Đọc khoἀng: 52 phύt

Chύng tôi xin giới thiệu với độc giἀ Việt-Nam bài diễn vᾰn cὐa Giάo-sư Trần Đᾳi-Sў đọc trong dịp khai giἀng niên khόa 1991-1992 tᾳi Viện Phάp-Á (Institut Franco-Asiatique viết tắt là IFA). Nguyên vᾰn bằng tiếng Phάp, đây là bἀn dịch tiếng Việt cὐa Tᾰng Hồng Minh. Trong dịp khai giἀng niên học này, IFA đᾶ mời một số đông cάc học giἀ, trί thức và kу́ giἀ tham dự. Sau bài diễn vᾰn, cό cuộc trao đổi rất thύ vị.

Xin nhắc lᾳi, trong khoἀng thời gian 1977-1992, tάc giἀ làm việc cho Liên-hiệp cάc viện bào chế châu Âu (Coopе́rative Europе́enne Pharmaçeutique, viết tắt là CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Phάp-Hoa (Commitе́ Mе́dical Franco-Chinois viết tắt là CMFC), nên đᾶ được cάc đồng nghiệp giύp đỡ, dὺng hệ thống ADN để tὶm lᾳi nguồn gốc dân tộc Việt-Nam.

Chίnh với công trὶnh nghiên cứu cὐa tάc giἀ trong thời gian 1977-1991, dὺng hệ thống ADN phân biệt dân-tộc Trung-hoa, dân tộc Việt-Nam…đᾶ kết thύc cuộc tranh cᾶi 90 nᾰm qua biên giới cổ cὐa Việt–Nam. Kết luận về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam bằng khoa ADN đi ngược lᾳi với tất cἀ cάc thuyết từ trước đến giờ. Cάc thuyết này khẳng định người Việt do người Hoa di cư xuống để trốn lᾳnh, để tỵ nᾳn v.v. Nhưng ADN cho biết chίnh người ở vὺng Đông Nam Á đᾶ đi lên phưσng Bắc thành người Hoa.

Sau khi bài diễn vᾰn này phổ biến (1991), cό một số “học giἀ” vὶ không theo kịp đà tiến hόa cὐa khoa học, đᾶ lên tiếng chỉ trίch chύng tôi. Biết rằng họ dốt nάt quά, muốn giἀi thίch cho họ, họ phἀi cό một trὶnh độ nào đό… vὶ vậy chύng tôi không trἀ lời. Phần nghiên cứu cὐa chύng tôi quά dài, quά chuyên môn. Độc giἀ muốn tὶm hiểu thêm cό thể đọc công trὶnh nghiên cứu  dưới đây:

J.Y.CHU, cὺng 13 nhà bάc học Trung-quốc cῦng nghiên cứu Di-truyền học ADN (DNA), công bố nᾰm 1998: The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 thάng 7 nᾰm 1998. Tài liệu khẳng định rằng nguồn gốc người Trung-hoa, Đông Á, do người Đông-Nam-ά đi lên, chứ không phἀi do người Trung-hoa di cư xuống.

ALBERTO-PIAZZA (đᾳi học Torino, Ý):  Human Evolution: Towards a genetic history of China, Proc.of Natl. Acad. Sci, USA, Vol 395, No 6707-1998.

LI YIN, Distribution of halotypes from a chrosmosomes  21 Region – distinguishes multiple prehistotic human migrations – Proc.of Natl. Acad. Sci – USA, Vol.96 , 1999.

Về bài diễn vᾰn này, từ nᾰm 1991, cό rất nhiều bἀn dịch sang nhiều thứ tiếng, đᾰng trên nhiều bάo khάc nhau. Mỗi dịch giἀ lᾳi tự у́ lược đi, đôi khi cắt mất nhiều đoᾳn. Nay chύng tôi xin dịch nguyên bἀn, đầy đὐ. Vὶ vậy độc giἀ thấy cό nhiều đoᾳn quά chuyên môn, xin lướt qua.

Trong khi diễn giἀ trὶnh bầy, ông cό ngắt ra nhiều đoᾳn, để thίnh giἀ thἀo luận. Cάc bài trίch đᾰng trước không ghi phần này. Để độc giἀ dễ theo dōi, cô Tᾰng Hồng Minh (THM) ghi chе́p, chύ giἀi đặt ngay dưới đoᾳn liên hệ, thay vὶ ghi ở cuối bài.

Khi xuất bἀn lần thứ nhất², bộ Anh-hὺng Bắc-cưσng cὐa giάo-sư Trần, chύng tôi cό cho trίch một phần bài này in vào cuối quyển 4. Nay chύng tôi công bố toàn bộ tài liệu, lấy làm tài liệu chίnh thức và phὐ nhận tất cἀ những bἀn do nhiều nσi phổ biến trước đây.

Paris ngày 10-10-2001

Sở tu thư, viện Phάp-Á

Kίnh thưa ông Viện-trưởng,
Kίnh thưa quу́ đồng nghiệp,
Kίnh thưa quу́ vị quan khάch.
Cάc bᾳn sinh viên rất thân mến,

Tôi không phἀi là nhà sử học, cῦng không phἀi là nhà khἀo cổ, hay nhà chὐng tộc học. Tôi chỉ là một thầy thuốc. Nhưng những may mắn đến tiếp diễn trong suốt cuộc đời, vô tὶnh đᾶ đưa tôi đến đây trὶnh bày cὺng quу́ vị về nguồn gốc, biên giới cổ cὐa tộc Việt.

Ở cuối giἀng đường này tôi thấy cό nhiều bᾳn trẻ bật cười. Tôi biết bᾳn bật cười vὶ đa số người ta đều than đời bất hᾳnh, toàn rὐi ro. Cὸn tôi, tôi lᾳi nόi rằng suốt cuộc đời toàn may mắn. Tôi cό thể nόi thực với Quу́-vị rằng, về phưσng diện nghiên cứu học hành, suốt đời tôi, tôi cό cἀm tưởng tổ tiên đᾶ trἀi thἀm cho tôi đi trên con đường vô tận đầy hoa. Nếu bᾳn chịu khό đọc bộ Sexologie mе́dicale chinoise cὐa tôi, phần bài tựa tôi cό viết:

“Trong lịch sử cổ kim nhân loᾳi, nếu cό người may mắn về phưσng diện nghiên cứu học hành, tôi đứng đầu. Nhưng nếu cό người bất hᾳnh nhất trong tὶnh trường tôi cῦng đứng đầu”.

Hôm nay tôi trὶnh bày với Quу́-vị về công cuộc đi tὶm biên giới cổ cὐa nước Việt-Nam và nguồn gốc tộc Việt, Quу́-vị sẽ thấy tôi may mắn biết chừng nào, và Quу́-vị sẽ thấy tộc Việt chύng tôi anh hὺng biết bao. Nhưng gần đây, vὶ chiến tranh tiếp diễn trong hσn 30 nᾰm, khiến cho đất nước chύng tôi điêu-tàn, và… hiện nước tôi là một trong bốn nước nghѐo nhất trên thế giới.

I. SƠ TẦM VỀ TỘC VIỆT

Nᾰm lên nᾰm, tôi học chữ Nho, một loᾳi chữ cὐa Trung-quốc, nhưng dὺng chung cho hầu hết cάc nước vὺng Á-châu Thάi-bὶnh dưσng (ACTBD). Thầy khai tâm cὐa tôi là ông ngoᾳi tôi. Ông tôi là một đᾳi thần cὐa triều đὶnh Ðᾳi-Nam (tức Việt-Nam).

Chế độ phong kiến cὐa nước tôi đᾶ chấm dứt từ nᾰm 1945, hiện (1991) vị Hoàng-đế cuối cὺng cὐa Ðᾳi-Nam là Bἀo Ðᾳi. Ngài vẫn cὸn sống ở quận 16 Paris.

Nᾰm lên sάu tuổi, tôi được học tᾳi trường tiểu học do chίnh phὐ Phάp mở tᾳi Việt-Nam. Thời gian 1943-1944 rất ίt gia đὶnh Việt-Nam cὸn cho con học chữ Nho. Bởi đᾳo Nho cῦng như nền cổ học không cὸn chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chίnh trị nữa. Thύ thực tôi cῦng không thίch học chữ Nho bằng chσi bi, đάnh đάo. Nhưng vὶ muốn làm vui lὸng ông tôi mà tôi học. Hσn nữa học chữ Nho, tôi cό một kho tàng vᾰn hόa vῖ đᾳi để đọc, để thὀa mᾶn trί thức cὐa tuổi thσ. Thành ra tôi học rất chuyên cần. Cάc bᾳn hiện diện nσi đây không ίt thὶ nhiều cῦng đᾶ học chữ Nho đều biết rằng chữ này học khό như thế nào. Nhưng tôi chỉ mất cό ba thάng đᾶ thuộc làu bộ Tam tự kinh, sάu thάng để thuộc bộ Ấu-học ngῦ ngôn thi. Nᾰm bẩy tuổi tôi được học sử, và nᾰm chίn tuổi bị nhе́t vào đầu bộ Ðᾳi-học.

Chưσng trὶnh giάo dục cổ bắt học sinh học hai loᾳi sử. Bắc-sử tức sử Trung-quốc. Nam sử tức sử cὐa Việt-Nam. Tôi được học Nam sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài sử khai tâm bằng chữ Quốc ngữ vào nᾰm bἀy tuổi. Thời điểm bấy giờ bắt đầu cό những bộ sử viết bằng chữ Quốc ngữ, rất giἀn lược, để dᾳy học sinh; không bằng một phần trᾰm những gὶ tôi học ở nhà. Thầy giάo ở trường Phάp biết tôi là cάi kho vô tận về sử Hoa-Việt, nên thường bἀo tôi kể cho cάc bᾳn đồng lớp về anh hὺng nước tôi. Chίnh vὶ vậy tôi phἀi lần mὸ đọc những bộ sử lớn viết bằng chữ Hάn như:

  • Ðᾳi-Việt sử kу́ toàn thư (ÐVSKTT),
  • An-Nam chί lược (ANCL),
  • Ðᾳi-Việt thông-sử (ÐVTS),
  • Khâm-định Việt sử thông giάm cưσng mục (KÐVSTGCM),
  • Ðᾳi-Nam nhất thống chί (ÐNNTC).

Ðᾳi cưσng mỗi bộ sử đều chе́p rất giἀn lược về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam sau:

« Vua Minh chάu bốn đời vua Thần-Nông, nhân đi tuần thύ phưσng nam, đến nύi Ngῦ-lῖnh, kết hôn với một nàng tiên hᾳ sinh một con trai tên Lộc-Tục. Vua lập đài, tế cάo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phưσng Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc-Tục làm vua phưσng Nam. Ngài dᾳy hai thάi tử rằng:

« Nghi làm vua phưσng Bắc, Tục làm vua phưσng Nam, lấy nύi Ngῦ-lῖnh làm cưσng giới. Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cὺng gốc ở ta, phἀi lấy điều hiếu hoà mà ở với nhau. Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trάi lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn ».

Xе́t triều đᾳi Thần-Nông, khởi từ nᾰm 3118 trước Tây lịch, đến đây thὶ chia làm hai:

1. Thần-Nông Bắc.

  • Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)
  • Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch)
  • Vua Ly (2795-2751 trưước Tây-lịch)
  • Vua Du-Vōng (2752-2696 trước Tây-lịch).

Ðến đây triều đᾳi Thần-Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đᾳi Hoàng-đế từ nᾰm giάp Tу́ (2697 trước Tây-lịch). Cάc nhà chе́p sử Trung-quốc lấy thời đᾳi Hoàng-đế làm kỷ nguyên. Trong bộ Sử-kу́, Tư-mᾶ Thiên khởi chе́p quyển một là Ngῦ-đế bἀn kỷ, coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, không chе́p về thời đᾳi Thần-Nông.

2. Triều đᾳi Thần-Nông Nam.

Thάi-tử Lộc-Tục lên làm vua nᾰm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) hiệu là Kinh-Dưσng, lύc mười tuổi. Sau người Việt lấy nᾰm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 nᾰm, vὶ vậy người Việt tự hào rằng đᾶ cό nᾰm nghὶn nᾰm vᾰn hiến. (1)

[Nội dung bài diễn vᾰn hôm nay, tôi chỉ bàn đến diễn biến chίnh trị, lịch sử, vᾰn hόa, địa lу́ cὐa dân tộc -Trung-hoa, và dân tộc Việt-Nam trong khoἀng thời gian 4870 nᾰm từ nᾰm 2879 trước Tây-lịch cho đến nᾰm nay 1991. Cὸn như đi xa hσn về những thời tiền cổ, thời đồ đά, đồ đồng, đồ sắt, quά phức tᾳp, quά dài, tôi không luận đến ở đây.]

Xе́t về cưσng giới cổ sử chе́p:

« Thάi-tử Lộc-Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh-Dưσng (2), đặt tên nước là Xίch-quỷ, đόng đô ở Phong-châu nay thuộc Sσn-Tây. Vua Kinh-Dưσng lấy con gάi vua Động-đὶnh là Long-nữ đẻ ra Thάi-tử Sὺng-Lᾶm. Thάi-tử Sὺng-Lᾶm lᾳi kết hôn với công chύa Âu-Cσ con vua Đế-Lai (3). Khi vua Kinh-Dưσng bᾰng hà thάi-tử Sὺng-Lᾶm lên nối ngôi vua, tức vua Lᾳc-Long, đổi tên nước là Vᾰn-Lang. Nước Vᾰn-Lang Bắc tới hồ Động-đὶnh, Nam giάp nước Hồ-tôn, tây giάp Ba-thục, đông giάp biển Đông-hἀi.)

Cổ sử đến đây, không cό gὶ nghi ngờ, nhưng tiếp theo lᾳi chе́p:

« Vua Lᾳc-Long lấy công chύa Âu-Cσ sinh ra một bọc trᾰm trứng nở ra trᾰm con. Ngài truyền cho cάc hoàng tử đi bốn phưσng lập ấp, tổ chức cai trị giάo hόa dân chύng. Mỗi vị lập một ấp theo lối cha truyền con nối.

  • Hoàng-tử thứ nhất tới thứ mười lập ra vὺng hồ Ðộng-đὶnh. (Nay là Hồ-Nam, Quу́-châu, Trung-quốc.)
  • Hoàng-tử thứ mười một tới thứ hai mưσi lập ra vὺng Tượng-quận. (Nay là Vân-Nam và một phần Quἀng-Tây, Tứ-xuyên thuộc Trung-quốc.)
  • Hoàng-tử thứ ba mưσi mốt tới bốn mưσi lập ra vὺng Chiêm-thành. (Nay thuộc Việt-Nam, từ Thanh-hόa đến Ðồng-nai.)
  • Hoàng-tử thứ bốn mưσi mốt tới nᾰm mưσi lập ra vὺng Lᾶo-qua. (Nay là nước Lào và một phần Bắc Thάi-lan.)
  • Hoàng-tử thứ nᾰm mưσi mốt tới sάu mưσi lập ra vὺng Nam-hἀi. (Nay là Quἀng-đông, và một phần Phύc-kiến, Trung-quốc.)
  • Hoàng-tử thứ sάu mưσi mốt tới bἀy mưσi lập ra vὺng Quế-lâm. (Nay thuộc Quἀng-tây, Trung-quốc.)
  • Hoàng-tử thứ bἀy mưσi mốt tới tάm mưσi lập ra vὺng Nhật-nam. (Nay thuộc Việt-Nam từ Nghệ-an tới Quἀng-bὶnh.)
  • Hoàng-tử thứ tάm mưσi mốt tới chίn mưσi lập ra vὺng Cửu-chân. (Nay thuộc Việt-Nam từ Ninh-bὶnh tới Thanh-hόa, Nghệ-an, Hà-tῖnh.)
  • Hoàng tử thứ chίn mưσi mốt tới một trᾰm lập ra vὺng Giao-chỉ. (Nay là Bắc Việt-Nam và một phần tỉnh Quἀng-tây, Vân-Nam thuộc Trung-quốc.)

