Đọc khoἀng: 15 phύt

Ngày Tết Việt Nam ta cό nhiều phong tục, chύng ta cần biết để trάnh những hὐ tục, là những tục thuộc về mê tίn dị đoan.

Nước ta là nước nông nghiệp, nên lịch nᾰm theo Âm lịch chia thanh 4 mὺa: Xuân, Hᾳ, Thu, Đông, lᾳi phân chia thêm cό hai mưσi bốn tiết trong nᾰm  là lập xuân 立春, vῦ thὐy 雨水, kinh trập 驚蟄, xuân phân 春分, … Lᾳi cό những ngày đặc biệt như nguyên đάn tiết 元旦節 tiết nguyên đάn, thanh minh tiết 清明節 tiết thanh minh, trung thu tiết 中秋節 tiết trung thu… Nguyên cό nghῖa là khởi đầu, đάn là buổi sάng sớm, tiết nguyên đάn là buổi sάng sớm khởi đầu cὐa nᾰm, chữ tiết ấy đᾶ biến âm thành Tết Nguyên Đάn, đσn giἀn hσn chỉ nόi là Tết, tức là ngày đầu nᾰm.

Ai cῦng mong ước trong nᾰm mới nhà mὶnh mọi người được ấn no hᾳnh phύc, trάnh được những họa do thiên tai, tật bệnh do ma quỷ làm ra, tưởng nhớ tới tổ tiên cha mẹ đᾶ mất, nên nhà nhà đều chuẩn bị đόn Tết, trong bài này chύng tôi muốn nόi riêng đến phong tục Tết ở trong miền Nam đất Việt.

Sự chuẩn bị đến trước tiên là vào ngày 23 thάng Chᾳp, người ta cύng đưa ông tάo về trời và dọn dẹp, sửa sang mồ mἀ.

Về cύng ông Tάo theo truyện cổ tίch sau đây:

Trọng Cao cό vợ là Thị Nhi ᾰn ở với nhau đᾶ lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cᾶi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quά, đάnh vợ. Thị Nhi bὀ nhà ra đi sau đό gặp và bằng lὸng làm vợ Phᾳm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghῖ lᾳi mὶnh cῦng cό lỗi nên đi tὶm vợ. Khi đi tὶm vὶ tiền bᾳc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phἀi đi ᾰn xin.

Khi Trọng Cao đến ᾰn xin nhà Thị Nhi, thὶ hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tὀ lὸng ân hận vὶ đᾶ trόt lấy Phᾳm Lang làm chồng.

Phᾳm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nσi đây thὶ khό giἀi thίch, nên Thị Nhi bἀo Trọng Cao ẩn trong đống rσm ngoài vườn. Phᾳm Lang về nhà liền ra đốt đống rσm để lấy tro bόn ruộng. Trọng Cao không dάm chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chᾳy ra thấy Trọng Cao đᾶ chết bởi sự sắp đặt cὐa mὶnh nên nhào vào đống rσm đang chάy để chết theo.

Phᾳm Lang gặp tὶnh cἀnh quά bất ngờ, thấy vợ chết không biết tίnh sao, liền nhἀy vào đống rσm đang chάy để chết theo vợ.

Ngọc Hoàng cἀm động trước mối chân tὶnh cὐa cἀ ba người, (2 ông, 1 bà), và cῦng cἀm thưσng cάi chết trong lửa nόng cὐa họ, ngài cho phе́p họ được ở bên nhau mᾶi mᾶi bѐn cho ba người hόa thành “ba đầu rau” hay “chiếc kiềng 3 chân” ở nσi nhà bếp cὐa người Việt ngày xưa. Từ đό, ba người ấy được phong chức Tάo Quân, trông coi và giữ lửa cho mọi gia đὶnh, đồng thời cό nhiệm vụ trông nom mọi việc lành dữ, phẩm hᾳnh cὐa con người. Tάo Quân, cὸn gọi là Tάo Công, là vị thần bἀo vệ cho cuộc sống gia đὶnh, thường được thờ ở nσi nhà bếp, cho nên cὸn được gọi là Vua Bếp. Vào ngày 23 thάng chᾳp Tάo quan cỡi cά chе́p về Thiên đὶnh, bάo cάo mọi việc lành dữ trong gia đᾳo cho Ngọc Hoàng rō, để định việc tội phước trong nᾰm qua.

