc nhau. Đό là cάc ngữ hệ: Hoa-Tᾳng (Sino-Tibetan) hay Tᾳng-Miến (Tibeto-Burman), Mѐo-Dao (Hmong-Mien), Altaic (như tiếng Turkic, Mongolic, Tungusic), Daic, tức Tai-Kadai hay Kradai, Nam Á (Austroasiatic), Nam Đἀo (Austronesian), Indo-European (như tiếng Wakhi, Tajik, Russian…), và Triều Tiên (Korean), Riêng tiếng “Waxianghua” chưa được phân loᾳi.[2]

Hoa ngữ với mối quan hệ Hoa-Tᾳng

Cῦng theo nghiên cứu cὐa Oppenheimer, thὶ ngữ hệ Hoa-Tᾳng (Sino-Tibetan phylum) gồm hσn 300 ngôn ngữ, được hσn một tỉ người nόi, chỉ đứng hᾳng nhὶ sau ngữ hệ Ấn-Âu (Indo-European), và chia thành hai phân hệ chίnh yếu: phân hệ Hoa Hάn (Sinitic subphylum) và phân hệ Tᾳng-Miến (Tibeto-Burmese subphylum).

Phân hệ Hoa Hάn gồm 14 phưσng ngữ lớn. Trong đό, tiếng Quan Thoᾳi được xem là ngôn ngữ quốc gia chίnh thức và phổ biến nhất, mà nguồn gốc cὐa nό xuất phάt từ phίa Bắc sông Hoàng Hà. Tuy nhiên, 14 phưσng ngữ cὐa phân hệ Hoa Hάn này đᾶ không thể hiểu nhau, nên phἀi dὺng duy nhất chữ Hάn để biết у́ nghῖa cὐa nhau. Tất cἀ đều ĐƠN ÂM (monosyllabic) và ĐA THANH (tonal), và KHÁC với cάc thứ tiếng cὐa những hệ ngôn ngữ khάc trên thế giới, như Ấn-Âu và Nam Đἀo đều ĐA ÂM (polysyllabic) và ĐƠN THANH (monotonal or atonal).

Riêng nhόm phưσng ngữ ở miền Nam Trung Quốc, gồm cἀ tiếng Quἀng Đông hoặc cὸn gọi là Việt ngữ, được nόi lan rộng xuyên suốt cάc vὺng dọc bờ biển Thάi Bὶnh, từ Korea xuống đến tận Việt Nam, và chiếm một diện tίch hσn nửa lᾶnh thổ Trung Quốc.

Cὸn phân hệ Tᾳng-Miến cό quê quάn xuất phάt từ Tây Tᾳng, Tây Tứ Xuyên, Vân Nam, và vὺng đầu nguồn cὐa cάc con sông lớn Brahmaputra, Irrawaddy, Cửu Long và Dưσng Tử, và cῦng được nόi rộng khắp từ cάc vὺng Tây Tᾳng, Đông-Bắc Ấn Độ, đến cάc vὺng Miến Điện và Tây-Nam Trung Quốc.

Nghiên cứu cὸn cho biết, mặc dὺ hai phân hệ Hoa Hάn và Tᾳng-Miến được đa số cάc nhà ngôn ngữ học đồng thuận gộp chung thành “họ hàng” với nhau; nhưng không phἀi vὶ thế mà những cư dân nόi cάc phân hệ này đều cό chung nguồn gốc. Vὶ xе́t về mặt di truyền thể lẫn diện mᾳo bề ngoài, họ xuất phάt từ nhiều nguồn gốc khάc nhau.

Chẳng hᾳn, di truyền thể cὐa người miền Nam Trung Quốc và người miền Nam Tây Tᾳng GẦN GŨI VỚI CÁC CƯ DÂN NÓI NGÔN NGỮ NAM Á và TAI-KADAI hσn, so với cάc cư dân Bắc Hάn nόi tiếng Quan Thoᾳi. Cὸn sọ nᾶo cὐa cάc cư dân phίa Nam Tây Tᾳng và vὺng thung lὐng đầu nguồn cὐa cάc con sông lớn đều cό khuynh hướng hὶnh dᾳng trὸn (brachycephalic), giống với người Nam Á và Đông Á. Trong khi ấy sọ nᾶo cὐa cάc cư dân sống du mục thἀo nguyên ở phίa Bắc Tây Tᾳng và cάc gia đὶnh quί phάi ở Lhasa lᾳi cό hὶnh dᾳng dài (dolichocephalic), giống với người Thổ Nhῖ Kὶ và châu Ấu. (Oppenheimer, sđd, tr. 126-8).