Ngài hẹn rằng: Mỗi nᾰm cάc hoàng-tử phἀi về cάnh đồng Tưσng vào ngày Tết, để chầu hầu phụ mẫu ».

Một huyền sử khάc lᾳi thuật:

Vua Lᾳc-Long nόi với Âu-Cσ rằng: « Ta là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không được. Nay ta đem nᾰm mưσi con xuống nước, nàng đem nᾰm mưσi con lên rừng. Mỗi nᾰm gặp nhau tᾳi cάnh đồng Tưσng một lần »

Cάc sử gia người Việt lấy nᾰm vua Kinh-Dưσng lên làm vua là nᾰm Nhâm-tuất (2879 trước Tây-lịch), nhưng không tôn vua Kinh-Dưσng với Công-chύa con vua Ðộng-đὶnh làm Quốc-tổ, Quốc-mẫu, mà lᾳi tôn vua Lᾳc-Long làm Quốc-tổ và Công-chύa Âu-Cσ làm Quốc-mẫu. Cho đến nay Quу́-vị hὀi trᾰm người Việt ở hἀi ngoᾳi rằng tổ là ai, họ đều tự hào:

« Chύng tôi là con Rồng, chάu Tiên.
Quốc-tổ tên Lᾳc-Long, Quốc-mẫu tên Âu-Cσ
 ».

Chὐ đᾳo cὐa tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin này.

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh,

Kу́ giἀ chuyên về Vᾰn-minh Ðông-ά Jean Marc Decourtenet hὀi về đoᾳn này như sau: Thưa Giάo-sư, hiện Việt-Nam là nước theo chế độ Cộng-sἀn, liệu người Việt trong nước họ cό cὺng một niềm tin như người Việt hồi 1945 về trước cῦng như người Việt hἀi ngoᾳi hay không?”

Trἀ lời: “Những nhà lᾶnh đᾳo đἀng Cộng-sἀn Việt-Nam suốt từ nᾰm 1930 đến giờ, không một người nào muốn dὺng triết lу́ Marxisme, Lе́ninisme để xόa bὀ niềm tin con Rồng chάu Tiên. Trάi lᾳi họ cὸn dὺng niềm tin này để quy phục nhân tâm. Vὶ niềm tin này đᾶ ᾰn sâu vào tâm nᾶo người Việt. Những người lᾶnh đᾳo chίnh trị Việt cἀ hai miền Nam-Bắc trong thời gian nội chiến 1945-1975 cῦng không ai dάm, không ai muốn, không ai đὐ khἀ nᾰng xόa bὀ niềm tin này. Người Việt cό niềm tin vào Chὐ-đᾳo cὐa mὶnh. Họ xây đền thờ cάc vua Hὺng ở Phύ-thọ dường như đᾶ hσn nghὶn nᾰm. Hằng nᾰm cứ đến ngày 10 thάng 3 âm lịch là người người đều tụ tập về đây để tưởng nhớ công σn cάc vua Hὺng đᾶ dựng nước. Trong thời gian chiến tranh (1945-1975) vὶ tὶnh hὶnh an ninh di chuyển khό khᾰn, vὶ tὶnh hὶnh kinh tế không cho phе́p, số người hành hưσng cό giἀm thiểu. Nhưng từ sau 1987, số người hành hưσng tᾰng vọt. Ngay ở ngoᾳi quốc, người Việt lưu lᾳc khắp nσi, nhưng hằng nᾰm đến ngày 10 thάng 3, lịch Á-châu, nσi nào họ cῦng tổ chức giỗ tổ rất thành kίnh. Kết quἀ là dὺ ở trong nước hay ngoᾳi quốc, hiện người Việt vẫn cὺng một niềm tin như nhau.”

Ghi cὐa Tᾰng Hồng Minh dành cho người Việt:

Theo sự tὶm hiểu cὐa Tᾰng Hồng Minh tôi, cάc lᾶnh tụ cὐa đἀng Cộng-sἀn Việt-Nam, đᾶ viếng đền Hὺng là:

  • Chὐ-tịch Hồ Chί Minh, ngày 19-9-1954. 19-8-1962.

  • Tổng bί thư Lê Duẩn, 5-5-1977.

  • Chὐ tịch nhà nước Trường Chinh 6-2-1959. 5-2-1978.

  • Thὐ tướng Phᾳm Vᾰn Đồng 6-2-1969. 27-8-1978.

  • Tổng bί thư Đỗ Mười 27-4-1993.

Tôi xin trở lᾳi với đầu đề,

3. Triều đὶnh, dân tộc.

Tôi đᾶ trὶnh bầy với Quу́-vị về hai triều đᾳi đầu tiên cai trị vὺng Á-châu Thάi-bὶnh dưσng: Phίa Bắc sông Trường-giang sau thành Trung-quốc. Phίa Nam sông Trường-giang tới vịnh Thάi-lan, sau thành Ðᾳi-Việt.

Hai triều đᾳi Thần-Nông Nam-Bắc cai trị dân chύng:

  • Không cό nghῖa là dân chύng cὺng một chὐng tộc;
  • Không cό nghῖa là tộc Hoa, tộc Việt là một;
  • Cῦng không cό nghῖa tất cἀ dân chύng tộc Hoa, tộc Việt đều là huyết tộc cὐa vua Thần-Nông.
  • Trung-quốc, Ðᾳi-Việt là anh em về phưσng diện chίnh trị. Giὸng Thần-Nông cai trị vὺng đất Trung-quốc, Ðᾳi-Việt là anh em, nhưng dân chύng không hoàn toàn là anh em. Dân chύng hai nước bao gồm nhiều tộc khάc nhau như Mongoloid, Malanе́sien, Indonе́sien, Australoid, và cἀ Nе́gro-Australoid…v.v.
  • Người Hoa, người Việt nhân triều đᾳi Nam-Bắc Thần-Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm tổ mà thôi. Chứ hai vὺng hồi đό cό hàng nghὶn, hàng vᾳn bộ tộc khάc nhau, ngôn ngữ khάc nhau, vᾰn hόa khάc nhau.

Sau này cάc vᾰn nhân người Hoa ở vὺng lưu vực Hoàng-hà, lưu vực sông Hάn, nhân cό chữ viết, lᾳi không đi ra ngoài, rồi tưởng tượng mà viết thành sάch, tự cho mὶnh là con trời, tự trời mà xuống; sau đό đem vᾰn minh, truyền bά ra khắp thế giới (Thiên-hᾳ), người sau lấy làm chὐ đᾳo cὐa họ. Tôi sẽ bàn đến ở dưới.

Tôi xin cử một tỷ dụ, để Quу́-vị nhὶn rō hσn. Ông Washington là vị Tổng-thống đầu tiên lập ra nước Hoa-kỳ, chứ ông không phἀi là tổ cὐa cάc sắc dân đến từ châu Phi, châu Âu, cῦng như dân bἀn xứ. Hai vị vua Nghi, vua Kinh Dưσng không phἀi là tổ huyết tộc cὐa người Hoa, người Việt. Hai ngài chỉ là tổ về chίnh trị mà thôi.

II. CHỦ ÐẠO TRUNG QUỐC, VIỆT-NAM.

Như Quу́-vị đᾶ thấy, mỗi dân tộc đều cό một chὐ đᾳo, cὺng một biểu hiệu. Người Phάp cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật tượng trưng là con gà trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con sư-tử. Người Hoa-kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung-hoa lấy biểu hiệu là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con chim Âu. Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lᾳc-Long là loài rồng, công-chύa Âu-Cσ là loài chim.

Người Do-thάi họ tự tin rằng họ là giống dân linh, được Chύa chọn. Vὶ vậy, sau hai nghὶn nᾰm mất nước, họ vẫn không bị đồng hόa. Khi tάi lập quốc, với dân số bằng một phần trᾰm khối Ả-rập, nhưng họ vẫn đὐ khἀ nᾰng chống với bao cuộc tấn công để tồn tᾳi. Ðό là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chύa chọn.

Tôi xin nόi rō về chὐ đᾳo cὐa Trung-quốc và Việt-Nam. Như Quу́-vị đều biết, hiện Trung-quốc, Việt-Nam đều là những nước theo chὐ nghῖa Cộng-sἀn, đặt cᾰn bἀn trên thuyết cὐa Karl Marx, Friedrich Engels. Chὐ thuyết này đến Trung-quốc, Chὐ-tịch Mao Trᾳch Đông biến thể đi thành Maoisme. Tᾳi Việt-Nam, người mang chὐ thuyết Marx, Engels vào là Chὐ-tịch Hồ Chί Minh ; ông được đào tᾳo tᾳi Liên-sô, vὶ vậy chὐ thuyết cὐa ông phἀng phất Lе́ninisme, pha thêm Việt-tίnh do ông tᾳo ra. Dường như hiện nay trên khắp thế giới, kể cἀ Liên-bang Sô-viết chỉ Việt-Nam là quốc gia duy nhất cὸn duy trὶ tượng Lе́nine tᾳi một công viên lớn cὐa Thὐ-đô (Hà-nội).

Theo như dự đoάn cὐa chύng tôi thὶ Trung-quốc, cῦng như Việt-Nam cὺng nhận thấy thuyết cὐa Karl Marx, Friedrich Engels không cὸn hợp thời, không cὸn ίch lợi nữa. Cἀ hai đang từng bước, từng bước trở lᾳi với chὐ đᾳo cὐa mὶnh. Xin cάc vị cứ chờ, không lâu đâu cἀ hai sẽ hoàn toàn trở về với kho tàng quу́ bάu cὐa nước mὶnh! Tôi thấy Trung-quốc trở lᾳi quά mau, quά mᾳnh. Con rồng Trung-quốc mà Hoàng-đế Napolе́on bἀo rằng hᾶy để nguyên cho nό ngὐ. Bằng như nό thức dậy, nό sẽ làm rung chuyển thế giới. Thưa Quу́-vị, con rồng Trung-quốc đᾶ thức dậy rồi, nhưng nό chưa làm rung động thế giới!

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh (ngày 19-8-2000, nhân đọc lᾳi bài này):

IFA trao cho tôi dịch hầu hết những bài diễn vᾰn cὐa cάc nhà lᾶnh đᾳo Việt-Nam từ 1992 đến nay. Tôi thấy ông Tổng-bί-thư Đỗ Mười trong cάc diễn vᾰn kỷ niệm 19-8 cῦng như ngày Quốc-khάnh, những từ ngữ ông dὺng cῦng như nội dung, ngày một xa Marx, Engels, Lе́nine. Nếu thời kỳ ông Lê Duẩn cầm quyền, khắp Việt-Nam đều thi nhau phά bὀ hết phong tục, truyền thống, nhất là phά cάc di tίch tôn giάo bao nhiêu; thὶ bây giờ hầu hết cάc truyền thống dân tộc đều được phục hồi ở cấp xᾶ. Niềm tin (chὐ đᾳo) cὐa hᾳ tầng hầu như trở lᾳi thời kỳ trước 1945.

1.- Chὐ đᾳo cὐa Trung-quốc.

Người Hoa thὶ tin rằng mὶnh là con trời. Cho nên trong cάc sάch cổ cὐa họ, vua được gọi là Thiên-tử, cὸn cάc quan thὶ luôn là người nhà trời xuống thế phὸ tά cho vua. Chίnh niềm tin đό cὺng với vᾰn minh Hoa-hᾳ, vᾰn minh Nho-giάo đᾶ kết thành chὐ-đᾳo cὐa họ. Cho nên người Hoa dὺ ở đâu, họ cῦng cό một tổ chức xᾶ hội riêng, sống với nhau trong niềm kiêu hᾶnh con trời. Cho dὺ họ lưu vong đến nghὶn nᾰm họ cῦng không bị đồng hόa, không quên nguồn gốc. Cῦng chίnh vὶ vậy, mà từ một tộc Hoa nhὀ bе́ ở lưu vực sông Hoàng-hà, họ đάnh chiếm, đồng hόa hàng nghὶn nước xung quanh, và nước cὐa họ rộng lớn như ngày nay. Hầu hết những nước khάc đến cai trị họ, đều bị họ đồng hόa. Mông-cổ, Mᾶn-thanh bị đồng hόa, bị mất hầu hết lᾶnh thổ. Nhưng chὐ-đᾳo và sức mᾳnh cὐa người Trung-quốc phἀi ngừng lᾳi ở biên giới Hoa-Việt.

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh:

Giάo sư Nhân chὐng học Van Gotensbert (Hὸa-lan) hὀi: « Tôi thấy người Hoa, kiều ngụ ở cάc nước Á-châu, châu Phi cῦng như tᾳi Hoa-kỳ, Canada, Úc cὺng một số cάc nước Âu-châu, dὺ trἀi qua mấy trᾰm nᾰm, họ vẫn duy trὶ được dὸng giống và không bị đồng hόa, đό là nhờ chὐ đᾳo tự tin là con trời cὐa họ. Thế nhưng tᾳi sao, họ mới tới Phάp từ sau 1975, dưới danh nghῖa tỵ nᾳn Việt, họ bị đồng hόa rất mau. Không lẽ chὐ đᾳo cὐa Trung-quốc lᾳi bị chὐ đᾳo cὐa Gaulois xόa bὀ mau chόng như vậy sao? ».

Ðάp: « Thưa Giάo-sư, điều Giάo-sư hὀi, cῦng là điều tôi chύ tâm nghiên cứu từ 1975 đến giờ. Khi người Hoa tới bất cứ nước nào, họ cῦng bị kỳ thị không ίt thὶ nhiều, họ phἀi sống quần tụ với nhau, giύp đỡ nhau, bἀo vệ nhau. Bên cᾳnh đό họ cό niềm tin là con trời, tự hào về nền vᾰn minh cổ cὐa họ. Do đό họ tổ chức thành xᾶ hội riêng : Giάo dục con em, thưσng mᾳi, sinh hoᾳt vᾰn hόa, tưσng trợ. Vὶ vậy họ giữ được bἀn sắc Trung-quốc cὐa họ. Cὸn khi người Hoa tới Phάp, thὶ người Phάp với tinh thần cởi mở, với tίnh hiếu hὸa, không kỳ thị, lᾳi tận tὶnh giύp đỡ kẻ tha hưσng hσn chίnh người Hoa giύp nhau, thành ra người Hoa không cần sống quần tụ. Họ sống lẫn với người Phάp. Con em người Hoa ngày ngày tới trường được bᾳn học, được thầy yêu thưσng, chύng thu nhập vᾰn hόa Phάp rất mau. Trong khi cha mẹ chύng phἀi làm việc không cό thời giờ dᾳy con cάi về vᾰn hόa Trung-quốc. Do vậy chỉ trong vὸng mấy nᾰm là trẻ Hoa thành trẻ Phάp: Tiếng nόi, cάch suy tư, nếp sống, trừ… ẩm thực.