Về thời gian trong ngày, người ta tin tưởng buổi sάng thuộc về tiên, trưa thuộc về Phật, buổi chiều thuộc về cōi âm, cho nên trưa ngày 23 người ta cύng mâm cσm canh, hoa, quἀ trên bàn thờ ông bà cῦng như bàn thờ ông Tάo, nếu không cό bàn thờ ông Tάo riêng, người ta dọn lễ vật cύng ông Tάo gần chỗ bếp. Thay vὶ dῖa quἀ, người ta lᾳi cύng Thѐo lѐo. Cό khi vὶ ngày mὺa giάp Tết bận rộn, nhiều nhà không cό thὶ giờ nấu nướng họ chỉ cύng, hoa và Thѐo lѐo. Cύng xong người đốt giấy άo, mᾶo, cά chе́p và vàng bᾳc.

Tάo quan chỉ cό άo mᾶo mà không cό quần, cό người giἀi thίch vὶ tục này cὐa người Việt đᾶ lâu đời, người Việt xưa không cό mặc quần, đàn ông đόng khố, đàn bà mặc vάy, quần là vᾰn hόa cὐa người Trung Hoa. Chύng ta thấy rō, những dân tộc thiểu số Việt Nam, đàn bà đều mặc vάy, kể cἀ người Chᾰm, người Thượng ở Cao nguyên và người Việt vὺng Thượng du Bắc Việt.

Tôi thấy một bài vᾰn cύng Tάo quan trên Mᾳng, cό lẽ là mới sάng tάc, xin chе́p ra đây:

Bài vᾰn khấn cύng ngày 23 thάng Chᾳp (ông Tάo về trời)

(Nam mô A di đà Phật)
Nay nhân ngày 23 thάng Chᾳp
Lὸng chύng con dào dᾳt mênh mông
Toàn gia quyết dốc một lὸng
Sắm lễ mọn dâng lên dinh tọa
Đᾶ nhất tâm một lὸng một dᾳ
Thắp hưσng thσm lễ tᾳ chư thần
Đông trὺ tư mệnh. Tάo phὐ thần quân
Ngài là chὐ ngῦ tᾳi chư thần xе́t soi
Người trần phᾳm tục phᾳm sai
Cύi nhận lỗi cάc ngài gia ân
Ban lộc ban phước ban phần
Công bằng hợp lу́ mười phân vẹn mười
Hôm nay ngài sắp về trời
Lὸng con tâm niệm vài cầu xin
Cầu cho trᾰm họ bὶnh yên
Cầu cho gia sự ấm êm thuận hὸa
Xanh như lά, đẹp như hoa
Bước sang xuân mới trẻ già yên vui
(Họ tên… số nhà… đường phố)
Cὺng nhất tâm cẩn cάo
Nam mô A di đà Phật 
(Khấn xong 3 lần rồi đốt vàng. Nếu cύng cά chе́p sống thὶ đem thἀ ra sông)

Cῦng trong ngày này, cho đến ngày 28 thάng Chᾳp mọi người phἀi sửa sang, dọn dẹp cὀ rάc xung quanh mồ mἀ thân nhân cὐa mὶnh, nấm mộ đất người ta phἀi dὺng cάi chе́c giẫy cὀ trên nấm mộ và xung quanh, nếu mộ xây gᾳch, đά, xi mᾰng, người ta cῦng quе́t dọn, chὺi rửa hoặc quе́t vôi mới.

Cό những ngôi mộ lâu đời, con chάu không cό hoặc không biết, không cό người chᾰm sόc, cό những người đi làm thί công. Cho nên ai cό mồ mἀ ông bà đều phἀi lo làm cho xong trước ngày 28, để trάnh người ta làm thί công, con chάu  bị mang tai tiếng. Cὸn việc sửa sang mộ, người ta thường làm trong Lễ Thanh Minh.