Cῦng cần nόi thêm ở đây, cάc kết quἀ khἀo sάt “DNA” do nhà di truyền học Bing Su và cάc đồng nghiệp cὐa ông thực hiện gần đây cῦng cho biết nhiễm sắc thể Y cὐa tộc người Tây Tᾳng cό nhiều nguồn gốc xuất phάt từ Trung Á và Đông Á (Su, Bing, et al., 2000).[7]

Hoa ngữ không phάt sinh khởi thὐy ở Trung Quốc

Gần đây, đᾶ cό nhiều nhà ngôn ngữ học bắt đầu nghi ngờ về mối liên hệ gia phἀ cὐa ngữ hệ Hoa-Tᾳng. Theo nghiên cứu cὐa nhà ngôn ngữ học George Van Driem, Hoa ngữ tuy được kể thuộc họ hàng với cάc ngôn ngữ Tᾳng-Miến, nhưng là ngôn ngữ không phάt sinh ở giai đoᾳn khởi thὐy: vὶ nό tὀ ra KÉM PHÂN HÓA ĐA DẠNG so với cάc ngôn ngữ khάc cὐa nhόm Tᾳng-Miến. Do đό, qua gợi у́ cὐa cάc nhà ngôn ngữ học khάc, như Benedict, Shafer, Burling, và Bradley, George Van Driem đᾶ đồng tὶnh đề nghị THAY TÊN NGỮ HỆ HOA-TẠNG THÀNH NGỮ HỆ TẠNG-MIẾN.[8]

Cὸn Roger Blench, cῦng trong bài tham luận cὐa ông vừa đề cập ở trên, đᾶ đặt nghi vấn về mối liên hệ gia phἀ Hoa-Tᾳng và đᾶ nhận xе́t: “chίnh sự phân loᾳi bên trong cὐa ngữ hệ Hoa-Tᾳng cὸn nhiều điều mâu thuẫn tranh cᾶi […]. Lί do là vὶ Hoa ngữ KHÔNG CÓ TÍNH ĐA DẠNG NHIỀU so với cάc ngôn ngữ cὸn lᾳi cὐa ngữ hệ Hoa-Tᾳng, và đό cό thể là do sự bành trướng cὐa Hoa ngữ chỉ mới xἀy ra gần đây mà thôi.”

Thật vậy, cῦng theo Roger Blench, “Những gὶ chύng ta biết về Hoa ngữ cho thấy sự bành trướng cὐa Hoa tộc chỉ mới xἀy ra gần đây mà thôi; cho nên, gần như không cό một vᾰn hόa khἀo cổ học xa xưa nào trước thời điểm này chứng tὀ cό mối quan hệ với cάc cư dân nόi Hoa ngữ hiện nay.”

Rồi ông giἀi thίch tiếp, “cho dὺ lai lịch Hoa ngữ bắt nguồn từ đâu trong hệ Hoa-Tᾳng; nhưng cό một sự công nhận rộng rᾶi, đό là sự bành trướng cὐa Hάn ngữ đi dần từ Bắc xuống Nam, từ khu vực trồng lύa kê đến khu vực trồng lύa nước, và đᾶ trấn άp đồng hόa cάc thành phần cư dân bἀn địa rất đa dᾳng. Tuy nhiên, Hoa Hάn VẪN KHÔNG THỂ ĐỒNG HÓA CӐN CƯỚC cὐa những cư dân thuộc cάc khu vực cộng đồng cổ xưa nhất ở miền Bắc Trung Quốc (từ 6.500 nᾰm trước).”

Để dẫn chứng điều này, Tiến sῖ Roger Blench cὸn cho biết thêm: “Nghiên cứu khἀo cổ học cὐa Nhật Bἀn gần đây về cάc thành phố cổ xưa ở Trung Quốc, như Pengtoushan (khoἀng 6500-5800 TCN), cho thấy chύng KHÔNG THUỘC DI SẢN HOA HÁN, nhưng thuộc di sἀn cὐa người Mѐo-Dao.”

Cὺng một quan điểm như thế, nhà khἀo cổ học Hoa Kὶ Bellwood cῦng tin tưởng rằng những di tίch trồng lύa nước cό tίnh cάch đᾳi trà ở Hemudu, gần khu vực cửa sông Dưσng Tử, đᾶ xἀy ra giữa 7.000 và 5.600 nᾰm trước, CÓ NGUỒN GỐC VӐN HÓA NAM ĐẢO (Oppenheimer, sđd, tr. 69).