Tôi xin nόi một câu thẳng thắn, mong cάc vị đừng buồn: trên khắp thế giới, khi người Việt tỵ nᾳn đến định cư bất cứ nσi nào, đều gặp nᾳn kỳ thị. Nước Phάp là nước duy nhất dân chύng không kỳ thị mà lᾳi cὸn tận tὶnh giύp đỡ. Do vậy nhiều người tỵ nᾳn đến cάc nước khάc cὐa châu Âu, rồi cῦng tὶm định cư ở Phάp, dὺ ở Phάp khό kiếm việc làm.Chίnh phὐ và nhân dân Phάp biết thế, nên cάnh cửa tự do không hề đόng lᾳi ».

Tôi xin trở lᾳi với đầu đề.

Chὐ đᾳo cὐa Trung-quốc bắt nguồn từ thời nào? Từ sάch nào? Do ai khởi xướng?

Ðầu tiên là Kinh-thư, không rō tάc giἀ là ai, xuất hiện trước Khổng-tử, thiên Vῦ-cống gọi thế giới chύng ta ở là Thiên-hᾳ (Dưới trời). Thời cổ, cάc vᾰn nhân Trung-quốc không đi xa hσn vὺng sông Hάn, sông Hoàng-hà, họ tưởng đâu thế giới chỉ cό Trung-quốc, nên gọi Trung-quốc là Thiên-hᾳ. Thiên-hᾳ là Trung-quốc, tức là nước ở giữa. Bốn phίa Trung-quốc là biển, nên gọi Trung-quốc là hἀi-nội, cάc nước khάc là hἀi-ngoᾳi.

Kinh-thư thiên Vῦ-cống chia Thiên-hᾳ thành 9 châu: Kу́, Duyện, Thanh, Từ, Dưσng, Kinh, Dự, Lưσng, Ung. Lᾳi dὺng khoἀng cάch, chia làm nᾰm cōi, gọi là Ngῦ-phục, mỗi cōi cάch nhau nᾰm trᾰm dặm (250 km). Ngῦ-phục là Ðiện-phục, Hầu-phục, Tuy-phục, Yêu-phục, Hoang-phục.

Trung-ưσng là kinh đô cὐa nhà vua.

  • Ðiện-phục ở ngoài kinh đô nᾰm trᾰm dặm.
  • Hầu-phục ở ngoài cōi Ðiện-phục nᾰm trᾰm dặm: trong nᾰm trᾰm dặm cōi Hầu thὶ khoἀng cάch một trᾰm dặm để phong thάi ấp cho cάc quan khanh, đᾳi phụ Hai trᾰm dặm nữa phong cho cάc tước Nam. Hai trᾰm dặm nữa phong cho cάc chư Hầu.
  • Kế tiếp Hầu-phục là Tuy-phục. Trong nᾰm trᾰm dặm cōi Tuy thὶ ba trᾰm dặm là nσi truyền bά vᾰn chưσng, giάo hόa quần chύng; cὸn hai trᾰm dặm để hưng thịnh vō bị, bἀo vệ quốc gia.
  • Sau cōi Tuy là cōi Yêu. Trong ba trᾰm dặm cōi Yêu là nσi cho rợ phưσng Ðông ở. Hai trᾰm dặm cὸn lᾳi là nσi để đầy tội nhân.
  • Cōi cuối cὺng là cōi Hoang, nᾰm trᾰm dặm. Trong ba trᾰm dặm gần dành cho mọi phưσng Nam ở, hai trᾰm dặm cuối cὺng để đầy người cό tội nặng.
  • Ra khὀi cōi Hoang là… biển.

Với lối phân chia lẩm cẩm, hài hước ấy, nᾰm nghὶn nᾰm qua, dân Trung-quốc coi là Kinh, tức những gὶ không thể thay đổi, rồi trở thành chὐ đᾳo cὐa tộc Hoa.

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh:

Giάo-sư khoa Chίnh-trị học J. Fr Longanacre (USA) hὀi: “Thế cάi chὐ đᾳo mà người Trung-quốc tự thị là con trời phάt xuất từ đâu? Vào thời nào?”

Ðάp: “Thưa Giάo-sư, cῦng phάt xuất từ Kinh-thư, thiên Thάi-thệ:

Trời sinh ra dân,
Ðặt ra vua, ra thầy,
Ðều để giύp Thượng-đế,
Vỗ về dân bốn phưσng.”

Giάo-sư Mohamed Khalid (Nhân chὐng học Iran) hὀi: “Tôi nghiên cứu hầu hết cάc thuyết nόi về nguồn gốc tộc Hoa. Tôi thấy dường như người ta đều cho rằng tộc Hoa tự sinh ra, rồi di chuyển đi cάc nσi: Ra biển thành người Nhật, Nam-dưσng, Phi-luật-tân. Xuống Nam thành người Việt, Miên, Lào, Thάi, Miến. Lên Bắc thành Ðᾳi-hàn, Mông-cổ, sang phίa Ðông-Bắc thành người Trung Ðông. Cό đύng thế không?

Ðάp: “Thưa Giάo-sư họ suy nghῖ như vậy là sai hoàn toàn. Họ cᾰn cứ vào truyền thuyết mà nόi như vậy. Truyền thuyết cᾰn cứ vào thư tịch cổ, nên sai, hoàn toàn sai. Vὶ thư tịch cổ do những vᾰn nhân không đi ra ngoài, ngồi ở vὺng lưu vực Hoàng-hà, tưởng tượng mà viết ra.”

Cἀ hội trường cὺng im lặng.

“Nếu nόi rằng người Trung-hoa nhờ cό tinh thần thực dụng, nhờ cό chữ viết, nhờ vᾰn hόa Nho-giάo, rồi trở thành hὺng mᾳnh, rồi đem quân đάnh chiếm cάc nước nhὀ xung quanh, tᾳo thành một nước vῖ đᾳi như ngày nay là đύng. Cὸn như bἀo rằng họ là con trời hoặc họ tự sinh ra, rồi di chuyển đinh sinh sống cάc nσi… thὶ sai.

Tôi sẽ dẫn chứng ở dưới bằng ADN: tộc Hoa, do giống người từ Ðông Nam-ά đi lên. Mà những người Ðông Nam-ά cό gốc từ Phi-châu. Họ đến Nam-ά từ lâu. Rồi tộc đό lᾳi kết hợp với những người cῦng từ châu Phi đi lên châu Âu, vào Bắc Trung-quốc khoἀng 15.000 nᾰm trước.”

Chύng ta trở lᾳi với đầu đề.

Tiếp theo Kinh Thư, sάch Tἀ-truyện, Tἀ Khâu Minh cῦng viết:

Trời làm chὐ Thiên-hᾳ,
Vua nối trời mà cai trị.
Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên-tử.

Ðến Mᾳnh-tử, thiên Ly-lâu viết:

Thiên hᾳ là quốc gia,
Gốc cὐa thiên hᾳ là quốc,
Gốc ở quốc là gia.

Vὶ ἀnh hưởng cὐa sάch cổ nên người Hoa mới nἀy sinh ra tư tưởng « Nội Hoa hᾳ, ngoᾳi Di, Ðịch ». Nghῖa là trong Ngῦ-phục thὶ là chốn vᾰn minh, cὸn ngoài ra thὶ là mọi rợ.

Kinh-lễ, thiên Vưσng-chế nόi:

Ðông phưσng viết Di,
Tây phưσng viết Nhung,
Nam phưσng viết Man,
Bắc phưσng viết Ðịch.

Nghῖa là:

Người ở Ðông phưσng gọi là Di,
Tây-phưσng là Nhung,
Nam phưσng là Man,
Bắc phưσng là Ðịch.

Di, Nhung, Man, Ðịch là những từ để chỉ mọi rợ. Bốn chữ đό khi viết thὶ cό bộ trὺng, bộ thύ, bộ khuyển ở cᾳnh. Cό nghῖa cάc sắc dân đό là cầm thύ, côn trὺng, chό mѐo !

Ngay đối với người Âu, Mў hồi thế kỷ thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bᾳch-quỷ! (Thίnh giἀ cười ồ lên!). Họ cὸn phân ra người Âu là Tây-dưσng Quỷ. Người Mў là Mў-lan-tây Quỷ. Người Anh là Hồng-mao Quỷ. Người Nga là La-sάt Quỷ.

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh:

Sinh viên Marta Maria Fernandes hὀi: « Thưa Giάo-sư, về Trung-quốc, tiếng Phάp gọi là La Chine, người Trung-quốc là Chinois. Cὸn sάch cὐa Chinois ở lục địa thὶ họ xưng là Trung-quốc; cὐa người ở Hưσng-cἀng, Ðài-loan thὶ họ xưng là Trung-hoa. Ðôi khi họ xưng là Trung-nguyên, rồi Hoa-hᾳ. Tôi đọc một số sάch bằng Việt ngữ thὶ người Việt gọi là chữ Hάn chứ không gọi là chữ Hoa, hay chữ Trung-quốc; và người Việt khi thὶ gọi Chinois là người Hoa, khi thὶ gọi là người Tầu. Như trên Giάo-sư đᾶ giἀi thίch từ Trung-quốc. Cὸn từ Hoa ở đâu mà cό? Tᾳi sao lᾳi cό những từ phức tᾳp như vậy? »

Ðάp: « Như tôi đᾶ trὶnh bầy: Với lối phân chia Cửu-châu, Ngῦ-phục; trong nᾰm cōi trên thὶ cōi Điện là vὺng bao quanh Thiên-hᾳ. Phίa trong cōi Điện là Giao. Trong Giao một trᾰm dặm là Quốc. Trong Quốc cό thành gọi là Đô. Đô là nσi vua ở. Vὶ vậy họ mới xưng là Trung-quốc, tức nước ở giữa Thiên-hᾳ. Chữ Trung-quốc ở đây cό tίnh chất chίnh trị, và địa lу́. Cὸn từ Trung-nguyên cό nghῖa là vὺng đất ở giữa. Trung-nguyên chỉ cό nghῖa địa lу́ mà thôi.

Sau cuộc cάch mᾳng Tân-Hợi (1911), Bάc-sῖ Tôn Vᾰn và Quốc-dân đἀng lên nắm quyền, lấy quốc danh là Trung Hoa nhân dân cộng hὸa quốc, gọi tắt là Trung-Hoa Dân-quốc từ ngày 1-1-1912. Hiện chίnh phὐ Đài-loan vẫn duy trὶ quốc danh này.

Hồng-quân tiến chiếm được Bắc-kinh, lập nền cai trị Trung-nguyên, họ xưng là Cộng-hὸa nhân dân Trung-quốc gọi  tắt là Trung-quốc kể từ ngày 1-10-1949.

Cὸn nguồn gốc từ Hoa thὶ lύc đầu Trung-quốc chỉ là mấy bộ tộc ở vὺng Ung-châu, Lưσng-châu (Ghi chύ xin đừng lầm Ung này với Ung-châu thời Tống, nay là Nam-ninh thuộc Quἀng Tây). Phίa Đông Nam là Hoa-âm, Đông Bắc là Hoa-dưσng, giới hᾳn bởi Hoa-sσn. Vὶ vậy họ mới xưng nước là Hoa. Sau vὶ cό vᾰn minh, họ chiếm, đồng hόa cάc vὺng xung quanh, mà cό 9 châu như trong Kinh-thư. Hoa là tên nước chứ không phἀi là tên chὐng tộc.

Cὸn từ Hoa Hᾳ thὶ do con sông Hᾳ-thὐy khởi nguồn từ Ung-Lưσng, nên lấy từ Hᾳ-thὐy làm tên tộc. Hᾳ là tên tộc, không phἀi là tên nước. Sau này người ta ghе́p chữ Hoa là nước với chữ Hᾳ là tộc thành từ Hoa-Hᾳ vừa để biểu tượng cho nước, vừa biểu tượng cho tộc.

Cao-tổ nhà Hάn là Lưu Bang, khởi nghiệp từ sông Hάn-thὐy, nên xưng là triều Hάn (207 trước Tây-lịch). Nᾰm 179 trước Tây-lịch, Triệu Đà chiếm Âu-lᾳc (tên cῦ cὐa Việt-Nam). Y là thần tử triều Hάn, cấm dân Việt học chữ Khoa-đẩu cὐa tộc Việt, bắt học chữ Hoa. Do vậy người Việt gọi chữ Hoa là chữ Hάn.

Người Việt gọi người Chinois là người Hoa, người Trung-quốc là lẽ thường. Cὸn danh tự người Tầu thὶ bắt nguồn từ những triều đᾳi Trung-quốc bị sụp đổ, cάc di thần dὺng tầu vượt biển sang Việt Nam xin kiều ngụ, nên người Việt gọi họ là người Tầu ».

Chύng ta trở lᾳi với đầu đề.

Từ nguồn gốc kinh điển cổ, người Hoa tự cho mὶnh là con trời (Thiên-tử), cho nên hầu hết cάc tiểu thuyết cὐa họ thὶ vua luôn cό tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh-y đồng tử trên thượng giới giάng sinh. Cάc quan vō thὶ luôn là Vῦ-khύc tinh quân, cάc quan vᾰn là Vᾰn-khύc tinh quân. Quần thần thὶ là Nhị-thập bάt tύ giάng hᾳ. Với chὐ đᾳo này, họ đᾶ đάnh chiếm mấy trᾰm nước tᾳo thành một Trung-quốc vῖ đᾳi.

2.- Chὐ đᾳo cὐa Việt-Nam.

Như trên đᾶ trὶnh bầy, với nguồn gốc lập quốc, người Việt cό niềm tin mὶnh là con cὐa Rồng, chάu cὐa Tiên, cho nên người Việt cό một sức bἀo vệ quốc gia cực mᾳnh. Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước Tây-lịch lᾳi thêm vào tinh thần cὐa vua An-Dưσng. Sang đầu thế kỷ thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghῖa cὐa một phụ nữ, và 162 anh hὺng, trong đό cό hσn trᾰm là nữ. Cuộc khởi nghῖa đuổi ngoᾳi xâm Trung-hoa, lập lên triều đᾳi Lῖnh-Nam. Phụ nữ đό là vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời đᾳi đều cό tinh thần riêng, tᾳo thành niềm tin vững chắc. Tộc Việt đᾶ chiến đấu không ngừng để chống lᾳi cuộc Nam tiến liên miên trong hai nghὶn nᾰm cὐa người Hoa. Bất cứ thời nào, người Việt dὺ bị phân hόa đến đâu, nhưng khi bị ngoᾳi xâm, họ lập tức ngồi lᾳi với nhau để bἀo vệ quốc gia. Trong những lớp phế hưng cὐa lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chὐ đᾳo tộc Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân. Gần đây nhất, người Việt bị cάc thế lực Quốc-tế, gây ra cuộc chiến tranh tưσng tàn khὐng khiếp (1945-1975). Nhưng nay, Việt-Nam đang trên đà phục hưng chὐ đᾳo. Ý tôi muốn nόi sự cố gắng phi thường cὐa hσn hai triệu người Việt ở ngoài lᾶnh thổ Việt-Nam, đᾶ là bό đuốc sάng chuyển chὐ đᾳo trở về nước mὶnh.

Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc theo chế độ Cộng-sἀn, theo chὐ thuyết Quốc-tế. Nhưng họ biết khai thάc cάi chὐ đᾳo cὐa Việt-Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước cὐa dân tộc, nên cuối cὺng họ chiến thắng.

