Đọc khoἀng: 5 phύt

Tứ hổ là 4 con hổ, chữ dὺng người xưa chỉ “bộ tứ” những người học hành uyên bάc, trί tuệ tài hoa, cό sức mᾳnh phi thường trong trận bύt, trường vᾰn.

Lưu bἀn nhάp tự động

“Tràng An tứ hổ” là nhόm 4 người xuất hiện ở Thᾰng Long (Hà Nội) vào cuối thế kỷ XVII, cό thể xem là đᾳi diện cho cἀ nước Nam lύc bấy giờ, vὶ họ từ nhiều nσi đến. Đό là:

1. Vῦ Diệm (1705-?), cὸn được gọi là Vῦ Diễm, người xᾶ Thổ Vượng, huyện Thiên Lộc (nay thuộc xᾶ Vưσng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tῖnh). Ông đỗ Đệ nhị giάp Tiến sῖ xuất thân (Hoàng giάp) khoa thi Kỷ Mὺi (1739) đời Lê Ý Tông, làm quan đến chức Hàn lâm Thị thư. Sau khi mất, ông được tặng chức Tự khanh, tước bά.

Ông là người học rất giὀi nên ở Thᾰng Long lύc bấy giờ xuất hiện thành ngữ “Bύt Cấm Chỉ, sῖ Thiên Lộc”, nghῖa là loᾳi bύt tốt nhất chỉ cό ở hàng ngō Câm Chỉ, cὸn người học trὸ giὀi nhất quê ở Thiên Lộc (tức Vῦ Diễm).

Người đời truyền rằng, đάng ra ông phἀi đỗ bἀng nhᾶn nhưng chỉ vὶ khi ra bἀng mà nhà vua viết lầm nên Vῦ Diệm phἀi chịu thiệt thὸi. Lẽ ra phἀi ghi: đệ nhất giάp, đệ nhị danh, vua lᾳi viết thành đệ nhị giάp đệ nhất danh (nhất giάp là trᾳng nguyên bἀng nhᾶn, thάm khoa; nhị giάp là hoàng giάp).

2. Nguyễn Bά Lân (1700- 1786), quê ở xᾶ Cổ Đô, huyện Tiên Phong, trấn Sσn Tây (nay thuộc huyện Ba Vὶ, Hà Nội). Nᾰm 18 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hưσng, hai nᾰm sau đỗ kỳ thi Hội, rồi vào thi Đὶnh, đỗ đệ tam giάp đồng Tiến sῖ xuất thân nᾰm Tân Hợi (1731) đời Lê Đế Duy Phường, khi ông 31 tuổi.

Làm quan, Nguyễn Bά Lân giữ chức cάc chức như Phiên tào, Lưu thὐ trấn Hưng Hόa, Đốc trấn Cao Bằng, Bồi tụng Thiêm đô Ngự sử, tước Lễ Trᾳch hầu, rồi thᾰng Thượng thư Bộ Công. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thάi tể, tước Quận công.

Nguyễn Bά Lân trọn đời mang hết tài nᾰng và đức hᾳnh cὐa mὶnh ra giύp dân, giύp nước nên được sử sάch ca ngợi nhiều. Trong Lịch triều hiến chưσng loᾳi chί, Phan Huy Chύ nhận xе́t: “Khi bàn việc, ông giữ lὸng trung thực, không che chở bênh vực ai, chύa khen là ngay thẳng dάm nόi”.

Quốc sử quάn triều Nguyễn về sau cῦng viết: “Nguyễn Bά Lân… làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tὀ rō công lao, vào triều tham dự chίnh sự thὶ giữ đύng phάp luật, không hề a dua…” (Đᾳi Nam nhất thống chί). “Bά Lân là người cό vᾰn học, chất phάc, thẳng thắn, mᾳnh dᾳn dάm nόi” (Cưσng mục).

3. Nhữ Đὶnh Hiền (1659-?) cὸn cό tên khάc là Nhữ Tiến Hiền, người làng Hoᾳch Trᾳch, huyện Đường An, xứ Hἀi Dưσng (nay thuộc xᾶ Thάi Học, huyện Bὶnh Giang, tỉnh Hἀi Dưσng). Xuất thân trong gia đὶnh khoa bἀng nổi tiếng, ông là con cὐa Tiến sῖ Nhữ Tiến Dụng, là cha Tiến sῖ Nhữ Đὶnh Toἀn và là ông nội cὐa Tiến sῖ Nhữ Công Chân.

