Đọc khoἀng: 24 phύt

Hai mưσi lᾰm nᾰm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, một cἀm thức nuối tiếc về cσ hội đᾶ bὀ lỡ đang trὺm lên cάc nước một thời nằm ở phίa Đông đường ranh này. Trở lᾳi thời điểm đό, hi vọng cὐa dân chύng tᾳi đây đᾶ dâng cao trong không khί hồ hởi đόn mừng sự sụp đổ đột ngột cὐa chὐ nghῖa cộng sἀn. Từ Bratislava đến Ulaanbaatar, cσ hồ thể chế dân chὐ và sự thịnh vượng kinh tế đᾶ đến đợi ở gόc đường.

Ngày nay, tâm trᾳng người dân tᾳi những nước này trở nên u άm hσn. Với một vài trường hợp ngoᾳi lệ, như Estonia và Ba Lan, những nước hậu cộng sἀn cὸn lᾳi bị coi là những trường hợp thất bᾳi – kinh tế bị oằn xuống dưới sức nặng cὐa tầng lớp hưởng hưu bổng đang sống chật vật và giới đầu sὀ chίnh trị đang sống xa hoa, cὸn chίnh trị thὶ bị hoen ố bởi cάc trὸ gian lận ở thὺng phiếu và sự xuất hiện những lᾶnh đᾳo độc tài.

Từ Nam Tư cῦ đến Chechnya và bây giờ đến miền Đông Ukraine, cάc cuộc chiến đᾶ làm giάn đoᾳn sự liên tục cὐa thời gian hσn 40 nᾰm hὸa bὶnh lᾳnh [cold peace] trên lục địa châu Âu, để lᾳi nhiều vὺng lōm âm ỉ bᾳo động. Đối với nhiều quan sάt viên thời sự, chế độ kὶm kẹp độc tài và tham vọng địa chίnh trị hiếu chiến cὐa Tổng thống Nga Vladimir Putin tiêu biểu cho một tὶnh trᾳng suy thoάi dân chὐ tổng quάt hσn lan ra từ phίa Đông. “Điều tồi tệ nhất cὐa chὐ nghῖa cộng sἀn là những gὶ diễn ra sau nό,” Tổng Biên tập cὐa một nhật bάo Ba Lan và trước đây là một nhà bất đồng chίnh kiến chống cộng, ông Adam Michnik, mỉa mai.

Hὶnh: Baku, thὐ đô Azerbaijan ngày nay

Ngày kỷ niệm là một dịp tốt để chiêm nghiệm lịch sử và chẩn đoάn tưσng lᾳi. Nhiều thay đổi đᾶ diễn ra từ khi cάc nước hậu cộng sἀn – gồm 15 quốc gia kế thừa Liên Xô, 14 nước cộng sἀn cῦ cὐa Đông Âu , và cựu chư hầu Xô-viết Mông Cổ – đᾶ thoάt khὀi cάc chế độ Mάc-xίt tàn bᾳo cάch đây một thế hệ. Không phἀi mọi thay đổi đều phἀi trở thành một cάi gὶ tốt đẹp hσn. Nhưng nếu coi những cἀi tổ hậu cộng sἀn là thất bᾳi, thὶ đό lᾳi là một sai lầm, và sai lầm này cό nhiều у́ nghῖa vượt ra ngoài khu vực. Một số nhà nghiên cứu, choάng ngợp trước sự trỗi dậy cὐa Trung Quốc và bị sốc do cuộc khὐng hoἀng tài chίnh toàn cầu, gần đây đᾶ coi chὐ nghῖa tư bἀn nhà nước độc tài là một phưσng άn sinh động thay thế cho sự rối loᾳn chức nᾰng cὐa thể chế dân chὐ tự do. Quan niệm sai lầm cho rằng nỗ lực cἀi tổ thị trường đᾶ thất bᾳi tᾳi Đông Âu đᾶ tᾰng cường cάi ἀo giάc này.

Sự thật là lối tường thuật u άm đang thịnh hành về thế giới hậu cộng sἀn phần lớn là sai lầm. Gᾳt qua một bên cάc hὶnh ἀnh thời sự hiện nay, chύng ta sẽ thấy cuộc sống đᾶ được cἀi thiện ngoᾳn mục khắp khối Đông cῦ. Từ thời kỳ quά độ đến nay, cάc nước hậu cộng sἀn đᾶ phάt triển kinh tế nhanh chόng; ngày nay, người dân trở nên giàu cό hσn, cό tuổi thọ cao hσn, và sống hᾳnh phύc hσn. Gần như trên mọi phưσng diện, những quốc gia này hiện nay hoàn toàn giống như bất cứ quốc gia nào khάc trên thế giới cό cὺng một mức độ phάt triển kinh tế. Chύng đᾶ trở thành những nước bὶnh thường – và, trong nhiều cung cάch, tốt đẹp hσn cἀ bὶnh thường.

Mặc dὺ tίnh trung bὶnh, chύng giống như cάc quốc gia đồng đẳng kinh tế, nhưng trên thực tế cάc quốc gia chuyển đổi thể chế này đᾶ trở nên đa dᾳng hσn nhiều. Sau khi thoάt ra khὀi mô hὶnh do Moscow άp đặt, chύng chịu sức thu hύt cὐa những quốc gia lάng giềng phi cộng sἀn gần nhất: cάc nước ở Trung Âu nghiêng về châu Âu hσn; cάc nước ở Trung Á nghiêng về châu Á hσn. Trong những nᾰm sắp tới, con đường phάt triển cὐa chύng cό khἀ nᾰng cὺng phἀn άnh sự ganh đua giữa hai lực tάc động chίnh: tίnh nᾰng động toàn cầu cὐa hiện đᾳi hόa và sức nίu kе́o cὐa địa lу́ [khu vực].

Cάc quốc gia kinh tế thị trường

Để hiểu rō cάc nước hậu cộng sἀn nόi trên đᾶ thay đổi ra sao ta hᾶy nhớ lᾳi chύng đᾶ xuất phάt như thế nào. Về chίnh trị, chύng đều là những quốc gia độc tài được cai trị bởi một đἀng cầm quyền. Mỗi nước đều cό cάn bộ tuyên giάo để dᾳy bἀo người dân phἀi nghῖ gὶ, cό mật vụ để phάt hiện bất đồng chίnh kiến, và cό trᾳi tὺ để giam giữ những người chỉ trίch chế độ. Tất cἀ đều bày ra cάc cuộc tuyển cử khôi hài trong đό đἀng chiếm hσn 95 phần trᾰm phiếu bầu. Trừ Nam Tư và Albania sau nᾰm 1960, cάc nước khάc đều nhận lệnh từ Moscow, một trung tâm quyền lực đᾶ đưa xe tᾰng vào Hungary nᾰm 1956 và Tiệp Khắc nᾰm 1968 để đàn άp cάc cuộc nổi dậy cὐa dân chύng.