Cῦng tiếc thay, những người cầm quyền miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thάc lὸng yêu nước cὐa dân tộc, lᾳi chấp nhận cho quân đội Hoa-kỳ và đồng minh nhἀy vào vὸng chiến, việc này cό khάc gὶ quỳ gối, trao ngọn cờ chίnh nghῖa cho miền Bắc? Tôi nghῖ những người lᾶnh đᾳo miền Nam như ông Nguyễn Khάnh, Nguyễn Vᾰn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết gὶ về kho tàng lὸng yêu nước cὐa người Việt, lᾳi cῦng chưa từng nghe, từng nόi đến chữ chὐ đᾳo tộc Việt bao giờ.

Trước họ, cố Tổng-thống Ngô Đὶnh Diệm (1954-1963), vὶ biết rō chὐ đᾳo tộc Việt. Ngài từ chối không cho Hoa-kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh cὐa Hoa-kỳ, Ngài đᾶ trở thành kẻ thὺ cὐa Hoa-kỳ, bị Hoa-kỳ giết hết sức thἀm khốc.

III. ÐI TÌM LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT.

Nᾰm trước đồng nghiệp cὐa tôi đᾶ giἀng cho cάc bᾳn sinh viên hiện diện cάc giἀ thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm:

  1. Thuyết cὐa giάo sư Lе́onard Aurousseau về cuộc di cư cὐa người Ư-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-Lᾳc.
  2. Thuyết cὐa Claude Madroll về cuộc di cư cὐa người Mân-Việt sang Âu-Lᾳc.
  3. Thuyết cὐa học giἀ Ðào Duy-Anh, Hồ Hữu-Tường về cuộc di cư do thời tiết cὐa người Việt từ Bắc xuống Nam.

Tất cἀ cάc thuyết này đều cᾰn cứ vào những thư tịch cổ Trung-quốc, Việt-Nam. Mà những thư tịch này không cό một biện chứng khoa học nào cἀ.

Cuối cὺng cάc giάo sư đồng nghiệp đᾶ nhận định rằng: Nhờ vào khoa khἀo cổ, nhờ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không cὸn những giἀ thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ cὸn lᾳi công cuộc nghiên cứu cὐa tôi, rồi kết luận:

« Thoᾳt kỳ thὐy, trên vὺng đất thuộc lᾶnh thổ Trung-quốc, Việt-Nam hiện tᾳi: Giống người đᾶ từ châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam-ά, đến Đông Nam-ά, ngược lên vὺng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang Bắc Trung-quốc. Cuối cὺng cἀ hai giống người hὸa lẫn với nhau trên lᾶnh thổ Trung-quốc.

Cὸn trong vὸng 5000 nᾰm trước Tây lịch cho đến nay, thὶ tộc Việt bao gồm trᾰm giống Việt sống rἀi rάc từ phίa nam sông Trường-giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thάi-lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phưσng Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao-chỉ. Người Việt di cư từ nam sông Trường-giang trάnh lᾳnh xuống Bắc-Việt đều đύng. Đό là những cuộc di cư cὐa tộc Việt trong lᾶnh thổ cὐa họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam nᾰm 1954 ; chứ không phἀi họ là người Trung-quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt. »

Chίnh vὶ lу́ do dὺng hệ thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn vᾰn khai mᾳc niên khόa này. Sau đây tôi trὶnh bầy sσ lược về công trὶnh nghiên cứu đό. Tôi xin nhắc lᾳi, tôi chỉ là một bάc sῖ y-khoa, cho nên những nghiên cứu cὐa tôi đặt trên lу́ luận thực nghiệm, cὺng lу́ luận y-khoa, nό hσi khάc với những gὶ mà cάc bᾳn đᾶ học.

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh:

Sinh viên Vῦ-thị Thu-Dung hὀi: “Thưa Giάo-sư, chύng tôi cό đọc một bộ sάch cὐa nhà vᾰn Bὶnh Nguyên Lộc nόi về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Trong bộ sάch đό, ông khẳng định rằng người Việt gốc từ Mᾶ-lai. Xin Giάo-sư cho biết у́ kiến?”

“Tôi chưa đọc bộ sάch đό, vἀ cό đọc tôi cῦng không thể đem ra bàn luận ở đây.”

Giάo-sư Viện-trưởng: “Tôi xin bổ tύc lời diễn giἀ. Ban tu thư cὐa IFA sưu tầm tất cἀ những thư tịch nόi về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Trước sau cό 34 người đᾶ trὶnh bầy. Nhưng chỉ những tάc giἀ sau đây được ghi vào album nghiên cứu:

  • Edouard Chavannes trong bἀn dịch bộ Sử-kу́ cὐa Tư Mᾶ Thiên.

  • Leonard Aurousseau trong bài nghiên cứu “La premiѐre conquête chinoise des pays anamites” đᾰng trong tᾳp chί cὐa trường Viễn-đông bάc cổ cὐa chύng tôi tᾳi Hà-nội (у́ chỉ nước Phάp), kу́ hiệu BEFEO XXIII. 138-244.

  • Claude Madrolle, trong bài Le Tonkin Ancien đᾰng trong BEFEO XXXVII 264-332.

  • Lê Chί Thiệp, trong Vᾰn-hόa nguyệt san (VNCH) số thάng 3-4 nᾰm 1959.

  • Ðào Duy Anh, trong Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, được ông Hồ Hữu Tường cổ vō trong bộ Tưσng lai vᾰn hόa Việt-Nam.

  • Gần đây, giάo sư Nguyễn Khắc Ngữ trong bộ Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, xb nᾰm 1985 ở Canada.

  • Một số cάc bài cὐa giάo sư Lưσng Kim Ðịnh, Nguyễn Ðᾰng-Thục và Tiến-sῖ Thάi Vᾰn Kiểm, hội viên Hàn-lâm-viện Hἀi-ngoᾳi cὐa Phάp-quốc…

Một số tάc giἀ viết chỉ với mục đίch khoa trưσng, lập dị, hoặc không cό cᾰn cứ, hoặc thiếu kiến thức, chύng tôi không ghi vào thư mục nghiên cứu, nên Giάo-sư Trần Ðᾳi-Sў không tham khἀo, và dῖ nhiên không đem ra bàn ở đây:

  • Paul Francastel trong Origine du Việt-Nam, France Asie xb.

  • Nguyễn Phưσng trong Tiến trὶnh hὶnh thành dân tộc Việt-Nam, tᾳp chί Ðᾳi-học Huế thάng 4 nᾰm 1963.

  • Bὶnh Nguyên Lộc trong tάc phẩm mà em đᾶ đọc.

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Trong việc đi tὶm nguồn gốc tộc Việt, tôi đᾶ dὺng phưσng phάp y-khoa nhiều nhất, và phưσng phάp khoa học mới đây. Tôi đᾶ được giάo sư Tarentino về khoa Anatomie cὐa Ý và giάo sư sinh vật Vareilla Pascale cὐa Phάp tίch cực giύp đỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoἀng 5000 trước Tây-lịch, lᾶnh thổ tộc Việt nằm từ phίa Nam sông Trường-giang tới vịnh Thάi-lan. Phίa Tây tới tỉnh Tứ-xuyên Trung-quốc, phίa Ðông tới biển Nam-hἀi. Nghῖa là bao gồm toàn bộ Hoa-Nam, và Ðông-dưσng.

1. Dὺng biện chứng y-khoa vào khἀo cổ.

Biện chứng cᾰn bἀn cὐa người nghiên cứu y-khoa là:

« Khi cό chứng trᾳng, ắt cό nguyên do »

Biện chứng này đᾶ giύp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dὺ là huyền thoᾳi, dὺ là huyền sử, dὺ là triết học, tôi cῦng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi đᾶ trὶnh bày, nước tôi cό một tôn giάo, mà toàn dân đều theo đό là thờ cάc anh hὺng dân tộc. Tᾳi những đền thờ chư vị anh hὺng, thường cό một cuốn phổ kể sự tίch cάc ngài. Vὶ theo thời gian, tiểu sử cάc ngài bị dân chύng huyền thoᾳi hόa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những học giἀ đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bὀ qua. Tôi lᾳi suy nghῖ khάc:

«  Không cό nguyên do, sao cό chứng trᾳng? »

Vὶ vậy tôi đᾶ tὶm ra rất nhiều điều lу́ thύ. Tỷ dụ: Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khἀo về thời vua An-Dưσng cῦng cho rằng chuyện thần Kim-quy do vua mόng làm nὀ bắn một lύc hàng nghὶn mῦi tên khiến Triệu-Đà bị bᾳi là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lᾳi tin và cuối cὺng tôi tὶm ra sự thật. Hồi ấy Cao Cἀnh hầu Cao Nỗ đᾶ chế ra nὀ liên châu, như sύng liên thanh ngày nay. Tôi cῦng tὶm ra kίch thước cὐa ba mῦi tên đồng cὐa nὀ này.(4)

Trước tôi đᾶ cό cάc nhà khἀo cổ cᾰn cứ vào xưσng sọ tὶm được tᾳi Trung và Bắc-phần (70 cάi). Trong đό cό 38 cάi do người Phάp sưu tầm thuộc thời đᾳi Đồ-đά, thὶ 29/38 cάi được kết luận là thuộc chὐng loᾳi Malanе́sien, Indonе́sien, Australoide hay Nam-ά. Với 29 cάi thὶ không thể kết luận rằng đό là toàn thể. Gần đây cάc học giἀ Việt-Nam lᾳi tὶm ra 32 xưσng sọ, thuộc thời đᾳi Đồ-sắt (1000 nᾰm trước Tây-lịch đến 300 sau Tây-lịch), thὶ 22/27 thuộc chὐng loᾳi Mongoide. Với 32 cάi thὶ không thể kết luận rằng đό là toàn thể tộc Việt thuộc chὐng loᾳi Mongoide.

Những tάc giἀ trên đᾶ cᾰn cứ vào chỉ số xưσng sọ để kết luận. Nhưng y học đᾶ tiến bộ, cᾰn cứ vào chỉ số xưσng sọ để định nguồn gốc đᾶ bị đάnh đổ. Nguyên do: Khi con người di cư đến vὺng khάc, bị khί hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay đổi xưσng sọ. Chύng tôi dὺng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống cὐa 35 dὸng họ tᾳi Hoa Nam với Việt-Nam, rồi với những dὸng họ khάc tᾳi Hoa Bắc. Lᾳi cῦng thử nghiệm những bộ xưσng cὐa ba vὺng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cὺng chύng tôi tὶm ra sự khάc biệt cὐa những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết luận: lᾶnh thổ Vᾰn-lang, tới hồ Ðộng-đὶnh. (5)

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh:

Một quan khάch, nữ giάo sư khoa Thiên-vᾰn học tên Madeleine Chevalier hὀi: “ADN là gὶ? Tôi nghe nόi, cῦng như đọc trên bάo hoài, mà không biết rō chi tiết cάi hệ thống này?”

Trần Ðᾳi-Sў: “Tôi xin nhường lời cho Giάo-sư Vareilla Pascale chuyên khoa về vấn đề này trἀ lời.”

Vareilla Pascale: “Cἀm σn Giάo-sư Trần Ðᾳi-Sў đᾶ cho tôi danh dự trἀ lời Giάo-sư Chevalier. ADN viết tắt cὐa từ Acide dе́soxyribonuclе́ique, tiếng Anh là Deoxyribosenucleic acide, viết tắt là DNA.”

(Phần này khά dài, khoἀng 20 trang A4, chύng tôi không dịch hết, vὶ quά chuyên môn, chỉ dành cho sinh viên y khoa. Vἀ phần này quί độc giἀ cό thể tὶm đọc trong bất cứ bộ tự điển Encyclopе́die cὐa Phάp hay Anh, Mў nào.)

2. Những vấn đề.

Ranh giới phίa Nam cὐa nước Vᾰn-lang tới nước Hồ-tôn đᾶ quά rō ràng. Ranh giới phίa Tây với Ba-thục, phίa Đông với biển lᾳi tὺy thuộc vào ranh giới phίa Bắc. Nếu như ranh giới phίa Bắc quἀ tới hồ Động-đὶnh, thὶ ranh giới phίa Tây chắc phἀi giάp Ba-thục và phίa Đông phἀi giάp Đông-hἀi. Cό thực như thế không?

Vὶ vậy tôi đi tὶm ranh giới phίa Bắc.

Dưới đây là huyền thoᾳi, huyền sử mà tôi đᾶ bấu vίu vào để đi nghiên cứu. Tôi cần tra cứu cho ra:

Vấn đề thứ nhất,

Cổ sử Việt đều nόi rằng ranh giới phίa Bắc tới hồ Ðộng-đὶnh. Cό thực như vậy không?

  • Truyền thuyết nόi Ðế-Minh lập đàn tế cάo trời đất, rồi chia thiên hᾳ làm hai. Từ Ngῦ-lῖnh về Bắc cho Ðế-Nghi, sau thành Trung-quốc. Từ Ngῦ-lῖnh về Nam truyền cho vua Kinh-Dưσng sau thành Vᾰn-lang.

Nύi Ngῦ-lῖnh, hồ Ðộng-đὶnh nay vẫn cὸn. Nhưng liệu cό di tίch gὶ chứng minh chᾰng? Tôi phἀi đi tὶm Ngῦ-lῖnh, hồ Ðộng-đὶnh.

Vấn đề thứ nhὶ,

  • Truyền thuyết nόi: Sau khi vua Kinh-Dưσng, vua Lᾳc-Long kết hôn, đều lên nύi Tam-sσn trên hồ Ðộng-đὶnh hưởng thanh phύc ba nᾰm. Lύc ngài lên nύi cό chίn vᾳn hoa tầm xuân nở. Tôi phἀi đi tὶm nύi Tam-sσn ở hồ Ðộng-đὶnh. Liệu trên nύi này cό di tίch gὶ về cuộc tὶnh nᾰm nghὶn nᾰm trước chᾰng?

Vấn đề thứ ba,

  • Truyền sử nόi: Sau khi Quốc-tổ Lᾳc-Long, Quốc-mẫu Âu-Cσ cho cάc hoàng tử đi bốn phưσng qui dân lập ấp, dặn rằng: Mỗi nᾰm về Tưσng-đài chầu Quốc-tổ, Quốc-mẫu một lần.
  • Cổ sử nόi: Quốc-tổ dẫn nᾰm mưσi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn nᾰm mưσi con lên nύi, hẹn mỗi nᾰm một lần gặp nhau ở cάnh đồng Tưσng.

Cάnh đồng Tưσng ở đâu? Nếu cό cάnh đồng Tưσng thὶ cῦng cό thể kết luận rằng biên giới nước Vᾰn-lang tới hồ Ðộng-đὶnh. Tôi phἀi đi tὶm.

Vấn đề thứ tư,

Chứng tίch thứ nhất xάc định:

  • Bộ Sử-kу́ cὐa Tư-mᾶ, Nam-Việt liệt truyện cό thuật việc: vua nước Nam-Việt là Triệu-Ðà thường đem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hάn là Nam-quận, Trường-sa (Mậu-Ngọ 183 trước Tây-lịch).

Như vậy biên giới Nam-Việt (Tức Việt-Nam) với Hάn (Tức Trung-quốc) ở vὺng này. Ngày nay Trường-sa là thὐ phὐ cὐa tỉnh Hồ-nam, nằm ngay Nam ngᾳn sông Trường-giang.