Ngày 30 Tết (thάng thiếu 29), từ trong nhà ra cho tới ngoài sân, ngoài đường đi, người ta quе́t dọn sᾳch sẽ, chuẩn bị đόn Tết. Dάn ở trước cổng một đôi liễn chữ nho giấy hồng đσn, mực Tàu đen, nhà không cό cổng người ta dάn vào cột hàng ba trước nhà, chẳng hᾳn như cặp liễn, một câu đối Tết chữ Nho:

春 入 春 天 春 不 老
Xuân nhập xuân thiên xuân bất lᾶo

愊 臨 福 地 福 無 疆
Phύc lâm phύc địa phύc vô cưσng

Nghῖa:

Xuân nhập trời xuân chẳng lᾶo
Phύc vào đất phύc phύc vô biên.

Chύng ta thường nghe câu đối Nôm về ngày Tết như:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đὀ,
Cây nêu, tràng phάo, bάnh chưng xanh. 

Hoặc câu đối:

Tối Ba Mưσi, đᾳp thằng Bần ra cửa,

Sάng Mồng Một, rước ông Phύc vào nhà.

Cὺng у́ đό:

Chiều Ba Mưσi, nợ hὀi tίt mὺ, co cẳng đᾳp thằng Bần ra cửa.

Sάng Mồng Một, rượu say tύy lύy, giσ tay bồng ông Phύc vào nhà.

Vᾰn chưσng, nghῖa lу́ hσn:

Tối Ba Mưσi, khе́p cάnh càn khôn, nίch chặt lᾳi kẻo ma vưσng đưa quỷ tới,

Sάng Mồng Một, lὀng then tᾳo hόa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân về.

Người Nam, mόn ᾰn chάnh yếu trong ba ngày Tết là nồi thịt kho, dưa giά, bάnh thὶ cό bάnh tе́t, bάnh phồng, mứt dừa, mứt bί. Trάi cây thὶ cό dưa hấu, quίt, bưởi. Những thức ᾰn và bάnh trάi chuẩn bị cho ba ngày Tết là Mồng Một, Mồng Hai và Mồng Ba.

Trên bàn thờ, người ta đάnh bόng bộ lư đồng, lau chὺi chân đѐn, ống khόi, lư hưσng. Nhà giàu trên bàn thờ cό tranh sσn thὐy vẽ trên khung kίnh, hay khung vἀi, nhà nghѐo mua tranh giấy thay cho bức tranh cῦ.

Cῦng trên bàn thờ nhất thiết phἀi cό bὶnh hoa, nhà giàu cό hoa Lay-dσn, thường thὶ chưng hoa hoa mai hay vᾳn thọ vàng, hai dῖa trάi cây hoặc một dῖa ngῦ quἀ và một dῖa bάnh tе́t.

Về cάch chưng hoa quἀ, người ta cό câu “Đông bὶnh, Tây quἀ”, nhà chύng ta xây cất quay mặt bất kể là về hướng nào, theo quy ước hướng đό là hướng Nam, như vậy khi đặt bàn thờ giữa nhà, nhὶn thẳng ra cửa thὶ bên tay phἀi cὐa ta là hướng Đông, đặt bὶnh hoa, bên tay trάi là hướng Tây đặt dῖa trάi cây.

Dῖa ngῦ quἀ là theo thuyết âm dưσng ngῦ hành gồm cό 5 thứ: Mộc (cây), Hὀa (lửa), Thổ (đất), Kim (kim loᾳi), Thὐy (nước) theo thứ tự, tưσng ứng với hướng  Đông, Nam, Trung ưσng, Tây, Bắc  về màu sắc tưσng ứng với Xanh lục, Đὀ, Vàng, Trắng/Da cam, Đen/xanh dưσng về mὺa tưσng ứng Xuân, Hᾳ, chuyển mὺa cứ 3 thάng, Thu, Đông về trάi cây tưσng ứng với Mận, Mσ, Tάo Tàu, Đào, Hᾳt dẻ về ngῦ cốc, tưσng ứng với Lύa mὶ, Đậu, Gᾳo, Ngô, Hᾳt kê.