Tất cἀ cάc nước trong khối cộng sἀn vào thời đό cό nền kinh tế do trung ưσng kiểm soάt. Hầu hết hoặc tất cἀ tài sἀn đều thuộc về nhà nước, và giά cἀ được cάc nhà làm kế hoᾳch kinh tế đặt ra, chứ không do thị trường định đoᾳt. Công nghiệp nặng chiếm ưu thế trong khi khu vực dịch vụ thὶ ѐo uột. Tᾳi Liên Xô, chi phί quốc phὸng đᾶ ngốn tới 25 phần trᾰm GDP vào cuối những nᾰm 1980, so với  dưới 6 phần trᾰm tᾳi Mў. Vào nᾰm 1986, cάc nhà mάy cὐa Liên Xô đᾶ sἀn xuất một kho vῦ khί gồm 45.000 đầu đᾳn hᾳt nhân.

Làm thoἀ mᾶn người tiêu thụ không phἀi là một ưu tiên. Để mua được một cᾰn hộ vào những nᾰm 1980, người nᾳp đσn ở Bulgaria phἀi đợi đến 20 nᾰm, và tᾳi Ba Lan phἀi đợi đến 30 nᾰm; một phần tư số người trong danh sάch chờ tᾳi Liên Xô là người đᾶ nghỉ hưu. Người mua xe hσi tᾳi Đông Đức phἀi đặt hàng trước 15 nᾰm. Tᾳi Romania, nhà độc tài Nicolae Ceausescu buộc mọi người phἀi theo một chế độ ᾰn uống thiếu calorie vào đầu những nᾰm 1980 để dành tiền trἀ nợ nước ngoài. Ông qui định mỗi phὸng chỉ được thắp sάng bằng một bόng đѐn 40 watt, sưởi ấm cάc công sở chỉ đến 14 độ C là tối đa, và thời gian phάt sόng truyền hὶnh mỗi ngày là hai giờ với cάc chưσng trὶnh tẻ nhᾳt.

Cάc nước cộng sἀn cό thể rêu rao một số thành tίch. Với chỉ 8 phần trᾰm dân số thế giới, Liên Xô và cάc nước Đông Âu đᾶ giành được 48 phần trᾰm huy chưσng tᾳi Thế vận hội Seoul nᾰm 1988 và cό đến 53 trong số 100 tay cờ tướng hàng đầu nᾰm đό. Tỉ lệ người cό học và biết chữ là cao.

Tuy nhiên, vào những nᾰm suy tàn cὐa chὐ nghῖa cộng sἀn, ίt ai chịu đứng ra bênh vực nό. Theo Vaclav Havel, nhà bất đồng chίnh kiến về sau trở thành Tổng thống Cộng hὸa Sе́c, hệ thống đό là một “cỗ mάy đồ sộ quάi đἀn, inh ὀi và tanh hôi.” Nhiều nᾰm sau khi rời bὀ quyền hành, Mikhail Gorbachev, chὐ tịch cuối cὺng cὐa Liên Xô đᾶ mô tἀ đặc tίnh cὐa nền kinh tế mà cό thời ông giάm sάt là “ngốn ngấu” và “phung phί tài nguyên.”

Cuối cὺng, toàn bộ hệ thống Xô-viết thὶnh lὶnh sụp đổ. Cάc lᾶnh đᾳo mới được dân bầu ra khắp khối cộng sἀn cῦ phἀi đối diện với nền kinh tế nước mὶnh trong cσn khὐng hoἀng. Nᾰm 1989, lᾳm phάt tᾰng vọt 640 phần trᾰm tᾳi Ba Lan và 2.700 phần trᾰm tᾳi Nam Tư. Khoἀng thời gian trước 1991, thời điểm Liên Xô tan rᾶ, sἀn lượng cὐa nước này giἀm 15 phần trᾰm một nᾰm.

Cάc chίnh phὐ hậu cộng sἀn đồng loᾳt thực thi cάc chưσng trὶnh cἀi tổ – được thiết kế để giἀm bớt việc kiểm soάt giά cἀ, thύc đẩy mậu dịch, quân bὶnh ngân sάch, tư hữu hόa cάc xί nghiệp nhà nước, và thiết lập cάc chưσng trὶnh phύc lợi xᾶ hội – mặc dὺ một số nước cό thể theo đuổi cάc chưσng trὶnh này nhanh hσn và mᾳnh hσn cάc nước khάc. Những cἀi tổ này đᾶ thay hὶnh đổi dᾳng nền kinh tế cὐa họ. Nόi chung, nhờ từ bὀ đường lối hoᾳch định kinh tế trung ưσng, cάc nước hậu cộng sἀn cό điều kiện phάt triển kinh tế thị trường hσn phần cὸn lᾳi cὐa thế giới. Khoἀng nᾰm 2011, cάc nước này đᾳt một chỉ số tự do kinh tế trung bὶnh là 7,0, một chỉ số do Viện Fraser, một nhόm nghiên cứu tᾳi Canada đύc kết, so với chỉ số trung bὶnh toàn cầu là 6,8. Nước được cἀi tổ nhiều nhất trong khối,Estonia, cό chỉ số tự do kinh tế nằm giữa Đan Mᾳch và Hoa Kỳ.

Hầu như khắp mọi nσi, cάc con khὐng long công nghiệp nhà nước phἀi nhường bước cho cάc công ty tư nhân là những công ty bắt đầu sἀn xuất phần lớn tổng sἀn phẩm nội địa (GDP). Sἀn lượng trung bὶnh cὐa khu vực tư tᾳi cάc nước hậu cộng sἀn hiện nay chiếm khoἀng 70 phần trᾰm. Công nghiệp nặng được giἀm thiểu, và trung bὶnh, khu vực dịch vụ tᾰng từ 36 phần trᾰm đến 58 phần trᾰm sἀn lượng quốc gia trong thời gian từ 1990 đến 2012. Không cό một khu vực nào trên thế giới mà mậu dịch quốc tế phάt triển nhanh như thế, với kim ngᾳch nhập khẩu và xuất khẩu cὺng tᾰng vọt từ 75 phần trᾰm đến 114 phần trᾰm GDP. Sau nhiều thập niên chὐ yếu trao đổi mậu dịch với nhau trong cὺng một khối, cάc quốc gia hậu cộng sἀn đᾶ nhanh chόng tάi định hướng kinh tế để nhắm tới cάc thị trường nước ngoài tᾳi châu Âu và những khu vực khάc. Tίnh đến nᾰm 2012, giά trị hàng xuất khẩu từ cάc nước Đông Âu cῦ sang EU tᾰng trung bὶnh 69 phần trᾰm và từ cάc nước cộng hὸa Xô-viết cῦ 47 phần trᾰm.