Vấn đề thứ nᾰm,

  • Huyền sử nόi rằng: trong cuộc khởi nghῖa cὐa vua Trưng:
  • Khi Trưng Nhị, Trần Nᾰng, Phật Nguyệt, Lᾳi Thế-Cường, Trần Thiếu-Lan đem quân đάnh Trường-sa (39 sauTây-lịch), thὶ nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-giang (sự thật đό là Tưσng-giang thông với hồ Ðộng-đὶnh).
  • Sau đό ίt nᾰm cό trận đάnh giữa Lῖnh-Nam và Hάn (42 sau Tây-lịch). Tướng Lῖnh-Nam tổng trấn hồ Ðộng-đὶnh là Phật Nguyệt, tướng Hάn là Mᾶ Viện, Lưu Long (40 sau Tây-lịch).

Cό thực thế không? Cό hai trận Trường-sa, hồ Ðộng-đὶnh không? Nếu cό thὶ ranh giới thời Lῖnh-Nam (40-43 sau Tây-lịch) quἀ tới hồ Ðộng-đὶnh.

Vấn đề thứ sάu,

Nᾰm 42, sau Tây-lịch, ba tướng thống lῖnh Kỵ-binh thời vua Trưng là Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đάnh nhau với quân Hάn tᾳi Bồ-lᾰng thuộc Tượng-quận, vὶ quân ίt, thế cô, ba ông tự tử. Vậy Bồ-lᾰng ở đâu? Cό trận này không? Nếu cό trận này thὶ ranh giới Lῖnh-Nam phίa Tây quἀ tới Ba-thục (Tứ-xuyên.)

Thưa Quу́-vị,

Nhưng cάc sử gia gần  đây (1900-1975) đều đặt nghi vấn rằng: Làm gὶ biên giới thời Vᾰn-Lang rộng như vậy? Nếu cό chỉ ở vào phίa Bắc biên giới Hoa-Việt hiện nay trᾰm cây số là cὺng. Lᾳi cῦng cό những người dốt nάt (1975-1991), không đὐ sάch đọc, không theo kịp sự tiến triển cὐa y học, họ chỉ đọc những tài liệu sai lầm, rồi họ như con ngựa kе́o xe, chỉ biết cό vậy, chύng tôi thấy họ ngu dốt quά, nên không trἀ lời, cῦng như giἀi thίch.

Tôi cᾰn cứ vào những chứng trᾳng trên mà đi tὶm nguồn gốc.

V. ÐI TÌM BIÊN GIỚI NƯỚC VӐN- LANG.

1. Nύi Ngῦ-lῖnh.

Cuối nᾰm Canh-Thân (1980) tôi lấy mάy bay đi Bắc-kinh, rồi đổi mάy bay ở Bắc-kinh đi Trường-sa. Trường-sa là thὐ phὐ cὐa tỉnh Hồ-nam. Tất cἀ di tίch cὐa tộc Việt như hồ Động-đὶnh, nύi Tam-sσn, nύi Ngῦ-lῖnh, sông Tưσng, Thiên-đài, Tưσng-đài, cάnh đồng Tưσng đều nằm ở tỉnh này.

Tôi đi nghiên cứu với một thư giới thiệu cὐa giới chức cao cấp y học Phάp-Hoa (CMFC). Cό một sự hiểu lầm lớn, vὶ trong thư giới thiệu cάc giới chức y-khoa chỉ xin được giύp đỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xύc với sở du-lịch, ty vᾰn hόa địa phưσng, họ đều tưởng tôi tới Trường-sa để nghiên cứu sự cấu tᾳo hὶnh thể cὺng bệnh tật dân chύng tᾳi đây. Thành ra tôi bị mất khά nhiều thὶ giờ nghe thuyết trὶnh cὐa cάc đồng nghiệp về vấn đề này. Tôi cư ngụ trong khάch sᾳn Trường-sa tân điếm nằm trên đᾳi lộ Nhân-dân. Tôi mua cuốn địa phưσng chί mới nhất cὐa tỉnh, rồi mὸ vào thư viện ty vᾰn hόa, sở bἀo vệ cổ-tίch, đᾳi-học vᾰn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên vᾰn khoa cῦng ίt ai ghе́ mắt tới.

Đầu tiên tôi đi tὶm nύi Ngῦ-lῖnh. Không khό nhọc, tôi thấy ngay đό là nᾰm dᾶy nύi gần như ngᾰn đôi Nam, Bắc Trung-quốc

  • Một là Ðᾳi-dữu lῖnh.
  • Hai là Quế-dưσng, Kỳ-điền lῖnh.
  • Ba là Cửu-chân, Ðô-lung lῖnh.
  • Bốn là Lâm gia, Minh-chữ lῖnh.
  • Nᾰm là Thὐy-an, Việt-thành lῖnh.

Về vị trί:

  • Ngọn Thὐy-an, Việt-thành chᾳy từ tỉnh Phύc-kiến, đến huyện Tuần-mai tỉnh Quἀng-đông.
  • Ngọn Ðᾳi-dữu chᾳy từ huyện Ðᾳi-dữu (Nam-an), tỉnh Giang-Tây đến huyện Nam-hὺng tỉnh Quἀng-đông.
  • Ngọn Cửu-chân, Ðô-lung chᾳy từ Ðᾳo-huyện tỉnh Hồ-nam tới Gia- huyện tỉnh Quἀng-tây.
  • Ngọn Lâm-gia, Minh-chữ chᾳy từ Lâm-huyện tỉnh Hồ-Nam đến Liên-huyện tỉnh Quἀng-Ðông.
  • Ngọn Quế-dưσng từ Toàn-huyện tỉnh Hồ-nam tới huyện Quế-lâm tỉnh Quἀng-tây.

Lập tức tôi thuê xe đi một vὸng thᾰm cάc nύi này. Tôi đi mất mười ngày, trἀi gần 15.000 cây số.

Như vậy là Ngῦ-lῖnh cό thật, nay cό nύi đᾶ đổi tên, cό nύi vẫn giữ tên cῦ. Một câu hὀi đặt ra: Tᾳi sao khi vua Minh phân chia từ Ngῦ-lῖnh về Nam thuộc Lộc-Tục mà lῖnh địa Việt tới hồ Động-đὶnh, mà hồ ở phίa Bắc nύi đến mấy trᾰm cây số. Tôi giἀi đoάn như thế này:

  • Một là vua Minh tế trời ở trên nύi Ngῦ-lῖnh là nσi người gặp tiên rồi chia địa giới. Nhưng bấy giờ dân chưa đông, mà sông Trường-giang rộng mênh mông, sόng lớn quanh nᾰm nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngᾳn mà thôị Cὸn vua Kinh-Dưσng thὶ sinh trưởng ở vὺng này, lᾳi nữa lấy con vua Ðộng-đὶnh (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vὺng đất cὐa nhᾳc gia.
  • Hai là dân chύng Nam-ngᾳn Trường-giang với vὺng Nam Ngῦ-lῖnh vốn cὺng một khί hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng-đὶnh mới thuộc lᾶnh địa Việt.

Kết luận:

« Quἀ cό nύi Ngῦ-lῖnh phân chia Nam, Bắc Trung-quốc hiện thời, vậy cό thể nύi này đύng là nσi phân chia lᾶnh thổ Vᾰn-Lang và Trung-Quốc khi xưa ».

Ánh sάng đᾶ soi vào nghi vấn huyền thoᾳi.

2. Thiên-đài nσi tế cάo cὐa vua Minh.

Tưσng truyền vua Minh lập đàn tế cάo trời đất trên nύi Quế-dưσng, phân chia lᾶnh thổ Lῖnh-Bắc tức Trung-Quốc, Lῖnh-Nam tức Đᾳi-Việt. Đàn tế đό gọi là Thiên-đài. Nhưng dᾶy nύi Quế-dưσng cό mấy chục ngọn nύi nhὀ không biết ngọn Thiên-đài là ngọn nào? Trên bἀn đồ không ghi. Sau tôi hὀi thᾰm dân chύng thὶ họ chỉ cho tôi thấy nύi Thiên-đài nằm gần bên bờ Tưσng-giang. Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du khάch nhὶn bἀn đồ sẽ không thấy địa điểm Sài-gὸn. Nhưng trong dân chύng, họ vẫn nhớ tên cῦ.

Tôi đi thᾰm Thiên-đài.

Thiên-đài là ngọn đồi nhὀ, cao 179m, đỉnh trὸn cό đường thoai thoἀi đi lên. Trên đỉnh cό ngôi chὺa nhὀ, nay để hoang. Tuy chὺa được cấp huyện bἀo tồn nhưng không cό người trụ trὶ. Chὺa xây bằng gᾳch nung, mάi lợp ngόi. Lâu ngày chὺa không được tu bổ, nhiều chỗ ngόi bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gᾳch bị mὸn nhiều chỗ gần như lύn sâu. Duy nền với cổng bằng đά là cὸn nguyên, tuy nhiều chỗ đά bị bong ra. Bên trong cột kѐo bằng gỗ đᾶ nứt nẻ khά nhiều. Những câu đối, chữ cὸn, chữ mất.

Tᾳi thư viện Hồ-nam tôi tὶm được một tài liệu rất cῦ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng mύa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi:

Thiên-đài di sự lục
Trinh-quάn tiến sῖ Chu Minh-Vᾰn soᾳn.

Trinh-quάn là niên hiệu cὐa vua Đường Thάi-Tông, từ nᾰm Đinh-Hợi (627) đến Đinh-Mὺi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến-sῖ nᾰm nào?

Tuy sάch do Chu Minh-Vᾰn soᾳn, nhưng dường như bἀn nguyên thὐy không cὸn. Bἀn này do người sau sao chе́p lᾳi vào đời Thanh Khang-Hy. Nội dung sάch cό ba phần. Phần cὐa Chu Minh-Vᾰn soᾳn, phần chе́p tiếp theo Chu Minh-Vᾰn, cὐa một sư ni tên Đàm-Chi, không rō chе́p vào bao giờ. Phần thứ ba chе́p phάp danh cάc vị trụ trὶ từ khi lập chὺa tới thời Khang-Hy (1662-1772). Chu Minh-Vᾰn là tiến sῖ đời Đường, nên vᾰn cὐa ông thuộc loᾳi vᾰn cổ rất sύc tίch, đầy những điển cố cὺng thành ngữ lấy trong Tứ-thư, Ngῦ-kinh cὺng kinh Phật. Tài liệu Chu Minh-Vᾰn cῦng nhắc lᾳi việc vua Minh đi tuần thύ phưσng Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc-Tục. Vua lập đàn tᾳi nύi này để tế cάo trời đất, vὶ vậy đài cῦng mang tên Thiên-đài nύi cῦng mang tên Thiên-đài sσn, Minh-Vᾰn cὸn kể thêm:

« Cổ thời trên đỉnh nύi chỉ cό Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Đưσng. Đến thời Đông-Hάn, một tướng cὐa vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rύt khὀi Trường-sa. Khi rύt tới Quế-dưσng ông cὺng nghὶn quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tίch xưa. Ông cὺng quân sῖ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vᾳn người mới chiếm được nύi. Về đời Đường để xόa vết tίch Việt-Hoa cὺng Nam Bắc, cάc quan được sai sang đô hộ Lῖnh-Nam mới cho xây chὺa tᾳi đây ».

Tôi biết vua Bà là vua Trưng, cὸn tướng Ðào Hiển-Hiệu là em con chύ cὐa Bắc-bὶnh vưσng Ðào Kỳ. Ngài Ðào Kỳ lῖnh chức Ðᾳi Tư-mᾶ thời vua Trưng. Cὸn tướng Ðào Hiển-Hiệu tước phong quốc công, giữ chức Hổ-nha đᾳi tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa chỉ huy trận rύt lui khὀi Trường-sa, hồ Ðộng-đὶnh, đᾶ sai Hiển-Hiệu đi cἀn hậu, đόng nύt chặn ở Thiên-đài, đợi quân Lῖnh-Nam rύt hết, sẽ rύt sau. Nhưng Hiển-Hiệu cὺng chư quân lên nύi thấy di tίch thời Quốc-tổ, Quốc-mẫu, đᾶ không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hάn chết không biết bao nhiêu mà kể tᾳi đây.

Ngoài cổng chὺa cό hai đôi câu đối:

Thoάt thân Nam thành xưng sư tổ,
Thọ phάp Tây-thiên diễn Phật- kinh.

Hai câu này ngụ у́ ca tụng Thάi-tử Tất-Ðᾳt-Ða đang đêm ra khὀi thành đi tὶm lẽ giἀi thoάt sau đό đắc phάp ở Tây-thiên, đi giἀng kinh.

Tam bἀo linh ứng, phong điều vῦ thuận,
Phật công hiển hάch quốc thάi an dân.

Hai câu này là ngụ у́ nόi: Tam bἀo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, giό hὸa đό là công lao cὐa nhà Phật khiến quốc thάi dân an.

Nσi cό dấu vết Thiên-đài, cὸn đôi câu đối khắc vào đά:

Thiên-đài đᾳi đᾳi phân Nam, Bắc.
Lῖnh địa niên niên dữ Việt-thường.

Nghῖa là: Từ sau vụ vua Minh tế cάo ở đây, đài thành Thiên-đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Nύi Ngῦ-lῖnh nᾰm này qua nᾰm khάc với giὸng giống Việt-thường.

Chỗ miếu thờ cὐa Ðào Hiển-Hiệu cό đôi câu đối:

Nhất kiếm Nam-hồ kinh Vῦ-đế,
Thiên đao Bắc-lῖnh trấn Lưu Long.

Nghῖa là: Một kiếm đάnh trận ở phίa Nam hồ Ðộng-đὶnh làm kinh tâm vua Quang-Vῦ nhà Hάn. Ý chỉ nữ tướng Phật-Nguyệt đάnh bᾳi Mᾶ Viện ở phίa Nam hồ Ðộng-đὶnh. Một nghὶn tay đao do Hiển-Hiệu thὐ ở Bắc nύi Ngῦ-lῖnh trấn Lưu Long.

Kết luận:

« Như vậy việc vua Minh tế cάo trời đất là cό thật. Vὶ cό Thiên-đài nên thời Lῖnh-Nam mới cό trận hồ Động-đὶnh. Hai sự kiện đό chứng tὀ lᾶnh địa thời vua Trưng cῦng như Vᾰn-Lang xưa quἀ tới Ngῦ-lῖnh, hồ Động-đὶnh ».

3. Cάnh đồng Tưσng,

Nhắc lᾳi: Cό hai huyền sử nόi về cάnh đồng Tưσng:

  • Một là Quốc-tổ dẫn nᾰm mưσi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn nᾰm mưσi con lên nύi, mỗi nᾰm tάi hội nhau trên cάnh đồng Tưσng một lần.
  • Hai là Quốc-tổ, Quốc-mẫu truyền cάc hoàng tử đi khắp bốn phưσng quy dân lập ấp, mỗi nᾰm hội tᾳi cάnh đồng Tưσng một lần.

Tôi đoάn:

  • Cἀ hai vị Quốc-tổ Kinh-Dưσng, Lᾳc-Long sau khi kết hôn đều đem Quốc-mẫu lên nύi Tam-sσn trên hồ Ðộng-đὶnh hưởng thanh phύc ba nᾰm. Vậy thὶ cάnh đồng Tưσng sẽ gần đâu đό trên hồ Ðộng-đὶnh.
  • Phίa Nam hồ Ðộng-đὶnh là sông Tưσng-giang, chἀy theo hướng Nam-Bắc dài 811 km, lưu vực tới 92500km2, chẻ đôi tỉnh Hồ-nam với Quἀng-tây. Vậy cάnh đồng Tưσng sẽ nằm trong lưu vực Tưσng giang.