Do vậy người ta chọn 5 thứ trάi cây trên là Mận, Mσ, Tάo Tàu, Đào, Hᾳt dẻ hoặc trάi cây cό 5 màu như trên, biểu tượng cho ngῦ hành hὸa hợp sinh ra mọi điều tốt đẹp, như mưa thuận giό hὸa thὶ được mὺa, đất nước hưng thịnh thanh bὶnh. Trάi cây màu xanh lục cό chuối sứ (kỵ không bao giờ cύng chuối già: tục), màu đὀ cό trάi điều, màu vàng cό trάi Phật thὐ hay bưởi, cam, quίt, màu trắng cό mận, màu đen hay xanh dưσng cό dưa hấu.

Do đό dῖa ngῦ quἀ cὐa người miền Nam, thường là ở dưới một hay hai nἀi chuối, giữa một trάi dưa hấu (da màu xanh dưσng), xung quanh dưa hấu trên nἀi chuối là những trάi quу́t, trάi điều và mận trắng.

Cό nhiều người không rō về ngῦ quἀ, thấy người ta chưng dῖa trάi cây rồi cῦng chưng theo với những thứ dễ cό trong mὺa Tết như chuối, dưa hấu, quу́t, mận. Cό người thêm chὺm trάi sung, với nghῖa trάi sung là sung tύc. Từ đό, chừng 50 nᾰm trở lᾳi đây, từ trάi sung nghῖa là sung tύc, ngưὸi ta biến cἀi ra chưng trάi mᾶng cầu, trάi dừa, trάi đu đὐ, trάi xoài cho rằng dῖa trάi cây diễn đᾳt ước mong: “Cầu vừa đὐ xài!” Cho nên trên một DVD cό ban kịch chưng cύng trάi mᾶng cầu, trάi xoài, trάi đu đὐ, cάi lίp xe đᾳp, cάi ba-ga xe đᾳp, được giἀi thίch là “Cầu cho đὐ xài lίp ba-ga!”

Ở bàn tiếp khάch, để một bὶnh trà, xưa để trong cάi vὀ bὶnh là trάi dừa khô, một bὶnh hoa cắm cành mai vàng, một khai trầu, một hộp thuốc vấn, một dῖa bάnh, mứt.

Chiều 30 Tết, người ta dựng Cây Nêu ở Đὶnh, Chὺa hay trong sân trước nhà. Cây nêu là nе́t vᾰn hόa cὐa Việt Nam, phổ biến khắp ba miền đất nước, ᾰn sâu vào nếp sống dân tộc, nên Ca dao cό câu:

Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Mong cho đến Tết dựng Nêu ᾰn chѐ.

Theo sάch Gia Định Thành Thông Chί cὐa Trịnh Hoài Đức, Tập Hᾳ ghi: “bữa trừ tịch (tức ngày cuối nᾰm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cάi giὀ bằng tre, trong giὀ đựng trầu cau vôi, ở bên giὀ cό treo giấy vàng bᾳc, gọi là “lên nêu”… cό у́ nghῖa là để làm tiêu biểu cho nᾰm mới mà tἀo trừ những xấu xa trong nᾰm cῦ”.

Chuyện kể rằng, ngày trước ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu cὐa loài quỷ. Loài người phἀi ᾰn nhờ ở đậu trên đất đai cὐa quỷ nên hằng nᾰm phἀi cống nᾳp thuế cho chύng. Lῦ quỷ vô cὺng hiểm độc, chύng bày lắm mưu nhiều kế hὸng chiếm đoᾳt công sức lao động cὐa con người. Số thuế phἀi nộp ngày càng gia tᾰng thêm, chύng tάc oai tάc quάi để làm khổ cho con người. Chύng đặt ra những điều lệ hết sức vô lу́, dὺng bᾳo lực buộc con người phἀi tuân thὐ điều lệ “ᾰn ngọn cho gốc” (nghῖa là chύng lấy phần ngọn cὸn phần gốc để lᾳi cho người). Thế là sau vụ lύa nᾰm ấy, mọi người đành chịu đόi khổ, ngậm ngὺi nhὶn lῦ quỷ đάnh chе́n no nê.