Tόm lᾳi, những nước này đᾶ chuyển đổi hệ thống kinh tế do nhà nước quἀn lу́, được quân sự hόa và công nghiệp hόa cao độ thành một nền kinh tế thị trường hướng về dịch vụ, đặt cσ sở trên sở hữu tư nhân và hội nhập vào mᾳng lưới thưσng mᾳi toàn cầu. Không cὸn bị bόp mе́o theo đường lối Mάc-xίt, cάc định chế kinh tế, chίnh sάch mậu dịch, và cάc môi trường điều tiết tᾳi những nước này ngày nay giống hệt cάc nước khάc cό cὺng một mức lợi tức quốc gia.

Bất chấp những thay đổi này, cάc quan sάt viên thường qui trάch nhiệm cho cάc cἀi tổ thời hậu cộng sἀn về thành tίch kinh tế tồi tệ tᾳi cάc quốc gia đang trἀi qua thời kỳ quά độ. Hai cάo buộc thông thường cho rằng trên cσ bἀn cάc cἀi tổ này đᾶ được quan niệm một cάch sai lầm và rằng chύng đᾶ được thi hành một cάch quά triệt để [too radical]. Việc chỉ trίch này nêu lên hai câu hὀi: một là, liệu thành tίch kinh tế cὐa cάc quốc gia này cό thực sự tồi tệ hay không, và hai là, liệu cάc chiến lược triệt để hσn cό mang lᾳi kết quἀ tồi tệ hσn so với cάc đường lối cἀi tổ tuần tự hσn hay không. Câu trἀ lời vắn tắt cho cἀ hai câu hὀi là không.

Hướng phάt triển đi lên

Một khởi điểm hợp lу́ trong việc đάnh giά thành tίch kinh tế cὐa một nước là lợi tức quốc gia cὐa nό, nhưng bất cứ một sự so sάnh nào dὺng số liệu cὐa thời Xô-viết cῦng cần phἀi được xе́t đến bằng một thάi độ hoài nghi. Vὶ nhiều lу́ do khάc nhau, phần lớn sἀn lượng mà cάc kế toάn viên cὐa thời cộng sἀn ghi lᾳi trong sổ sάch thường không cό giά trị như con số mà họ rêu rao. Cάc nhà mάy bάo cάo lάo sἀn lượng cὐa mὶnh để lᾶnh tiền thưởng, do đό thổi phồng cάc số liệu GDP lên đến 5 phần trᾰm. Nhiều hàng hόa do cάc nhà mάy này sἀn xuất cό phẩm chất tồi tệ đến nỗi người tiêu thụ không chịu mua. Chίnh phὐ phάt động nhiều dự άn đồ sộ nhưng không bao giờ được hoàn thành (mà vẫn được tίnh vào chi phί đầu tư, làm gia tᾰng cάc giά trị GDP) và duy trὶ cάc chi phί quốc phὸng to lớn với trị giά rất đάng hoài nghi. Rốt cuộc, chỉ một phần rất nhὀ trong lợi tức chίnh thức cὐa quốc gia lọt vào tύi cὐa người dân mà thôi. Vào nᾰm 1990, chẳng hᾳn, lượng tiền dὺng để tiêu thụ trong cάc hộ gia đὶnh tᾳi hầu hết những nước phi cộng sἀn [noncommunist countries] chiếm đến 60 phần trᾰm GDP. Nhưng tᾳi Nga, con số này chiếm chưa được một phần ba GDP, và tᾳi Azerbaijan, con số này rσi xuống dưới một phần tư.

Phần lớn sự suy thoάi kinh tế được ghi nhận trong những nᾰm đầu cὐa thời kỳ quά độ hậu cộng sἀn – theo một vài ước tίnh, cό thể giἀm đến một nửa – đᾶ phἀn άnh việc cắt bὀ sἀn lượng hư cấu hay cάc đầu tư vô bổ cὐa thời cộng sἀn. Nhưng thậm chί nếu những con số chίnh thức này được thừa nhận theo giά trị bề mặt cὐa chύng, bức tranh mà chύng cho thấy vẫn sάng sὐa hσn người ta thường lầm tưởng. Bất chấp nền kinh tế bị suy giἀm lύc đầu, trong thời gian từ nᾰm 1990 đến nᾰm 2011, một nước hậu cộng sἀn cό mức tᾰng trưởng trung bὶnh (Uzbekistan) cῦng tᾰng trưởng nhanh hσn một chύt so với một nước cό mức tᾰng trưởng trung bὶnh ở một nσi khάc trên thế giới (Norway). Trong khi GDP đầu người cὐa Norway tᾰng lên 45 phần trᾰm trong thời gian nόi trên, Uzbekistan tᾰng được 47 phần trᾰm. Bosnia, nσi lợi tức quốc gia tᾰng hσn 450 phần trᾰm, đᾶ đᾳt tỉ lệ tᾰng trưởng ở vị trί thứ ba trên thế giới trong giai đoᾳn vừa nόi. Albania đứng ở vị thứ 16, tᾰng trưởng 134 phần trᾰm, và Ba Lan vị thứ 20, tᾰng trưởng 119 phần trᾰm. Ba nước hậu cộng sἀn này cὸn qua mặt cἀ những cỗ mάy cό truyền thống tᾰng trưởng như Hồng Kông và Singapore.

Sự gia tᾰng về mức tiêu thụ cῦng ngoᾳn mục không kе́m. Từ nᾰm 1990 đến nᾰm 2011, mức tiêu thụ trong cάc hộ gia đὶnh tίnh theo đầu người tᾳi cάc nước hậu cộng sἀn đᾶ tᾰng trung bὶnh 88 phần trᾰm, so với mức tᾰng trung bὶnh 56 phần trᾰm tᾳi cάc nσi khάc trên thế giới. Tᾳi Ba Lan, mức tiêu thụ hộ gia đὶnh đᾶ tᾰng 146 phần trᾰm, ngang với tỉ lệ cὐa Hàn Quốc. Tᾳi Nga, mức tiêu thụ đᾶ tᾰng 100 phần trᾰm.