Tôi thuê thuyền đi từ cἀng Dưσng-lâm nσi xuất phάt ra Tưσng-giang là hồ Động-đὶnh, xuống Nam, qua Tưσng-âm, tôi dừng lᾳi, nghiên cứu địa thế cὺng thᾰm chὺa Bᾳch-mᾶ. Đây là địa phận quận Ích-dưσng.Vô tὶnh tôi tὶm ra một nhάnh sông Âu-giang và một cάi hồ rất lớn, vào mὺa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào mὺa nước cᾳn chỉ cὸn 2-3 mẫu mà thôi. Suốt lộ trὶnh từ hồ Động-đὶnh trở xuống, trên cửa sông Tưσng cῦng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nσi. Đặc biệt trên Âu-giang, Âu-hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu-giang, tôi trở lᾳi sông Tưσng, xuôi tới Trường-sa thὐ phὐ cὐa Hồ-nam rồi tới cάc quận lỵ Tưσng-đàm, Chu-châu, Hành-dưσng, Quế-dưσng.

Không khό nhọc tôi tὶm ra:

  • « Cάnh đồng Tưσng, tức là vὺng trῦng phίa Tây-ngᾳn, giới hᾳn phίa Bắc là hồ Động-đὶnh, Nguyên-giang. Phίa Nam là Linh-lᾰng, Hành-giang. Phίa Tây là vὺng Chiêu-dưσng, Lᾶnh-thὐy. Nhưng nay cάnh đồng Tưσng chỉ cὸn khu vực tứ giάc: Tưσng-giang, Nguyên-giang, Liên-thὐy, Thᾳch-khê-thὐy ».

Sau khi tὶm ra cάnh đồng Tưσng, Thiên-đài, cὺng những đàn chim âu, tôi giἀi đoάn như thế này:

  • « Quốc-tổ Lᾳc Long kết hôn với công chύa con Đế-Lai, hẳn công chύa cῦng cό tên. Nhưng vὶ lâu ngày người ta không nhớ được tên ngài, nên đᾶ lấy con chim Âu, rất hiền hὸa, xinh đẹp ở vὺng hồ Động-đὶnh, Tưσng-giang mà gọi là Âu-Cσ (Cσ là vợ vua). Vὶ người ta gọi Quốc-mẫu là Âu-Cσ, thὶ họ nghῖ ngay đến Quốc-mẫu sinh đẻ. Khi chim Âu đẻ thὶ phἀi đẻ ra trứng. Cὸn con số một trᾰm, là con số triết học Việt-Hoa dὺng để chỉ tất cἀ. Như trᾰm bệnh là tất cἀ cάc bệnh, trᾰm họ là toàn dân. Trᾰm con cό nghῖa là tất cἀ dân ttrong nước đều là con Quốc-mẫu »

Kết luận:

« Đᾶ cό cάnh đồng Tưσng, thὶ chuyện Quốc-tổ, Quốc-mẫu hẹn mỗi nᾰm hội tᾳi đây một lần là cό. Khi sự kiện cό nύi Ngῦ-lῖnh, cό Thiên-đài. Nay chứng cớ được kiểm điểm, thὶ lᾶnh địa cὐa tộc Việt xưa quἀ tới hồ Động-đὶnh ».

4. Hồ Ðộng-đὶnh và Tam-sσn

Hồ Động-đὶnh nằm ở phίa Nam sông Trường-giang. Hồ được coi như nσi phάt tίch ra tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường-giang được gọi là tỉnh Hồ-bắc, tức đất Kinh-châu thuở xưa. Địa khu phίa Nam sông Trường-giang được gọi là tỉnh Hồ-nam. Hồ Động-đὶnh nằm trong tỉnh Hồ-nam. Hồ thông với sông Trường-giang bằng hai con sông. Cho nên người ta coi hồ như nσi chứa nước sông Trường-giang, rồi đổ vào Tưσng-giang. Trên Bắc-ngᾳn hồ cό nύi Tam-sσn. Tôi đᾶ lên đây ba lần. Tưσng truyền cάc cάc nữ tướng thời vua Trưng như Trưng-Nhị, Trần Nᾰng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan đάnh chiếm Trường-sa vào ngày đầu nᾰm, vὶ vậy tôi cῦng tới đây vào dịp này để thấy rō phong cἀnh, rồi tἀ trận đάnh trong bộ Cẩm-khê-di-hận (6). Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mὺa cᾳn là 38,5 mе́t, về mὺa nước lớn là 39,20 mе́t. Tra trong chίnh sử thὶ quἀ hồ Động-đὶnh thuộc lᾶnh địa Vᾰn-Lang. Như trên đᾶ nόi, triều đᾳi Thần-Nông Bắc đến đời vua Du-Vōng thὶ mất vào nᾰm 2696 trước Tây-lịch, chuyển sang thời đᾳi Hoàng-Đế. Sử gia Trung-Quốc cho rằng Hoàng-Đế là tổ lập quốc. Nόi theo triết học Tây phưσng thὶ vua Du-Vōng gốc từ Thần-Nông thuộc nông nghiệp cư trύ trong vὺng đồng bằng ở phưσng Nam lấy hὀa làm biểu hiệu nên cὸn gọi là Viêm-đế. Cὸn vua Hoàng-đế gốc ở dân du mục, sᾰn bắn, từ phưσng Bắc xuống. Dân du mục nghѐo, nhưng giὀi chinh chiến. Dân nông nghiệp giàu nhưng không giὀi vō bị nên bị thua. Bộ Sử-kу́ cὐa Tư-mᾶ-Thiên, quyển 1, Ngῦ-đế bἀn kỷ chе́p rằng:

«…Thời vua Hoàng-đế, họ Thần-Nông (Bắc) đᾶ suy, chư hầu chе́m giết lẫn nhau, khiến trᾰm họ khốn khổ vô cὺng. Triều Thần-Nông không đὐ khἀ nᾰng chinh phục. Vua Hiên-Viên Hoàng-Đế thao luyện can qua, chinh phục những chư hầu hung άc. Vὶ vậy cάc nσi theo về rất đông. Trong cάc chư hầu thὶ Suy-Vưu mᾳnh nhất.

Vua Du-Vōng triều Thần-Nông định đem quân xâm lᾰng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng-Đế. Vua Hoàng-Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mᾶ, vỗ về trᾰm họ, giύp đỡ bốn phưσng, luyện tập thύ dữ rồi đᾳi chiến với vua Du-Vōng ở Bἀn-tuyền, thành công.

Suy-Vưu làm lọan, không tuân đế hiệu. Hoàng-Đế triệu tập chư hầu cὺng Suy-Vưu đᾳi chiến ở Trάc-lộc, bắt sống Suy Vưu. Chư hầu tôn ngài làm Thiên-tử thay họ Thần-Nông. Trong thiên hᾳ nσi nào không thuận vua Hoàng-Đế đem quân chinh phục.

Lᾶnh thổ cὐa Hoàng-Đế, Đông tới biển, vὺng nύi Hoàn-sσn, Đᾳi-tông. Phίa Tây tới nύi Không-động, Kê-đầu. Nam tới Giang, Hὺng, Tưσng… »(7)

Sông Giang đây tức là sông Trường-giang, Hὺng đây tức là Hὺng-nhῖ-sσn, Tưσng là Tưσng-sσn. Bὺi Nhân đời Tống lập giἀi Sử-kу́ nόi rằng Tưσng-sσn thuộc Trường-sa.

Kết luận:

« Từ chίnh sử, huyền-sử đều cho biết lῖnh địa Vᾰn-lang tới hồ Động-đὶnh. Khi vua Hoàng-Đế dứt triều Thần-Nông Bắc, thὶ triều Thần-Nông Nam tức họ Hồng-bàng cὸn kе́o dài đến 2439 nᾰm nữa. Lᾶnh thổ Trung-quốc thời Hoàng-Đế cῦng chỉ tới sông Trường-giang. Phίa Nam bao gồm Trường-sa, hồ Động-đὶnh vẫn thuộc Vᾰn-lang.

Khi chίnh sử ghi chе́p như vậy thὶ việc Quốc-tổ, Quốc-mẫu với hồ Ðộng-đὶnh, nύi Tam-sσn không cὸn là huyền thoᾳi nữa. Vậy chuyện cάc ngài lên nύi hưởng thanh phύc nên ghi vào chίnh sử.

5. Biên giới lῖnh địa tộc Việt thế kỷ 2 trước Tây lịch.

Sử Hάn là bộ Sử-kу́ cὐa Tư-mᾶ Thiên. Sử Việt như bộ Ðᾳi-Việt sử kу́ toàn thưKhâm-định Việt-sử thông giάm cưσng mục, đều ghi rằng vào thế kỷ thứ nhὶ trước Tây-lịch, thời Triệu Ðà cai trị lῖnh địa tộc Việt, biên giới vẫn cὸn ở vὺng Trường-sa, hồ Ðộng-đὶnh.

Sử Hάn, sử Việt đều chе́p chi tiết giống nhau về vụ Triệu Ðà lập quốc ở lᾶnh thổ Lῖnh-Nam. Tần Thὐy- Hoàng sai Ðồ Thư mang quân sang đάnh Âu-lᾳc, chiếm được vὺng đất phίa Bắc, lập làm ba quận:

  • Nam-hἀi (Quἀng-đông và một phần Phύc-kiến),
  • Quế-lâm (Quἀng-tây, Hồ-nam và một phần Quί châu),
  • Tượng-quận (Vân-nam và một phần Quу́-châu).

Vua An-Dưσng sai Trung-tίn hầu Vῦ Bἀo-Trung và Cao-cἀnh hầu Cao Nỗ đem quân chống, giết được Ðồ Thư và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua An-Dưσng cῦng không chiếm lᾳi vὺng đất đᾶ mất.

Sau nhân thời thế loᾳn lᾳc, một viên quan Tần là Triệu Đà trấn vὺng Nam-hἀi, đem quân chiếm vὺng Tượng-quận, Quế-lâm, rồi dὺng giάn điệp trong vụ άn Mỵ-Châu, Trọng-Thὐy mà chiếm được Âu-lᾳc lập ra nước Nam-Việt. Lᾶnh thổ nước Nam-Việt bao gồm những vὺng nào? Không một sử gia nào chе́p rō ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cῦng cό thể biết rằng lᾶnh địa Nam-Việt là lᾶnh địa thời Vᾰn-lang.

Trong khi Triệu Đà lập nghiệp ở phưσng Nam, thὶ cuộc nội chiến ở phưσng Bắc chấm dứt. Hᾳng Vῦ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lưu Bang thắng Hᾳng Vῦ lập ra nhà Hάn. Lưu Bang lên ngôi vua sai Lục Giἀ sang phong chức tước cho Triệu Đà. Đύng ra Triệu Đà cῦng không chịu thần phục nhà Hάn, nhưng họ hàng thân thuộc, mồ mἀ cὐa Triệu Đà đều ở vὺng Chân-định. Đà sợ nhà Hάn tru diệt họ hàng, cὺng đào mồ cuốc mἀ tổ tiên lên mà phἀi lὺi bước.

Nᾰm 183 trước Tây-lịch, Cao-tổ nhà hάn là Lưu Bang chết, Lᾶ-hậu chuyên quuyền cấm bάn hᾳt giống, thύ vật cάi, kim khί sang Nam-Việt. Triệu Đà không thần phục nhà Hάn, rồi đem quân đάnh Trường-sa, Nam-quận.

Kết luận:

« Trường-sa là quận biên cưσng cὐa Hάn. Vậy ίt nhất lᾶnh thổ Nam-Việt, Bắc tới Trường-sa. Nam quận là quận ở phίa Bắc sông Trường-giang. Mà Nam-quận là quận biên cưσng Hάn, thὶ biên giới Nam-Việt ίt nhất tới Nam-ngᾳn sông Trường-giang ».

6. Lῖnh địa thời vua Trưng

6.1. Vua Bà cὐa Trung-quốc là vua Trưng,

Trong những nᾰm 1978-1979 khi dẫn phάi đoàn Ủy-ban y học Phάp-Hoa (CMFC) đi trao đổi tᾳi cάc tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quἀng-đông, Quἀng-tây, Vân-nam, Quу́-châu và Tứ-xuyên… tôi thấy khắp cάc tỉnh này, không ίt thὶ nhiều đều cό đᾳo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tὶm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cάn bộ Trung-quốc ở địa phưσng, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cῦng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp nᾰm tỉnh, tôi ghi chύ được hσn trᾰm đền, miếu thờ những tướng lῖnh thời vua Bà.

Bấy giờ tôi lᾳi tὶm thấy ở Hồ-nam, nhiều di tίch về đᾳo thờ vua Bà hσn. Tᾳi thư viện bἀo tồn di tίch cổ , tôi tὶm thấy một cuốn phổ rất cổ, soᾳn vào thế kỷ thứ tάm chе́p sự tίch nữ vưσng Phật Nguyệt như sau:

« Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-đế ngự trên điện Linh-tiêu, cό hai công chύa đứng hầụVὶ sσ у́ hai công chύa đάnh vỡ chе́n ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-đế nổi giận đầy hai công chύa xuống hᾳ giới. Hai công chύa đi đầu thai được mấy ngày thὶ Tiên-lᾳi giữ sổ tiên-giới tâu rằng cό 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chύa. Ngọc-hoàng Thượng-đế sợ công chύa làm loᾳn ở hᾳ giới, ngài mới truyền Thanh-y đồng tử đầu thai để theo dẹp loᾳn. Thanh-y đồng tử sợ địch không lᾳi hai công chύa, cό у́ ngần ngừ không dάm đi. Ngọc-hoàng Thượng-đế truyền Nhị thập bάt tύ đầu thai theo.

Thanh-y đồng tử sau là vua Quang Vῦ nhà Hάn. Nhị thập bάt tύ đầu thai thành hai mưσi tάm vị vᾰn thần vō tướng đời Ðông-Hάn.

Cὸn hai công chύa đầu thai xuống quận Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lύc Trưng Trắc sinh ra cό hưσng thσm đầy nhà, thông minh quάn chύng, cό sức mᾳnh bᾳt sσn cử đỉnh, được gἀ cho Ðặng Thi-Sάch.

Thi-Sάch làm phἀn, bị Thάi-thύ Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cὺng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghῖa, được 162 anh hὺng cάc nσi nổi lên giύp sức, nên chỉ trong một thάng chiếm hết sάu quận cὐa Trung-quốc ở phίa Nam sông Trường-giang: Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hἀị Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà.

Quang-Vῦ nhà Hάn sai Phục-ba tướng quân Tân-tức hầu Mᾶ Viện. Long-nhưσng tướng quân Thận-hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng-đὶnh. Mᾶ Viện, Lưu Long bị bᾳi. Vua Quang Vῦ truyền Nhị thập bάt tύ nghênh chiến, cῦng bị bᾳi. Nữ vưσng Phật Nguyệt phе́p tắc vô cὺng, một tay nhổ nύi Nga-mi, một tay nhổ nύi Thάi-sσn, đάnh quân Hάn chết, xάc lấp sông Trường-giang, hồ Ðộng-đὶnh, oάn khί bốc lên tới trời.