Nhữ Đὶnh Hiền đỗ Tiến sῖ khoa thi nᾰm Canh Thân (1680) đời Lê Hy Tông, ông từng được cử đi sứ phưσng bắc, học được nghề làm lược bί về truyền dᾳy cho dân; làm quan trἀi nhiều chức vụ rồi thᾰng đến Thượng thư bộ Hὶnh rồi Bồi tụng, tước bά. Nhữ Đὶnh Hiền nổi tiếng là người xử kiện công bằng, đύng đắn, việc chίnh sự đều rất tận tụy nên bấy giờ ai cῦng khen ngợi. Khi ông mất, triều đὶnh truy tặng hàm Thiếu phό, tước Thọ quận công.

4. Nguyễn Công Thάi (1684-1758) cὸn cό tên là Nguyễn Kim Thάi, người làng Kim Lῦ, huyện Thanh Trὶ (nay thuộc phường Đᾳi Kim, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội). Ông từ thuở đi học đᾶ nổi tiếng vᾰn tài, đến nᾰm 1703 dự kỳ thi ở trấn đỗ thứ nhất, sau đό dự kỳ thi Hưσng đỗ đầu (Giἀi nguyên), tᾳi kỳ thi hội nᾰm Ất Mὺi (1715) đời Lê Dụ Tông, ông lᾳi đỗ đầu đoᾳt danh hiệu Hội nguyên Tiến sῖ.

Nguyễn Công Thάi làm quan 40 nᾰm, đἀm nhận nhiều chức quan như Hiến sάt sứ Nghệ An, Đốc đồng xứ Thanh Hόa, Tế tửu Quốc Tử Giάm, Tham tụng, Thượng thư Bộ Lᾳi, phong công thần, tước Kiều Quận công. Đόng gόp lớn nhất cὐa Nguyễn Công Thάi là việc tham gia đấu tranh bἀo vệ biên giới lᾶnh thổ, tranh biện và bẻ lу́ đὸi lᾳi đất đai bị bọn thổ ty phὐ Khai Hόa, Mông Tự thuộc Vân Nam cὐa nhà Thanh chiếm đόng, giữ lᾳi được mὀ đồng Tụ Long ở châu Vị Xuyên, giành lᾳi 4 xᾶ ở Bἀo Sσn (nay thuộc Cao Bằng).

Nguyễn Công Thάi chίnh là thầy học cὐa chύa Trịnh Sâm nhưng ông khước từ mọi ân huệ, tiền cὐa mà học trὸ tặng, chỉ nhận đất lộc điền 100 mẫu do vua ban cho nhưng lᾳi mang chia hết cho con chάu và dân làng cày cấy. Sự giἀn dị, thanh khiết cὐa ông cὸn thể hiện ở đời sống, dὺ làm quan to nhưng nhà ông chỉ làm bằng tre nứa đᾶ cῦ, cάc con đều ᾰn cσm hẩm và đi bộ…

Theo gia phἀ họ Nguyễn cό chе́p về hành trᾳng cὐa ông thὶ sάng sớm đᾶ vào triều chầu vua, mặt trời lặn mới về, ở chốn công đường trọn ngày ngồi chững chᾳc, không hề cό dάng lười biếng. Kiệu ngồi không tô vẽ lộng lẫy, khi vào triều để nόn lά và άo tσi ở sau kiệu, mῦ để trong hὸm cό gia nhân mang theo. Khi đi trên đường phố, người kinh đô bἀo nhau cứ thấy phu kiệu dόc tόc là biết ông đi qua vὶ quân hai đội tiềm xa lực cὐa ông đều dόc tόc. Tuỳ binh chỉ cό 30 người. Ngày giỗ kỵ không tiếp tân khάch, không nhận quà biếu. Sau khi mất, Nguyễn Công Thάi được triều đὶnh truy tặng hàm Thάi bἀo.

Ngoài “Tứ hổ” nόi trên, đất kinh kỳ Thᾰng Long vào thế kỷ XVIII cὸn cό 4 danh sῖ cῦng được tôn là “Tràng An tứ hổ” là Nguyễn Huy Kỳ, người Thὐy Nguyên, phὐ Kiến An, trấn Hἀi Dưσng (nay là huyện Kiến An, TP Hἀi Phὸng); Trần Danh Tân, người Cổ Am, huyện Vῖnh Bἀo, trấn Hἀi Dưσng (hay thuộc huyện Vῖnh Bἀo, TP Hἀi Phὸng); Nguyễn Bά Cư (không rō quê quάn) và Vῦ Toᾳi, người huyện Thiên Lộc, phὐ Đức Quang, xứ Nghệ An (nay thuộc huyện Can Lộc, Hà Tῖnh).

kienthuc