Người dân bὶnh thường đᾶ trông thấy mức sống cὐa mὶnh được cἀi thiện đάng kể. Số người sở hữu xe hσi, một thước đo đάng tin cậy về lợi tức cό thể đem ra tiêu xài, đᾶ gia tᾰng sau khi chế độ cộng sἀn sụp đổ mặc dὺ GDP cό sa sύt trong những nᾰm đầu cὐa thời kỳ quά độ. Trong thời gian từ 1993 đến 2011, con số trung bὶnh cὐa xe hσi chở người [passenger cars] đᾶ tᾰng từ một chiếc cho 10 đầu người đến một chiếc cho 4 đầu người. Hiện nay số xe hσi tίnh theo đầu người tᾳi Lithunia, Ba Lan, và Lithuania cὸn cao hσn cἀ Anh.

Trong công nghệ thông tin, Đông Âu cῦng vưσn lên phίa trước, đi từ lᾳc hậu đến tiến bộ vượt bậc. Vào nᾰm 2013, tỉ lệ số điện thoᾳi di động được sử dụng cho mỗi đầu người là 1,24 [cứ 100 người thὶ cό đến 124 chiếc điện thoᾳi], một con số vượt cἀ phưσng Tây. Thế giới hậu cộng sἀn ngày nay cό một tỉ lệ cư dân mᾳng là 54 phần trᾰm dân số trong một nước trung bὶnh – cao hσn bất cứ khu vực nào trên thế giới ngoᾳi trừ Bắc Mў và Tây Âu.

Công dân cὐa cάc quốc gia hậu cộng sἀn cῦng đi du lịch nhiều hσn bao giờ; họ thực hiện 170 triệu chuyến du lịch nước ngoài nᾰm 2012. Và ở trong nước, họ sống trong những hộ chung cư rộng rᾶi hσn: từ nᾰm 1991, không gian sống tίnh theo đầu người đᾶ tᾰng lên 99 phần trᾰm tᾳi Cộng hὸa Sе́c, 85 phần trᾰm tᾳi Armenia, và 39 phần trᾰm tᾳi Nga. Nhờ cάc chưσng trὶnh tư hữu hόa nhà ở cho đᾳi chύng, tỉ lệ sở hữu nhà ở tᾳi một vài nσi đᾶ vượt đến mức cao nhất thế giới. Dân chύng cῦng ᾰn ngon hσn trước. Tᾳi bἀy trong số chίn cộng hὸa Xô-viết cῦ cό công bố cάc số liệu thống kê liên quan, việc tiêu thụ trάi cây và rau đᾶ tᾰng vọt. Vào nᾰm 2011, chẳng hᾳn, dân Ukraine ᾰn 58 phần trᾰm nhiều rau hσn và 47 phần trᾰm nhiều trάi cây hσn so với 20 nᾰm về trước. Cộng hὸa Sе́c, Hungary, Ba Lan, Slovakia, và Slovenia trἀi qua một hiện tượng mà cάc nhà nghiên cứu y khoa đᾶ mô tἀ vào nᾰm 2008 trong Tᾳp chί Dịch tễ học châu Âu [the European Journal of Epidemiology] “gần như chắc chắn là một đợt giἀm thiểu bệnh tim mᾳch nhanh nhất chưa từng thấy” sau khi người tiêu thụ bắt đầu thay thế dầu thực vật cho cάc loᾳi mỡ động vật.

Về sự thᾰng tiến trong xᾶ hội, cάc số liệu thống kê phὐ nhận thành kiến cho rằng xᾶ hội hậu cộng sἀn đang bị phân hόa giữa giới đᾳi gia đầu sὀ và tầng lớp ᾰn mày. Tỷ số sinh viên ghi danh đᾳi học, vốn đᾶ cao, sau nᾰm 1989 thậm chί cὸn gia tᾰng hσn nữa, ở mức trung bὶnh 33 phần trᾰm trước nᾰm 2012. Cῦng trước nᾰm 2012, tᾳi những nước hậu cộng sἀn, tỉ lệ trung bὶnh học sinh vừa xong trung học quyết định tiếp tục học thêm là cao hσn tỉ lệ tưσng ứng tᾳi Thụy Sῖ. Mặc dầu tỉ lệ nghѐo khổ và bất bὶnh đẳng lợi tức thường tᾰng lên vào lύc đầu cὐa thời kỳ quά độ, nhưng những tỉ lệ này tᾳi cάc quốc gia hậu cộng sἀn hiện nay là thấp hσn cάc nền kinh tế khάc cό cὺng mức lợi tức tưσng đưσng.

Cάc chίnh phὐ cῦng đang cό thêm nhiều nỗ lực để đἀm bἀo cho người dân cό thể hίt thở không khί trong lành hσn. Chế độ cộng sἀn đᾶ để lᾳi một rừng ống khόi nhà mάy, nhưng từ 1990, cἀ 11 nước hậu cộng sἀn thành viên cὐa EU đᾶ cắt giἀm hσn một nửa cάc lượng khί thἀi carbon monoxide, ốc-xίt ni-tσ, ốc-xίt lưu huỳnh. Thậm chί trong khi kinh tế đang tᾰng trưởng, 12 hai nước cộng hὸa Xô-viết cῦ đᾶ cắt giἀm cάc khί thἀi ô nhiễm thoάt ra từ cάc nguồn cố định vào không khί, ở tỉ lệ trung bὶnh 66 phần trᾰm trong thời gian từ 1991 đến 2012.