Ngọc-hoàng Thượng-đế sai thiên-binh, thiên-tướng trợ chiến cῦng bị bᾳị Ngài phἀi sai thần Du Liệt sang Tây phưσng cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tάm vị Kim-cưσng, ba ngàn La-hάn trợ chiến cῦng bị bᾳị Cuối cὺng ngài truyền Quάn Thế Âm bồ tάt tham chiến. Nữ vưσng Phật-Nguyệt với Quan-Âm đấu phе́p ba ngày ba đêm, bất phân thắng bᾳi. Sau Quάn Thế Âm thuyết phάp nữ vưσng Phật Nguyệt giάc ngộ, bὀ đi tu.

Ta nhân ngày lành, viết lᾳi chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:

Tίch trὺ Ðộng-đὶnh uy trấn Hάn,
Phưσng lưu thanh sử lực phὺ Trưng

(Một trận Ðộng-đὶnh uy trấn Hάn
Tên cὸn trong sử sức phὺ Trưng).

Bὀ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vưσng Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đᾳo thờ vua Bà tᾳi nᾰm tỉnh Nam Trung-quốc là di tίch cὐa lὸng tôn kίnh thờ anh hὺng dân tộc cὐa tộc Việt trên lᾶnh thổ cῦ cὐa người Việt cὸn sόt lᾳi. Vua Bà mà người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giάo, chίnh là vua Trưng.

Kết luận:

« Khi đᾶ cό nữ tướng Phật Nguyệt đάnh trận Trường-sa, hồ Động-đὶnh. Mà cό trận hồ Động-đὶnh thὶ lᾶnh thổ thời Lῖnh-Nam, phίa Bắc quἀ tới phίa Nam sông Trường-giang ».

6.2. Quἀ cό trận Trường-sa, hồ Ðộng-đὶnh nᾰm 39 sau Tây-lịch,

Huyền sử (những cuốn phổ) nόi rằng: Khi bà Trưng Nhị cὺng cάc tướng Trần Nᾰng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lᾳi Thế-Cường đάnh Trường-sa vào đầu nᾰm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận đάnh này, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, được mai tάng ở ghềnh sông Thẩm-giang (8). Thẩm-giang chίnh là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động-đὶnh. Một cuốn phổ khάc, chе́p vào thời Nguyễn nόi rằng: Cάc sứ thần triều Lу́, Trần, Lê khi qua đây đều cό sắm lễ vật đến cύng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Nᾰm 1980 tôi đến đây tὶm hiểu. Không khό nhọc tôi tὶm ra trong cuốn địa phưσng chί, do sở du lịch Trường-sa cấp, một đoᾳn chе́p:

«  Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan ở đầu sông Tưσng. Hồi cάch mᾳng vᾰn hόa bị phά hὐy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh đὀ phά luôn cἀ bia đά ».

Tôi tὶm tới nσi, thὶ miếu chỉ cὸn lᾳi cάi nền bằng đά ong, mộ vẫn cὸn.(9)

Kết luận:

« Thời Lῖnh-Nam quἀ cό việc Trưng Nhị, Trần Nᾰng, Hồ Đề, Trần Thiếu-Lan, Lᾳi Thế-Cường đάnh trận Trường-sa. Trong trận, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tuẫn quốc. Khi cό trận đάnh này, thὶ lᾶnh địa thời Lῖnh-Nam quἀ gồm cό hồ Trường-sa, hồ Động-đὶnh ».

6.3. Quἀ cό trận Bồ-lᾰng, nᾰm 42 sau Tây-lịch,

Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang được vua Trưng trao cho trấn tᾳi Tượng-quận (Vân-nam). Nhưng vὶ quân ίt, thế cô, ba ông không chống lᾳi với quân Hάn, do Vưσng Bά chỉ huy. Ba ông đᾶ tự tận. Hiện tᾳi đền thờ cὐa ba ông cό đôi câu đối:

Tượng-quận dưσng uy nhiêu tướng lược,
Bồ-lᾰng tuẫn tiết tận thần trung.

Nghῖa là:
Trận Tượng-quận dưσng oai, rō tài tướng giὀi.
Bến Bồ-lᾰng tuẫn tiết, tὀ ra thần trung.

Hầu hết cάc sử gia đều cho rằng: Bồ-lᾰng tức là bến Bồ-đề, ngoᾳi ô Thᾰng-long. Vἀ lᾶnh thổ Việt-Nam hồi đό đâu cό rộng vậy?

Tôi không tin lу́ luận này. Tôi quyết cό trận Tượng-quận. Vὶ sao? Vὶ ba ngài chiến đấu tᾳi Tượng-quận, khi Tượng-quận thất thὐ, tuẫn tiết thὶ tuẫn tiết tᾳi chỗ, cό đâu rύt từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trἀi mấy nghὶn cây số, rồi mới tự tử? Vἀ cάi tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào nᾰm 1427-1428 khi vua Lê Thάi-tổ vây Đông-đô (Thᾰng-long).

Vὶ vậy, trong dịp hѐ nᾰm 1982, tôi cầm đầu phάi đoàn CMFC sang Vân-Nam, Trung-quốc, để nghiên cứu về một giống trà cό khἀ nᾰng trị tuyệt chứng Cholestе́rol, Triglycе́ride… Lợi dụng dịp nhầy, tôi quyết tὶm cho ra sự thực.

Ghi chύ cὐa Tᾰng Hồng Minh:

Phάi đoàn gồm:
Trưởng-đoàn: Bάc-sῖ Trần Ðᾳi-Sў,
Thành viên: Bάc-sῖ Pascale Vareilla (Biologie), Claude Tarentino (Anatomie), Antonio Fernandes (Cardiologie.) Cάc dược sῖ: Valе́rie Cordinante, Jean Marie Limager. Kў sư canh nông Antoine Reynault, và một diễn viên điện ἀnh Hưσng-cἀng.

Trong chưσng trὶnh phάi đoàn chỉ công tάc tᾳi cάc vὺng thuộc Vân-Nam như: Chiêu-dưσng, Đông-xuyên, Khâu-bắc, Nguyên-dưσng, Bἀo-sσn, Điền-Bắc, Côn-minh; rồi dὺng phi cσ từ Côn-minh trở về Paris. Nhưng khi tới Đông-xuyên, giάo sư Trần Đᾳi-Sў tὶm ra dấu vết cuộc chiến giữa quân vua Trưng và quân Hάn, mà không rō ràng cho lắm. Ông dẫn phάi đoàn trở lᾳi Côn-minh, sau khi thἀo luận với giάo-sư sử học Đoàn Dưσng cὐa đᾳi học Vᾰn-sử, được giάo sư Đoàn cho biết: “Trong truyền thuyết dân gian nόi rằng hồi đầu thế kỷ thứ nhất cό trận đάnh giữa quân vua Bà với quân Hάn tᾳi Bồ-lᾰng. Nay Bồ-lᾰng nằm trên lᾶnh thổ Tứ-xuyên, chỗ ngᾶ ba sông Trường-giang và Ô-giang.” Thế là giάo sư Trần Đᾳi-Sў đề nghị phάi đoàn dὺng đường thὐy về Hồ-Nam, sau đό đάp phi cσ từ Hồ-Nam ra Hưσng-cἀng, rồi đi Paris.

Trên đường từ Độ-khẩu (Vân-Nam) đi Hồ-Nam, sẽ qua… Bồ-lᾰng. Được đi chσi, dῖ nhiên phάi đoàn mừng không sao tἀ xiết!!!. Dῖ nhiên tύi tiền cὐa CMFC vσi đi 53.074 dollars nữa để chi cho phάi đoàn.

Theo tôi, với số tiền ấy, mà kết quἀ tὶm được Tây-biên cὐa Lῖnh-Nam, cῦng rẻ chάn. Thế nhưng khi trở về Paris, vụ này đồn đᾳi ra ngoài, một Bάc-sῖ Việt-Nam tên Trần L. (từng là bộ trưởng Y-tế hồi VNCH), viết thư cho ông bộ trưởng Vᾰn-hόa Phάp, tố cάo Giάo-sư Trần Ðᾳi-Sў lợi dụng chức vụ trưởng đoàn công tάc y khoa, để tὶm di tίch cổ sử viết sάch. Ông Bộ-trưởng trἀ lời đᾳi у́:  “Bάc-sῖ Trần Ðᾳi-Sў không dὺng một xu (centimes) nào cὐa chίnh phὐ Phάp, nên bộ không cό thẩm quyền.”

Cuối thư ông Bộ-trưởng hᾳ một câu: “Vί dὺ Bάc-sῖ Trần Ðᾳi-Sў cό lợi dụng chức vụ, cό dὺng tiền cὐa bộ Vᾰn-hόa, mà tὶm tư liệu làm giầu cho thư viện Phάp thὶ là điều đάng khuyến khίch. Hσn nữa tài liệu đό làm lợi cho Việt-Nam, Ông (Trần L.) phἀi vui mừng mới phἀi chứ.”

Tᾰng Hồng Minh tôi là người Việt gốc Hoa, tôi xin tiết lộ một chi tiết này, để cάc vị độc giἀ Việt-Nam suy nghῖ!!

Thế là phάi đoàn dὺng tầu đi từ Độ-khẩu theo Kim-sa-giang (Trường-giang) qua Nam-khê, Giang-tân, Trὺng-khάnh, tới ngᾶ ba sông Ô-giang, Trường-giang thὶ gặp bến Bồ-lᾰng. Tᾳi đây tôi được sở du-lịch chỉ cho xem miếu thờ ba vị thần, tướng cὐa vua Bà. Nhưng họ không biết tên vua Bà cὺng ba vị tướng. Cἀ vὺng này cό đᾳo thờ vua Bà (lên đồng). Hồi trước 1949 rất thịnh. Sau cάch mᾳng Vᾰn-hόa (1965-1967) miếu được cấp cho dân chύng ở. Hὀi hướng dẫn viên du lịch về vua Bà, họ chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hάn. Tôi đến thᾰm miếu. Miếu khά lớn, chὐ hộ ở trong miếu trước đây là cάn bộ Vᾰn-hόa Bồ-lᾰng.

Trước miếu cό nhiều câu đối, nay chỉ cὸn lᾳi cό ba. Ông chὐ hộ khoe rằng để bἀo tồn di tίch vᾰn hόa, hằng nᾰm ông phἀi mua sσn tô chữ cho khὀi mất:

Khẳng khάi, phὺ Trưng, thời bất lợi,
Ðoᾳn trường, trục Ðịnh, tiết… can vân.

Nghῖa là:
Khẳng khάi phὺ vua Trưng, ngặt thời cὐa Ngài không lâu.
Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lὸng thay, phἀi tự tận, khί tiết ngύt từng mây.

Tôi xin vào trong miếu xem, thὶ bệ thờ nay là nσi vợ chồng ông nằm ngὐ. Hai bên bệ cῦng cό đôi câu đối.

Giang-thượng tam anh phὺ nữ chύa,
Bồ-lᾰng bάch tộc khốc thần trung.

Nghῖa là:
Trên sông Trường-giang, ba vị anh hὺng phὸ tά nữ chύa.
Tᾳi bến Bồ-lᾰng, trᾰm họ khόc cho cάc vị thần trung thành.

Ông chὐ hộ thὶ cho rằng bάch tộc là toàn dân Trung-quốc. Tôi giἀng cho ông nghe về sự tίch trᾰm con cὐa Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vὶ vậy chữ bάch tộc đây để chỉ người Việt. Ông thίch lắm. Ông chỉ vào khoἀng trống cὐa hai cάi cột thuật rằng trước kia cῦng cό đôi câu đối, nhưng bị vᾳc mất. Ông đề nghị tôi làm một đôi khάc thay thế. Tôi nhờ hướng dẫn viên du lịch mua giὺm hai hộp sσn. Một hộp sσn đὀ loᾳi lάng và một hộp loᾳi thiếp vàng. Ông với tôi sσn cột mầu đὀ. Chiều hôm đό sσn đὀ khô, tôi trở lᾳi viết bằng sσn thiếp vàng đôi câu đối cό sẵn tᾳi đền thờ ba ngài ở thôn Ngọc-động, huyện Gia-lâm, Hà-nội:

Tάi Bắc tức chinh trần, công cao trục Định,
Bồ-lᾰng dưσng nộ lᾶng, nghῖa trọng phὺ Trưng.

Nghῖa là:
Ải Bắc yêu giό bụi can qua, công cao đuổi Tô Định.
Bồ-lᾰng nổi bao đào, nghῖa nặng phὺ vua Trưng.

Kết luận:

Như vậy thὶ quἀ cό trận Tượng-quận. Mà cό trận Tượng-quận thὶ biên giới Lῖnh-Nam hồi ấy giάp Ba-Thục, tức Tứ-xuyên ngày nay.

7. Nghiên cứu những khai quật

Vào những nᾰm 1964-1965, giάo sư luật khoa Vῦ Vᾰn Mẫu đang sọan thἀo tài liệu về cổ luật Việt-Nam. Người giύp giάo sư Mẫu đọc sάch cổ là Hoàng-triều tiến-sῖ Nguyễn Sў-Giάc. Cụ Giάc tuy thông kinh điển, thư tịch cổ, nhưng lᾳi không biết ngoᾳi ngữ, cὺng phưσng phάp phân tίch, tổng hợp Tây-phưσng. Cụ giới thiệu tôi với giάo sư Mẫu. Tôi đᾶ giύp giάo sư Mẫu đọc, soᾳn cάc thư tịch liên quan đến cổ luật. Chίnh vὶ vậy tập tài liệu « Cổ-luật Việt Nam và tư phάp sử » cό chưσng mở đầu «Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam » (10). Bấy giờ tôi cὸn trẻ, không đὐ tài liệu khai quật cὐa Trung-Quốc, cὐa Bắc Việt-Nam, và bấy giờ những lу́ thuyết về ADN chưa cό hệ thống, nên cό nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều tiến-sῖ Nguyễn Sў-Giάc, anh linh giάo sư Vῦ Vᾰn-Mẫu. Tôi xin lỗi cάc vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi cάc sinh-viên về những sai lầm đό.

Triều đᾳi  Hồng-Bàng thành lập từ nᾰm 2879 nᾰm trước Tây-lịch, tưσng đưσng với thời đᾳi đồ đά mài (le nе́olithique), tức cuối thời đᾳi vᾰn-hόa Bắc-sσn (11). Trong những khai quật về thời đᾳi này tᾳi Bắc-Việt, Đông Vân-Nam, Quἀng-Đông, Hồ-Nam, người ta đều tὶm được những chiếc rὶu thiết diện hὶnh trάi soan, trong khi tᾳi Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tὶm được lọai rὶu thiết diện hὶnh chữ nhật, chứng tὀ vào thời đό cό một thứ vᾰn hόa tộc Việt giống nhau.

Sang thời đᾳi vᾰn-hόa Đông-sσn (12) hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đᾶ tὶm được trống đồng Đông-sσn trên bờ sông Mᾶ (Thanh hόa). Sự thật trống đồng đᾶ tὶm thấy ở toàn bộ cάc tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quу́-châu,Vân-nam, Quἀng-đông, Quἀng-tây, Nam-dưσng, Lào (13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Nam-dưσng, Lào rất ίt. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam, Lưỡng-quἀng. Phân tίch thành phần gần như giống nhau. 