Hoặc như nghiên cứu cὐa Tiến sῖ Wilhelm G. Solheim II, Giάo sư nhân chὐng học Đᾳi học Hawaii, thὶ cἀ vᾰn hόa Ngưỡng Thiều ở mền Bắc lẫn vᾰn hόa Long Sσn ở miền Nam Trung Quốc đều phάt triển từ những cᾰn bἀn VӐN HÓA HÒA BÌNH.[9]

Như vậy, qua cάc dẫn chứng và lập luận trên, chύng ta nhận thấy: Hoa ngữ KHÔNG LÀ NGÔN NGỮ BẢN ĐỊA TIÊN KHỞI ở Trung Quốc, nhưng là do đồng hόa cᾰn cước với những nhόm ngôn ngữ bἀn địa khάc, như Việt, Mѐo, Dao, Thάi, v.v…, để dần dà biến thάi và “khai sinh” thuộc nhόm ngôn ngữ Hoa-Tᾳng – với sự bἀo lưu cấu trύc cὐa cάch nόi Hoa Hάn, mà ngày nay chύng ta được biết với tên gọi là Quan Thoᾳi.

Nόi khάc đi, Hoa Hάn ngữ không hoàn toàn là tiếng mẹ đẻ cὐa Hoa Hάn tộc, nhưng là tổng hợp vay mượn cὐa nhiều ngôn ngữ cὐa cάc tộc người bἀn địa KHÁC HOA TỘC đᾶ “hiện diện trên đất nước Trung Hoa trước người Trung Hoa”.

Và cό thể đᾶ là lί do khiến John DeFrancis, tάc giἀ sάch The Chinese Language: Fact and Fantasy, đᾶ phἀi thốt ra những lời nhận xе́t chua cay nhưng xάc thực: “Không cό tiếng Trung Hoa, chỉ cό một nhόm những tiếng nόi quan hệ với nhau, mà một số người này gọi là những tiếng nόi địa phưσng hay cὸn gọi là phưσng ngữ, cὸn người khάc lᾳi xem như những ngôn ngữ riêng biệt.”[10]

Tόm lᾳi và kết luận

Như vậy, qua những nghiên cứu trên, chύng ta nhận thấy Hoa ngữ không là ngôn ngữ phάt sinh khởi thὐy ở Trung Quốc, nhưng chỉ là một ngôn ngữ “sinh sau đẻ muộn” so với nhiều ngôn ngữ địa phưσng khάc. Tuy nhiên, nhờ ưu thế chίnh trị và nhất là nhờ khἀ nᾰng vay mượn và đồng hόa với cάc ngôn ngữ cὐa cάc tộc người địa khάc, mà Hoa ngữ đᾶ dần dà chiếm ưu thế và “thay hὶnh đổi dᾳng” để chίnh thức biến thành tiếng nόi quốc gia, gọi là Hoa Hάn ngữ hay cὸn gọi là tiếng Quan Thoᾳi.

Ngoài ra, cῦng qua những khάi quάt ngôn ngữ học ở trên, chύng ta đᾶ KHÔNG HỀ THẤY MỐI LIÊN HỆ HUYẾT TỘC NÀO giữa tiếng Việt và tiếng Trung Hoa, vὶ những lί do chὐ yếu mà chύng tôi xin lặp lᾳi sau đây:

Điểm 1, Hoa ngữ tuy xưa nay được xem như ở trong ngữ hệ Hoa-Tᾳng và cῦng được xem như đứng đầu cὐa hệ này, nhưng mối quan hệ này gần đây đᾶ bị nghi ngờ. Lί do là vὶ không cό mối quan hệ huyết tộc, mà chỉ cό mối quan hệ chίnh trị lịch sử (do chὐ trưσng đồng hόa) mà thôi.

Điểm 2, trong khi tiếng Việt Nam đᾶ được nhὶn nhận, chẳng những cό MỐI LIÊN HỆ DI TRUYỀN THỂ gần gῦi với nhόm Việt ngữ bên Trung Quốc, mà cὸn cό nguồn gốc di truyền thể với cἀ hai ngữ hệ Nam Á và Nam Đἀo. Đây là điều đᾶ phἀn ἀnh trong cάc truyền thuyết “con Rồng chάu Tiên” hoặc Phục Hi và Nữ Oa hoặc Âu Cσ và Lᾳc Long Quân, để nόi lên một quά trὶnh kết hợp và lai chὐng giữa hai nền vᾰn hόa sông biển và nύi rừng cὐa khối dân tộc Việt.

Và điểm 3, cho đến nay cάc phưσng ngữ ở Hoa Nam vẫn cὸn mang “khai sinh” Việt ngữ, tức đᾶ cό nguồn gốc xuất phάt KHÁC với Hoa ngữ Quan Thoᾳi. Trong lύc ấy, tiếng Việt Nam vẫn một mὶnh một chợ ở tận phίa Nam bên này biên giới Trung Quốc, nhưng lᾳi cό họ hàng với cάc phưσng ngữ ấy – mặc dὺ đᾶ xa nhau cἀ về không gian lẫn thời gian.

Phan Châu Hồng