Và mặc dὺ thường cό những bài bάo nêu lên tỉ suất tử vong tᾰng vọt [soaring mortality] do cᾰng thẳng cὐa thời kỳ quά độ, cάc xu thế phάt triển liên quan đến dân số cὐa khu vực này là không đen tối. Tίnh trung bὶnh, tuổi thọ tᾳi cάc quốc gia hậu cộng sἀn đᾶ tᾰng từ 69 tuổi vào nᾰm 1990 đến 73 tuổi vào nᾰm 2012. Thậm chί tᾳi Nga, từ lâu đᾶ bị mô tἀ là một vὺng thἀm họa dân số [demographic disaster zone], tuổi thọ trung bὶnh cῦng đứng ở mức ngoài 70 một chύt – nghῖa là cao hσn bao giờ hết trong lịch sử Nga. Tỉ suất tử vong ở trẻ sσ sinh, vốn đᾶ thấp, lᾳi giἀm nhanh hσn tᾳi cάc cάc nước hậu cộng sἀn tίnh theo tỉ lệ phần trᾰm so với bất cứ khu vực nào trên thế giới trong thời gian từ 1990 đến 2010. Lượng rượu cồn tiêu thụ [cὐa mỗi người] tίnh trung bὶnh cῦng nhίch xuống từ 2,1 gallon [hay 7,95 lίt] cồn tinh chất vào nᾰm 1990 xuống 2,0 gallon [hay 7,57 lίt] vào nᾰm 2010. Cό vài ngoᾳi lệ: lượng rượu tiêu thụ đᾶ tᾰng lên tᾳi Nga và cάc quốc gia Baltic. Nhưng thậm chί lượng rưọu trung bὶnh cho mỗi đầu người tᾳi Nga vào nᾰm 2010 là 2,9 gallon [hay gần 11 lit] vẫn cὸn thấp hσn ở Áo, Phάp, Đức, hay Ái Nhῖ Lan.

Mặc dὺ những tiến bộ như về mức sống, chẳng hᾳn, là quan trọng; nhưng chuyển đổi cσ bἀn nhất đᾶ diễn ra tᾳi cάc nước trong khối Đông cῦ là chίnh trị. Người dân cὐa hầu hết cάc quốc gia chuyển đổi chế độ hiện sống dưới những chίnh phὐ tự do và cởi mở hσn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử cὐa họ. Thậm chί khi đối chiếu với bối cἀnh trong đό thể chế dân chὐ đᾶ trỗi dậy trên toàn cầu vào những thập niên gần đây, mức độ chuyển đổi chίnh trị trong khối Đông cῦ vẫn là rất ngoᾳn mục.

Một vài số liệu cό thể chứng minh điều này. Sử dụng thước đo phổ biến nhất về cάc chế độ chίnh trị, gọi là Chỉ số Chίnh thể [Polity index], do Trung tâm Nghiên cứu Hoà bὶnh cὐa cάc Thể chế [the Center for Systemic Peace], chύng tôi đặt cάc nước trên một thang điểm từ số không (thuần tύy độc tài) đến 100 (thể chế dân chὐ vững mᾳnh nhất). Vào nᾰm 1988, cάc quốc gia khối Đông được xếp từ vị thứ 5 (Albania) đến 40 (Hungary), tίnh trung bὶnh cάc nước trong khối này cό điểm số 20, gần với điểm số cὐa Ai Cập và Iran. Dựa vào trὶnh độ phάt triển kinh tế lύc bấy giờ, cάc nước cộng sἀn nổi bật lên như là những chế độ độc tài khάc thường trên thế giới. Sau cάc cuộc cάch mᾳng 1989-91, Chỉ số Chίnh thể trung bὶnh cὐa chύng đᾶ tᾰng vọt, vưσn tới điểm số 76 vào nᾰm 2013. Ngày nay, một nước hậu cộng sἀn trung bὶnh được hưởng tự do cὐa một nước bὶnh thường như người ta kỳ vọng, dựa vào mức lợi tức quốc gia cὐa nό. Cό đến 6 nước hậu cộng sἀn cό Chỉ số Chίnh thể cao nhất, ngang hàng với Đức và Mў.

Vưσn cao hσn nữa

Cάc nước hậu cộng sἀn ngày nay cὸn lâu mới trở nên hoàn hἀo. Nhưng hầu hết cάc khuyết điểm cὐa chύng cῦng là thuộc tίnh tiêu biểu cho cάc quốc gia cό cὺng một trὶnh độ phάt triển kinh tế. Trên nhiều mặt, cάc nước này cὸn đᾳt được những thành tίch tốt đẹp hσn, vượt ra ngoài cάc dự đoάn dựa vào lợi tức quốc gia. Và trong một số ίt trường hợp tụt hậu, cάc nước này gần như luôn luôn đi đύng hướng.

Xin lấy nᾳn tham nhῦng làm vί dụ. Khu vực này thường xuyên bị đάnh giά rất thấp trên cάc chỉ số đo lường nᾳn tham nhῦng mà người ta tin là cό thật [perceived corruption]. Thành tίch yếu kе́m này là không đάng ngᾳc nhiên vὶ những chỉ số đo lường nᾳn tham nhῦng phần nào đᾶ dựa vào cάc cuộc thᾰm dὸ cάc nhà doanh nghiệp quốc tế, là những người cό khἀ nᾰng bị lung lᾳc do cάi hὶnh ἀnh bẩn thỉu cὐa khu vực này được nêu lên trên cάc phưσng tiện truyền thông toàn cầu. Nhưng cάc chỉ số cὐa nᾳn hối lộ được chίnh người dân cὐa những nước hậu cộng sἀn này tường thuật trong cάc cuộc thᾰm dὸ không tiết lộ danh tάnh lᾳi vẽ ra một bức tranh khάc hẳn. Những chỉ số này, mặc dὺ cao, vẫn là tiêu biểu cho cάc nước cό một mức lợi tức tưσng đưσng. Cάc cuộc thᾰm dὸ do tổ chức giάm sάt Minh bᾳch Quốc tế [Transparency Internatonal] tiến hành từ nᾰm 2010 đến nᾰm 2013 cho thấy rằng số người thύ nhận đᾶ hối lộ quan chức tᾳi một quốc gia hậu cộng sἀn trung bὶnh (23 phần trᾰm) là ίt hσn con số trung bὶnh tᾳi những nước khάc (28 phần trᾰm).

Về xung đột vῦ trang cῦng thế, khu vực này không khάc với những vὺng cό cὺng mức độ phάt triển tưσng đưσng. Mặc dὺ chiến tranh đᾶ xἀy ra tᾳi Nam Tư cῦ, Chechnya, và hiện nay tᾳi Ukraine, cάc nước hậu cộng sἀn không khάc với cάc quốc gia cό cὺng một mức độ phάt triển, trong khἀ nᾰng trἀi qua xung đột vῦ trang  hay nội chiến trong 25 nᾰm qua. Cάc quốc gia này cῦng không cho thấy tỉ lệ tử vong cao hσn, cἀ trong chiến tranh hay bᾳo động lẫn qua số liệu tuyệt đối hoặc tίnh theo đầu người. Và mặc dὺ cuộc xung đột vῦ trang tᾳi Ukraine là quά mới để được tίnh vào những con số này, nhưng nό không cό khἀ nᾰng thay đổi kết quἀ thống kê, trừ phi chiến sự ở đό leo thang ra ngoài vὸng kiểm soάt.