  • Ðồng 53%,
  • Thίếc 15-16%,
  • Chὶ 17-19%,
  • Sắt 4%.
  • Một ίt vàng bᾳc.

Khἀo về y-phục, mồ mἀ, rᾰng xưσng trong cάc ngôi mộ, qua cάc thời đᾳi cho đến hết thế kỷ thứ nhất sau Tây-lịch, tôi thấy trong cάc vὺng Nam Trường giang cho đến Trung Bắc-Việt, cὺng Lào, Thάi đều giống nhau. Bây giờ dὺng hệ thống ADN kiểm những bộ xưσng, kiểm mάu người sống, chύng tôi đᾶ biện biệt được sự khάc biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.

Kết luận,

« Tộc Việt quἀ cό lῖnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đὶnh, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nόi ».

8. Tổng kết,

Sάu vấn đề tôi nêu ra ở trên, rồi đi tὶm, tất cἀ đều cὸn đầy đὐ di tίch.

Như vậy: Biên giới cổ cὐa nước Việt-Nam, với cάc triều đᾳi Hồng-bàng, Âu-lᾳc, Lῖnh-Nam phίa Bắc quἀ tới hồ Ðộng-đὶnh, phίa Tây giάp Tứ-xuyên.

V. KẾT LUẬN:

Thưa Quу́-vị

Quу́-vị đᾶ cὺng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoᾳi, huyền sử, cổ sử, cὺng triết học, cho tới tin học, y học để tὶm về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ cὐa tộc Việt.

Trong chίnh sử Trung-quốc, Việt-Nam đều ghi rō ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cάi nguồn gốc đό cᾰn cứ vào cổ thư cὐa người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lᾳc. Bởi cổ thư cho rằng người Trung-hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do những người Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chύng ta biết rằng chίnh những người ở châu Phi đến Đông Nam-ά trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tᾳi Hoa-Nam giống người này lᾳi hợp với giống người từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào Trung-ά, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hάn.

Nhưng ngược lᾳi, do cổ thư Trung, Việt, hay do ADN, chύng ta cῦng biết rất rō biên cưσng nước Việt thời mới lập quốc.

Hồi thσ ấu, tôi sống bên cᾳnh những nhà Nho, chỉ đọc sάch chữ Hάn cὐa người Hoa, người Việt viết. Mà những sάch này đều chе́p rằng tộc Việt gồm cό trᾰm họ khάc nhau, mang tên Bάch-Việt. Những tên Âu-Việt, Lᾳc-Việt, Đông-Việt, Nam-Việt, Việt-Thường đều thuộc Bάch-Việt cἀ. Cάi tên trᾰm họ hay trᾰm Việt (Bάch-Việt) phάt xuất từ huyền thọai vua Lᾳc-Long sinh ra trᾰm con. Trᾰm cό nghῖa là toàn thể, tất cἀ, chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14).

Cάc vị cổ học, học cổ sử, rồi coi lῖnh địa tộc Việt bao gồm phίa Nam sông Trường-giang lấy mốc là hồ Động-đὶnh với sông Tưσng, nύi Ngῦ-lῖnh là đưσng nhiên. Chίnh hồi nhὀ, khi học tᾳi trường Phάp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ được học vài trang ngắn ngὐi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi đό gia đὶnh cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục nghὶn trang cὐa Hoa, cὐa Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Phάp, Anh vᾰn số trang gấp nᾰm sάu). Chίnh tôi cῦng nhὶn nguồn gốc tộc Việt, lῖnh thổ tộc Việt tưσng tự như cάc nhà cổ học. Nay tôi mới chứng minh được.

Phἀi chờ cho đến khi tôi ra trường (1964). Bấy giờ giάo sư Vῦ Vᾰn-Mẫu thᾳc-sῖ luật khoa nhờ Hoàng triều tiến-sў Nguyễn Sў-Giάc sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giάc học theo lối cổ, không biết những phưσng phάp quy nᾳp, tổng hợp nên giới thiệu giάo sư Mẫu với tôi. Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già, một trẻ đᾶ cό hai cάi nhὶn khάc biệt. Giάo sư Mẫu trên 50 tuổi mà lᾳi cό một cάi nhὶn rất trẻ, tôi mới cό 25 tuổi lᾳi cό cάi nhὶn rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sσ khởi, bấy giờ tôi mới biết cό rất nhiều truyền thuyết nόi về nguồn gốc dân tộc Việt, mà cάc tάc giἀ thiếu cάi học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. Vὶ vậy tôi đᾶ sưu tầm tất cἀ những gὶ trong thư tịch cổ, giύp giάo sư Mẫu đem viết thành tài liệu giἀng dᾳy. Nhưng sự sưu tầm đό không đầy đὐ, vὶ chỉ cᾰn cứ trên thư tịch cổ. Nay tôi mới biết cό quά nhiều sai lầm, tôi xin lỗi cάc đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quу́-vị.

Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-gὸn, thuộc Việt-Nam cộng-hὸa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang Trung-Quốc, cῦng như về Bắc tὶm kiếm thêm tài liệu. Phἀi chờ đến nᾰm 1976 làm việc cho CMFC, hàng nᾰm dẫn cάc đồng nghiệp sang Trung-Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới cό dịp tὶm kiếm lᾳi di tίch xưa trong thư viện, trong bἀo tàng viện, trên bia đά cὺng miếu mᾳo, đền chὺa và nhất là đến tᾳi chỗ nghiên cứụ Gần đây nhờ cάc đồng nghiệp dὺng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt được nguồn gốc tộc Việt, biên cưσng thời lập quốc cὐa tộc Việt.

Hôm nay tôi xin kết luận với cάc bᾳn rằng:

  • Người Trung-hoa không phἀi là con trời như những vᾰn gia cổ cὐa họ viết, dὺ ngày nay họ cὸn nghῖ như vậy.
  • Họ cῦng không tự sinh ra, rồi tἀn đi tứ phưσng.
  • Không hề cό việc người Trung-hoa trốn lᾳnh hay vὶ lу́ do chίnh trị di cư xuống vὺng đất hoang, tᾳo thành nước Việt. Trong lịch sử quἀ cό một số người Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chίnh trị. Như ngày nay người Việt di cư đi sống khắp thế giới.
  • Lᾳi càng không cό việc người Việt gốc từ dὸng giống Mᾶ-lai như một vài người ngốc ngếch đưa ra.
  • Theo sự nghiên cứu bằng hệ thống ADN, từ cổ, giống người Trung-hoa, do giống người từ Ðông Nam-ά di lên. Những người Ðông Nam-ά lᾳi đến từ châu Phi qua ngἀ Nam-ά vào thời gian hσn 20.000 nᾰm trước.
  • Người châu Phi đến Bắc Trung-hoa do ngἀ Âu-châu rồi vào Trung-ά, khoἀng 15.000 nᾰm. Rồi hai giống người này tᾳo thành tộc Hoa.
  • Tộc Việt sống rἀi rάc từ phίa Nam sông Trường-giang, xuống mᾶi vịnh Thάi-lan.
  • Biên giới nước Việt thὐa lập quốc gồm từ Nam sông Trường giang đến vịnh Thάi-lan, Ðông tới biển. Tây tới Tứ-xuyên cὐa Trung-quốc ngày nay.

Ðến đây tôi xin phе́p cάc vị giάo sư, quу́ khάch, cάc sinh viên cho tôi ngừng lời. Xin hẹn lᾳi quу́ vị đến thάng 11-92 tôi sẽ trὶnh bày trước quу́ vị về nguồn gốc triết Việt.

Trân trọng kίnh chào quу́ vị.

Giάo-sư Trần Ðᾳi-Sў,
Giάm đốc Trung-quốc sự vụ

Chύ giἀi cὐa Tᾰng Hồng Minh,

(1) Tiêu biểu mới nhất là một nhόm thức giἀ do nhà vᾰn Vưσng Kỳ Sσn đứng chὐ biên, đᾶ xuất bἀn cuốn Việt-Nam đệ ngῦ thiên niên kỷ vào nᾰm 1994 tᾳi Hoa-kỳ.

(2) Sau này được tôn thụy hiệu là Lục-Dưσng.

(3). Như vậy vua Lᾳc-Long lấy con gάi cὐa anh con bάc.

(4). Độc giἀ cό thể tὶm đọc tài liệu nghiên cứu này bᾳt quyển 1. Anh-hὺng Lῖnh-nam do Nam-Á Paris xuất bἀn 1987 mang tên « Bἀn phụ chύ nghiên cứu về nὀ thần ».

(5). Phưσng phάp mà cάc giάo sư Tarentino, Vareilla Pascale dὺng để biện biệt những bộ xưσng khai quật trong cổ mộ vὺng Hồ-nam, Vân-nam, Quἀng-châu, Quу́-châu không khάc cάc chuyên viên Hoa-kỳ trong ὐy ban tὶm kiếm tử sῖ Hoa-kỳ tᾳi Việt-nam đᾶ xử dụng. Cό điều, cάc chuyên viên Hoa-kỳ gặp nhiều khό khᾰn hσn, vὶ phἀi đi vào chi tiết từng cά nhân, cὸn IFA chỉ phân chὐng loᾳi.

(6). Xin xem Cẩm-khê-di-hận do Nam-Á Paris xuất bἀn 1992, để biết hai trận hồ Ðộng-đὶnh. Một trận do Chu Tάi-Kênh, Ðinh Xuân-Hoa, Phật-Nguyệt, Ðinh Bᾳch- Nưσng, Ðinh Tῖnh-Nưσng, Quάch-Lᾶng đάnh với Lưu-Long, Mᾶ-Viện. Một trận do Hoàng Thiều-Hoa cὺng với cάc tướng trên đάnh với mười hai đᾳi tướng quân Hάn.

(7). Tư-mᾶ ThiênSử-kу́, quyển 1, Ngῦ-đế bἀn-kỷ, Trung-hoa thư cục xuất bἀn 1959 trang 3-6.

(8).  Ðộc giἀ muốn biết chi tiết trận đάnh lịch sử này, xin đọc Ðộng-đὶnh hồ ngoᾳi-sử, cὺng tάc giἀ, do Nam-Á Paris xuất bἀn (1990).

(9). Xin đọc « Mὺa xuân trên hồ Động-đὶnh tưởng nhớ Trưng-Vưσng » trong phần bᾳt Anh-hὺng Lῖnh-nam, do Nam-Á xuất bἀn 1987.

(10) Vῦ Vᾰn-Mẫu, Cổ luật Việt-nam và tư-phάp sử, quyển thứ nhất, tập thứ nhất, trang 9-51.

(11). Chữ vᾰn hόa Bắc-sσn ở đây chỉ cό у́ nghῖa rằng cuộc khai quật ở nύi Bắc-sσn (Lᾳng-sσn), đᾶ tὶm thấy những cổ vật đồ đά. (Thời kỳ đồ đά)

(12). Chữ vᾰn hόa Ðông-sσn chỉ cuộc khai quật ở Ðông-sσn, đᾶ tὶm thấy đồ đồng (thời đồ đồng).

(13). Hѐ 1992 sau khi cὺng phάi đoàn IFA du khἀo về loᾳi cây trị cholestе́rol ở Vân-nam, thời gian cὸn lᾳi, Giάo-sư Trab Ðᾳi-Sў đi khἀo cứu xưσng người cὺng cάc khai quật ở Vân-nam, Quἀng Ðông (Trung-quốc), cάc tỉnh Bắc-thάi như Nὺng-khai, Thanon, U-bon, U-don Tha-ni. Giάo-sư Trần Ðᾳi-Sў đᾶ tὶm lᾳi được hai trống đồng thời vua Trưng, ở Quἀng-đông, để trong bἀo tàng viện địa phưσng. Ông đᾶ mất rất nhiều tiền, cὺng trᾰm ngàn khό khᾰn mới mua và đưa lọt về Paris.

(14). Chữ trᾰm trong ngôn ngữ Việt cό nhiều nghῖa.

  • Cό nghῖa là đời người như:

Trᾰm nᾰm trong cōi người ta.
Chữ tài, chữ mệnh khе́o là ghе́t nhau
(Kiều)

Trᾰm nᾰm xe sợi chỉ hồng,
Bắt người tài sắc buộc trong khung trời
Trᾰm nᾰm, trᾰm tuổi, trᾰm chồng,
Hễ ai cό bᾳc tôi bồng trên tay.
(ca dao)

  • Cό nghῖa là chết:

Khi nào cụ tôi trᾰm nᾰm đi rồi.

Nhân sinh bάch tuế vi kỳ
(Người ta sinh ra lấy trᾰm nᾰm làm hẹn)

Trᾰm nᾰm như cōi trời chung,
Cό nghề cῦng phἀi cό công mới thành.
(ca dao)

  • Cό nghῖa là tất cἀ:

Trᾰm họ, hay trᾰm bệnh,

Trᾰm hoa đua nở mὺa xuân,
Cớ sao cύc lᾳi muộn buồn thế kia ?
(ca dao)

Trᾰm dâu đổ đầu tằm.
(Tục ngữ)

Trᾰm con trong huyền sử Việt hay Bάch-Việt cό nghῖa này.

Tài liệu nghiên cứu chίnh:

SÁCH CHỮ HÁN

  • Tư Mᾶ-ThiênSử kу́, Trung-hoa thư cục Thượng-hἀi xuất bἀn 1959

  • Ban-CốTiền Hάn thư, Trung-hoa thư cục xuất bἀn 1959

  • Phᾳm ViệpHậu Hάn thư, Trung hoa thư cục xuất bἀn 1959.

  • Hoài Nam Tử, quyển 18, Trὺng Hoa thư cục Ðài Bắc xuất bἀn, 1959.

  • Cố Dᾶ-VưσngÐịa-dư chί, Cẩm-chưσng thư cục xuất bἀn 1920.
    Trần Luân-Quу́nh, Hἀi quốc kiến vᾰn lục, cổ bἀn, thư viện Paris.

  • Lê Quу́-ÐônPhu-biên tᾳp lục, cổ bἀn cὐa thư viện Paris.

  • Lê Quу́-ÐônÐᾳi-Việt thông sử, cổ bἀn cὐa thư viện Paris.
    Phan huy-Ích, Lịch triều biến chưσng loᾳi chί, cổ bἀn cὐa thư viện Paris.

  • Quốc-sử quάnHoàng-Việt địa dư chί, bἀn cὐa thư viện Paris.

  • Quốc-sử quάnKhâm định Việt sử thông giάm cưσng mục, bἀn cὐa thư viện Paris.

  • Ðịa đồ xuất bἀn xᾶ, Trung-hoa nhân dân cộng hὸa quốc phân tỉnh địa đồ tập, Bắc-kinh 1974.

  • Ðᾳi học vᾰn khoa Hồ-nam, Hồ-nam lịch đᾳi khἀo chứng 1980.

  • Cὺng rất nhiều tài liệu không tάc giἀ, lưu trữ tᾳi thư viện, bἀo tàng viện Hồ-nam, Quу́-châu, Quἀng-đông, Quἀng-tây, Vân-Nam.

SÁCH CHỮ PHÁP

  • Lе́onard AurouseauLa premiѐre conquête chinoise des pays anamites, BEFEO XXIII

  • Claude MadrolleLe Tonkin Ancien, BEFEO, XXXVII.

SÁCH CHỮ VIỆT

  • Ðào Duy-AnhNguồn gốc dân tộc Việt-nam, Hà-nội 1946.

Theo luocsutocviet