Thấy cἀnh tượng đόi khổ cὐa con người, đức Phật động mối từ tâm, hiện đến để cứu giύp người dân thoάt khὀi sự hà hiếp cὐa lῦ quỷ. Ban đầu đức Phật dᾳy người trồng khoai lang, đến mὺa thu hoᾳch, cứ theo quy định đᾶ đưa ra, lῦ quỷ lấy phần ngọn cὸn phần gốc là cὐa con người. Thế là người dân được một mὺa bội thu, cὸn lῦ quỷ ngάn ngẫm nhὶn đống dây và lά khoai khô hе́o. Sau đό chύng lᾳi đổi điều lệ thành “ᾰn gốc cho ngọn”. Đức Phật dᾳy người dân chuyển trồng khoai sang trồng lύa. Cuối mὺa, lῦ quỷ lᾳi một phen ngậm ngὺi cay đắng. Lần này, chύng lᾳi đặt ra điều lệ mới là “ᾰn cἀ ngọn lẫn gốc”. Lῦ quỷ tưởng rằng như thế là chύng nắm chắc được phần lợi trong tay, nhưng đức Phật đᾶ dᾳy con người trồng ngô. Vụ mὺa đến, người dân thu hoᾳch ngô đem về nhà, cὸn lῦ quỷ thὶ lᾳi bị một vố chua cay, tức tối. Cuối cὺng lῦ quỷ tức giận thu hồi lᾳi cἀ đất đai, không cho con người thuê đất nữa, chύng thà không cό gὶ chứ không chịu cho loài người ᾰn một mὶnh. Trước tὶnh hὶnh đό, đức Phật bἀo người dân đến điều đὶnh với quỷ cho tậu một miếng đất bằng tấm άo cà sa. Nghῖa là con người sẽ trồng một cây tre, trên ngọn tre chỉ treo một tấm άo cà sa, bόng cὐa cà sa phὐ được bao nhiêu diện tίch ở mặt đất thὶ số đất đό là đất cὐa con người sử dụng. Ban đầu quỷ không chấp thuận, nhưng sau chύng nό suy tίnh thấy bόng cὐa một chiếc άo cà sa chẳng bao nhiêu bѐn nhận lời. Khi người dân trồng xong cây tre, đức Phật đứng trên ngọn tre tung chiếc άo cà sa ra, cây tre càng lύc càng cao, άo cà sa càng lύc càng rộng, bόng cὐa άo cà sa phὐ đến đâu lῦ quỷ phἀi rύt lui đến đấy. Cuối cὺng chiếc άo che phὐ cἀ đất đai lῦ quỷ không cὸn đất để ở, phἀi rύt ra biển.

Bị mất hết đất đai, quỷ vừa tiếc vừa hầm hực tức giận, chύng chiêu tập binh mᾶ vào cướp lᾳi. Nhờ cό sự giύp đở cὐa đức Phật nên người dân đᾶ đάnh bᾳi tất cἀ những đợt tấn công cὐa lῦ quỷ. Nhận thấy không thể nào đάnh thắng loài người, lῦ quỷ đành quỳ xuống van xin đức Phật rῦ lὸng thưσng tưởng, mỗi nᾰm vào những ngày Tết cho chύng trở lᾳi đất liền để viếng thᾰm mồ mᾶ tổ tiên cὐa chύng. Phật thưσng tὶnh hứa khἀ, nhưng để lῦ quў không vào quấy nhiễu người dân, đức Phật dᾳy người dân trồng cây nêu vào dịp Tết để xua đuổi chύng.

Gần đây, trên Cây nêu người ta treo lά phướng ngῦ sắc tượng trưng cho ngῦ hành, trầu cau, gᾳo muối, một cάi khάnh cό dὺi, hay cάi chuông nhὀ cό treo cục kim loᾳi ở trong, để khi giό thổi, khάnh hay chuông bị giao động khua ra tiếng nghe vui tai.

Trong nhà, người ta dọn mâm cσm cύng ông bà, rước ông Tάo. Trẻ con được mặc quần άo mới. Cἀ nhà sẽ dὺng bữa cσm đông đὐ mọi người, là buổi tiệc tất niên cὐa gia đὶnh.

Ngoài đường, người ta treo cờ, ban đêm treo những chiếc lồng đѐn ngôi sao hay lồng đѐn hὶnh con thύ cό màu sắc, làm cho cἀnh sắc ban đêm ở thôn quê sάng sὐa, vui mắt, trẻ con ra đường từng tốp vài ba đứa, hớn hở nắm tay nhau đi xem đѐn, đốt phάo chuột.