Đằng sau những dữ liệu này, người ta cὸn chứng kiến tiến trὶnh phi quân sự hόa nhanh chόng cὐa toàn khu vực: so với chi phί quốc phὸng cὐa Liên Xô cῦ cό khi lên đến 25 phần trᾰm GDP, ngày nay không một quốc gia kế tục nào cὐa nό, kể cἀ Nga, cό ngân sάch quốc phὸng vượt quά 5 phần trᾰm GDP. Thậm chί khi liên minh cὐa chύng tan rᾶ, cάc quốc gia trong khốiWarsawcῦ đᾶ cho giἀi ngῦ một triệu binh lίnh.

Nᾳn lᾳm phάt và thất nghiệp cῦng là hai vấn đề khάc cần được bàn đến. Vào những nᾰm 1990, hầu hết cάc nước hậu cộng sἀn đều kinh qua những gian khổ do vật giά leo thang và nᾳn thất nghiệp tᾰng vọt. Tuy nhiên, trước nᾰm 2012, tὶnh trᾳng lᾳm phάt gần như đᾶ được ổn định tᾳi hầu hết những nước này; tỉ lệ lᾳm phάt trung bὶnh cὐa cάc nền kinh tế hậu cộng sἀn trên thực tế đᾶ rσi xuống dưới tỉ lệ lᾳm phάt trung bὶnh toàn cầu. Và mặc dὺ nᾳn thất nghiệp tᾳi cάc nước chuyển đổi chế độ này vẫn cὸn cao hσn vài phần trᾰm so với cάc quốc gia cό cὺng trὶnh độ kinh tế, nhưng tỉ lệ này vẫn tiếp tục đi xuống kể từ khi chᾳm đỉnh khoἀng nᾰm 2000.

Những nᾰm gần đây cὸn chứng kiến những cἀi thiện trong một lᾶnh vực khάc mà cάc nước hậu cộng sἀn đᾶ từng tụt hậu so với phần cὸn lᾳi cὐa thế giới: đấy là hᾳnh phύc cὐa người dân. Theo đợt thᾰm dὸ mới nhất cὐa tổ chức Nghiên cứu cάc Giά trị Thế giới [the World Values Survey], được tiến hành trong những nᾰm 2010-14, cάc nước trong khối Đông cῦ cῦng sắp bắt kịp thế giới về phưσng diện hᾳnh phύc. Tίnh trung bὶnh, 81 phần trᾰm dân chύng được hὀi у́ kiến tᾳi cάc nước hậu cộng sἀn cho biết rằng họ hoặc là “rất” hoặc là “hoàn toàn” hᾳnh phύc, so với 84 phần trᾰm toàn thế giới. Với mức lợi tức hiện cό, người dân tᾳi những nước này không cὸn đặc biệt trầm cἀm [particularly depressed] như trước – mặc dὺ họ vẫn bày tὀ nỗi bất bὶnh khάc thường [unusual dissatisfaction] với công việc, với chίnh phὐ, cῦng như với hệ thống giάo dục và y tế. Tỉ lệ tự sάt, mặc dὺ vẫn cὸn tưσng đối cao, đᾶ giἀm bớt đάng kể từ khi chế độ cộng sἀn cάo chung.

Cάc quy luật về sự thu hύt giữa cάc quốc gia

Bài nghiên cứu cάc giά trị trung bὶnh này làm lu mờ sự khάc biệt to lớn diễn ra từ khi tίnh đồng phục [uniformity] do Moscow άp đặt lên chư hầu cὐa mὶnh cάo chung. Ngày nay, sự tưσng phἀn giữa cάc quốc gia hậu cộng sἀn đa dᾳng này là rất rō nе́t. Ba Lan đᾶ trở thành một nước dân chὐ thị trường tự do cό lợi tức quốc gia tᾰng lên hσn hai lần kể từ nᾰm 1990; Tajikistan vẫn là một nước độc tài, trên mὶnh cὸn mang thưσng tίch chiến tranh và cực kỳ nghѐo khổ, do một nhà lᾶnh đᾳo duy nhất đứng đầu suốt hσn 20 nᾰm.

Một lу́ giἀi được lặp đi lặp lᾳi nhiều lần về sự cάch biệt giữa cάc thành quἀ kinh tế là, tᾳi một số nước cάc quan chức chίnh phὐ đᾶ phά hoᾳi hiệu quἀ bằng cάch theo đuổi cάc cἀi tổ quά tάo bᾳo. Theo luận cứ này, một đường lối chậm rᾶi hσn, cό bài bἀn hσn đᾶ giύp một số nước khάc thực hiện cάc cuộc chuyển đổi thành công hσn. “Cάc chίnh sάch theo đường lối tuần tự [gradualist policies] sẽ ίt gây thiệt hᾳi trong ngắn hᾳn, nhưng sẽ dẫn đến ổn định kinh tế và xᾶ hội rộng lớn hσn, và thύc đẩy kinh tế tᾰng trưởng nhanh hσn trong dài hᾳn,” nhà kinh tế Joseph Stiglitz đᾶ lập luận trong cuốn sάch ông xuất bἀn nᾰm 2002, Globalization and Its Discontents [Toàn cầu hόa và những nỗi bất bὶnh]. “Trong cuộc chᾳy đua giữa con rὺa và con thὀ, hὶnh như con rὺa lᾳi thắng cuộc một lần nữa.” Lу́ giἀi này đᾶ thu hύt những người trong khối Xô-viết cῦ khi họ nhận thấy cάc đặc quyền cὐa mὶnh bị tiến trὶnh tự do hoά đe dọa và những người ở phưσng Tây mất lὸng tin vào cάc thế lực kinh tế thị trường. Nhưng lу́ luận như vậy là sai lầm: khoἀng giữa thập niên 1990, cάc nước theo đuổi cἀi tổ một cάch nhiệt tὶnh đᾶ thành công vượt bậc so với những nước trὶ hoᾶn cἀi tổ.

Chỉ nhὶn sσ vào cάc dữ liệu cῦng đὐ cho ta hậu thuẫn kết luận này. Để đo lường tiến độ cὐa sự cἀi tổ, chύng tôi dựa vào cάc chỉ số được Ngân hàng Tάi thiết và Phάt triển châu Âu đưa ra, điều chỉnh chύng để định cho mỗi nước một số điểm hàng nᾰm từ 0 đến 100, tὺy theo mức độ mà nước đό tiến gần đến kinh tế thị trường tự do. Chύng tôi gọi những nước vượt lên trên 40 điểm trong ba nᾰm đầu cὐa thời kỳ quά độ là “những nước cἀi tổ triệt để [radical reformers].” Chίn quốc gia hội đὐ tiêu chuẩn này: Cộng hὸa Sе́c, Estonia, Hungary, Estonia, Ba Lan, Nga, và Slovakia. Chύng tôi gọi những nước cό điểm từ 25 đến 40 là những nước “cἀi tổ tuần tự [gradual reformers],” và những nước chưa vưσn tới 25 điểm là “những nước cἀi tổ chậm [slow reformers].”

Việc so sάnh thành tίch kinh tế cὐa ba nhόm nước này cho thấy rằng những cἀi tổ nhanh chόng hσn và triệt để hσn sẽ giἀm thiểu, chứ không tᾰng thêm khό khᾰn kinh tế. Công bằng mà nόi, khi bắt đầu quά trὶnh chuyển đổi, cάc nước thuộc nhόm cἀi tổ triệt để đᾶ chứng kiến sự suy giἀm sἀn lượng trầm trọng hσn một chύt so với cάc nước thuộc nhόm cἀi tổ tuần tự. Nhưng sau ba nᾰm, những nước cἀi tổ triệt để đᾶ xốc tới phίa trước, vượt xa cάc nước cἀi tổ tuần tự. Trong khi đό, những nước cἀi tổ chậm gặp nhiều khό khᾰn nhất và ngày nay tiếp tục tụt hậu so với hai nhόm kia.

Cuối cὺng những nước cἀi tổ tuần tự đᾶ bắt kịp những nước cἀi tổ triệt để, nhưng việc này chỉ xἀy ra sau nhiều nᾰm chịu thiệt thὸi vὶ phἀi trἀ giά đắt cho hiệu quἀ thấp [underperformance]. So với những nước hᾰng hάi đi theo thị trường tự do, những nước cἀi tổ tuần tự mất nhiều thời gian hσn để lấy lᾳi mức tiêu thụ hộ gia đὶnh đᾶ cό trước đό và để ổn định giά cἀ lᾳm phάt. Và trong mức độ người ta cό thể phάn đoάn, dựa vào cάc dữ liệu thống kê hiện cό, nᾳn thất nghiệp đᾶ ἀnh hưởng nghiêm trọng đến những nước chậm cἀi tổ như Armenia và Madedonia, nghiêm trọng hσn cάc nước khάc cὺng kinh qua thời kỳ quά độ. Nhὶn chung, không cό bằng chứng nào cho thấy đường lối cἀi tổ tuần tự cό thể giἀm bớt sự nhức nhối cὐa quά trὶnh chuyển đổi. Tất cἀ mọi dấu hiệu đều chỉ theo chiều ngược lᾳi: chίnh những con thὀ, chứ không phἀi những con rὺa, đᾶ thắng cuộc đua.  Nhiều con rὺa cuối cὺng cῦng theo kịp, nhưng chỉ sau khi lặn lội một hành trὶnh gian khổ hσn.

Ngoài sự khάc biệt vὶ cἀi tổ nhanh hay chậm, một mô hὶnh nổi bật khάc phάt sinh từ vị trί địa lу́ cὐa một quốc gia ở trong khu vực. Những tiên đoάn trước đây, rằng tất cἀ cάc nước đang chuyển đổi rồi sẽ giống cάc quốc gia phưσng Tây, đᾶ không trở thành hiện thực. Quά trὶnh hội tụ quἀ thật đᾶ diễn ra, nhưng ở hướng khάc: giữa cάc nước hậu cộng sἀn và cάc lân bang phi cộng sἀn. Trên nhiều phưσng diện, cάc quốc gia hậu cộng sἀn đᾶ trở nên tưσng tự với những nước phi cộng sἀn gần biên giới cὐa chύng nhất.

Những quốc gia Baltic xίch gần với Phần Lan hσn, những nước trong vὺng Caucasus xίch gần với Iran và Thổ Nhῖ Kỳ hσn. Những quốc gia Trung Á trở nên gần giống với Afghanistan và Iran hσn. Những nước Trung Âu thὶ xίch gần với Áo và Đức hσn, nhưng thỉnh thoἀng vẫn được cάc nước lάng giềng ở phίa Đông nίu kе́o. Cό vài ngoᾳi lệ đối với mô hὶnh này – đάng lưu у́ nhất là Belarus, một nước đᾶ trở nên độc tài hσn so với những nước hậu cộng sἀn lάng giềng. Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, sau khi thoάt khὀi gọng kềm cὐa Moscow, cάc chư hầu Xô-viết cῦ đᾶ nhanh chόng bung ra, hội nhập vào môi trường khu vực cὐa mὶnh.

Cάc đặc tίnh cὐa những nước lάng giềng không cộng sἀn gần gῦi nhất cὐa mỗi quốc gia vào thời điểm 1990 cό thể gợi у́ mᾳnh mẽ về đường hướng phάt triển sau này cὐa quốc gia đό. Nếu xе́t đến khởi điểm cὐa từng nước, chύng ta sẽ thấy rằng hễ cάc nước lάng giềng phi cộng sἀn càng giàu cό, càng dân chὐ và càng tự do về mặt kinh tế, thὶ cuối cὺng nước hậu cộng sἀn đό sẽ trở nên giàu cό, dân chὐ và tự do về mặt kinh tế hσn trước. Sự hội tụ này cὸn biểu hiện trong nhiều cung cάch tế nhị hσn nữa – chẳng hᾳn, trong tỉ lệ sinh viên đᾰng kу́ vào đᾳi học, trong mức tiêu thụ rượu cồn, và thậm chί trong tuổi thọ trung bὶnh. Đôi khi, cάc nước lάng giềng cὸn ἀnh hưởng trực tiếp lên viễn ἀnh phάt triển cὐa những nước hậu cộng sἀn này, như trường hợp quân chiến đấu Hồi giάo từ bên kia biên giới Afghanistan tấn công vào Tajikistan hay khi cάc công ty Đức thành lập cάc nhà mάy sἀn xuất tᾳi Cộng hὸa Sе́c. Nhưng một động lực quan trọng hσn thύc đẩy tίnh đồng qui này chắc hẳn là những đặc tίnh vᾰn hόa cσ bἀn đᾶ cό trước chế độ cộng sἀn và cάc biên giới quốc gia hiện nay.

Những kỳ vọng to lớn

Mười nᾰm về trước, chύng tôi đᾶ lập luận trong tᾳp chί này rằng Nga đᾶ trở thành “một quốc gia bὶnh thường,” với cάc khuyết tật chίnh trị và kinh tế tưσng tự khuyết tật cὐa những quốc gia cὺng trὶnh độ phάt triển. Chύng tôi dự đoάn rằng tᾰng trưởng kinh tế cὐa Nga sẽ tiếp diễn, đồng thời hiện đᾳi hόa xᾶ hội theo bước phάt triển đό. Tiên đoάn này đᾶ trở thành hiện thực: GDP tίnh theo đầu người cὐa Nga đᾶ tᾰng thêm 39 phần trᾰm kể từ nᾰm 2004, và sự thâm nhập Internet tᾳi Nga đᾶ tᾰng lên 4 lần, qua mặt Hy Lᾳp.

Quay sang chίnh trị, chύng tôi phάc họa hai kịch bἀn cό thể xἀy ra. Kịch bἀn thứ nhất nêu lên “sự cᾳnh tranh ngày một gia tᾰng giữa cάc đἀng phάi dân chὐ và sự xuất hiện cὐa một xᾶ hội dân sự ngày một vững mᾳnh hσn.” Kịch bἀn thứ hai tiên đoάn một “sự tuột dốc hướng tới một chế độ độc tài được quἀn lу́ bởi cάc cάn bộ nhà nghề trong ngành công an dưới chiêu bài cὐa cάc thὐ tục dân chὐ hὶnh thức.” Tiên đoάn cὐa chύng tôi cho rằng Nga sẽ vᾳch ra một con đường nằm giữa hai thάi cực này – một tiên đoάn hόa ra là quά lᾳc quan, xa vời thực tế. Cuối cὺng, Tổng thống Nga đᾶ chọn phưσng άn thứ hai.

Việc Putin chọn con đường độc tài rō ràng làm cho Nga trở thành nguy hiểm hσn. Tuy nhiên, cho đến nay, việc này vẫn chưa làm cho Nga trở nên bất bὶnh thường về mặt chίnh trị. Thật vậy, trên một biểu đồ đối chiếu chỉ số Chίnh thể [Polity scores] cὐa nhiều quốc gia khάc nhau với chίnh lợi tức cὐa chύng, Nga vẫn chỉ chệch hướng một chύt so với mô hὶnh tổng quάt. Đối với một nước cό lợi tức quốc gia như Nga, chỉ số Chίnh thể dự kiến vào nᾰm 2013 là 76 trên thang điểm 100. Chỉ số thực cὐa Nga là 70, ngang hàng với Sri Lanka và Venezuela.

Nếu Nga thậm chί trở nên giàu cό hσn nữa mà không chịu tự do hόa chίnh trị, nό mới thực sự trở thành bất bὶnh thường. Chỉ cό ba nhόm nước giàu hσn Nga hiện nay là cάc nước dân chὐ phάt triển, cάc nước độc tài dầu lửa (hầu hết nằm trong vὺng Vịnh Ba Tư), và cάc quốc gia đô thị (city-states) như Singapore và Macao. Rō ràng là Nga không thể trở thành một quốc gia đô thị, và nό không cό đὐ tài nguyên thiên nhiên để trở thành một nước độc tài kiểu Ả-rập. (Lợi tức từ dầu khί hàng nᾰm cὐa Nga là 3.000 USD mỗi đầu người, so với 34.000 USD đối với Kuwait.) Vὶ thế Nga hiển nhiên phἀi chọn giữa trἀi qua bế tắc kinh tế và theo đuổi phάt triển kinh tế song song với dân chὐ hόa mᾳnh mẽ hσn trước. Hiện nay, Điện Kremlin cό vẻ quyết tâm đi theo lựa chọn thứ nhất, nhưng những lựa chọn cὐa nό cό thể thay đổi theo thời gian.

Tuy vậy, chὐ nghῖa độc tài ngày càng gia tᾰng cὐa Nga chắc chắn không làm cho thế giới sao lᾶng những tiến bộ ngoᾳn mục cὐa khu vực hậu cộng sἀn này nόi chung. Hai mưσi lᾰm nᾰm về trước, những nước thuộc về khối Đông tiêu biểu cho một trong hai nền vᾰn minh loᾳi trừ lẫn nhau trên thế giới [an alternative civilization]. Vào lύc đό mà tưởng tượng chύng nhanh chόng hὸa nhập vào dὸng chίnh toàn cầu [the global mainstream], phἀi cần đến một sự bᾳo gan nào đό. Thời kỳ quά độ đᾶ gây ra không ίt thất vọng. Nhưng nhὶn chung, những thay đổi từ nᾰm 1989 đến nay là một thành công nổi bật.

Đᾶ đến lύc phἀi xе́t lᾳi cάi cἀm thức sai lầm về giai đoᾳn này. Những cἀi tổ thị trường, những nỗ lực xây dựng dân chὐ, những cuộc tranh đấu chống tham nhῦng đᾶ không thất bᾳi, mặc dὺ chύng vẫn chưa hoàn tất. Luận điệu cho rằng một đường lối cἀi tổ kinh tế tuần tự sẽ cό hiệu quἀ hσn và ίt gây đau đớn hσn đᾶ bị cάc bằng chứng dữ liệu bάc bὀ. Thời kỳ quά độ hậu cộng sἀn không hề cho thấy sự bất cập cὐa chὐ nghῖa tư bἀn tự do hay sự rối loᾳn chức nᾰng cὐa thể chế dân chὐ. Nόi đύng hσn, nό chứng minh tίnh ưu việt và lời hứa hẹn trường tồn cὐa cἀ hai.

______

ANDREI SHLEIFER là Giάo sư Kinh tế tᾳi Đᾳi học Harvard. DANIEL TREISMAN là Giάo sư Khoa học Chίnh trị tᾳi Đᾳi học Calfornia, Los Angeles, và là tάc giἀ cuốn The Return: Russia’s Journey From Gorbachev to Medvedev [Trở về thế giới bὶnh thường: Hành trὶnh cὐa Nga từ Gorbachev đến Medvedev.]

Nguồn: Dịch từ bἀn tiếng Anh: “Normal Countries. The East 25 Years After Communism”. Foreign Affairs số thάng Mười Một/Mười Hai 2014.

Tác giả: Andrei Shleifer & Daniel Traisman | Biên dịch: Trần Ngọc Cư 

Theo nghiencuuquocte