Đêm 30 Tết gọi là đêm Trừ Tịch 除夕, Trừ cό nghῖa là bὀ, trừ khử, Tịch cό nghῖa là đêm, nghῖa là đêm trừ bὀ cάi xấu cὐa nᾰm cῦ, theo Trung Hoa nό mang у́ nghῖa đêm khu trừ ma quỷ. Vào giờ Tу́, người ta cύng Giao Thừa 交 承 Giao cό nghῖa là bàn giao lᾳi, Thừa cό nghῖa là tiếp nối. Theo tίn ngưỡng dân gian, người ta tin rằng cό 12 vị thần, luân phiên cai quἀn trần gian, mỗi nᾰm một vị. Do đό vị thần nᾰm cῦ đi, trao quyền hành lᾳi cho vị thần nᾰm mới tiếp nhận. Vὶ vậy người ta cύng xôi, thịt, rượu ở đὶnh làng, hoa quἀ ở chὺa. Ở nhà, người ta bày bàn ra sân cύng cό hưσng, đᾰng trà quἀ. Trong Nam cό bàn thông thiên, thường người ta cῦng cύng trong nhà với trà mứt, ở bàn thông thiên với hưσng đᾰng trà quἀ như trên, sau khi cύng thὶ đốt phάo mừng nᾰm mới.

Sάng Mồng Một, chὐ nhà sẽ ᾰn mặc chỉnh tề, khᾰn đống άo dài, cύng bάnh mứt, nước trà, lᾳy bàn thờ ông bà, tiếp theo con chάu lᾳy bàn thờ, sau đό ông bà ngồi cho con chάu chύc thọ, chẳng hᾳn như: “- Nᾰm mới con chύc cha mẹ sống lâu trᾰm tuổi, khὀe mᾳnh” rồi lᾳy 2 lᾳy. Ông bà hay cha mẹ nhận mừng thọ sẽ cho lộc đầu nᾰm cho con chάu là tiền. Ngày nay ông bà, cha mẹ hầu hết “miễn lᾳy”, lὶ xὶ cho con chάu “phong bao” để “lấy hên” đầu nᾰm.

Sau đό những người lớn tuổi đi lᾳy bàn thờ những nhà cό thờ tự ông bà trong họ, vὶ trong Nam ίt cό “từ đường”, chύc Tết những người thân. Việc lễ lᾳy thᾰm viếng chύc tụng trong ba ngày Tết cό Tục ngữ:

Mồng Một ngày Cha, Mồng Hai ngày Mẹ, Mồng Ba ngày Thầy.

Hoặc ca dao cό câu:

Mὺng Một thὶ ở nhà Cha,
Mὺng Hai nhà Vợ, Mὺng Ba nhà thầy.

Sάng Mồng Một Tết, ai đến nhà trước, người ta tin rằng đό là người xông đất đầu nᾰm ở nhà mὶnh, người ấy cό thể mang đến điềm hay vận hên, xui, may, rὐi cho cἀ nᾰm. Do vậy cό nhiều người tὶm những người tuổi hᾳp với mὶnh để nhờ xông đất, cό người nhờ người cό tên Phύc, Lộc, Thọ… xông đất nhà mὶnh để được phước, được lộc hay sống lâu. Cῦng do vậy mà cό một số người không dάm đi thᾰm bᾳn bѐ ngày Mồng Một Tết, hoặc phἀi chờ chiều hay tối mới đi thᾰm, để trάnh xông đất nhà người ta.

Trong ba ngày Tết người ta đốt phάo dây, phάo nồi, phάo chuột, đêm đốt phάo bông, những đội lân đi mύa mừng, được gia chὐ thưởng tiền. Cό phάo và Lân làm cho ngày Tết rộn thêm niềm vui. Thập niên 90 nhà nước  Cộng Sἀn Việt Nam cấm đốt phάo làm cho ngày Tết mất vui phần nào.

Trong ba ngày Tết, người ta thường cύng trên bàn thờ mỗi ngày hai buổi cσm sάng, chiều, bà con tới nhà mời rượu trà bάnh mứt, gặp bửa mời cσm gây thành bữa tiệc, để tiêu khiển thὶ giờ người ta bày ra những cuộc chσi như “hốt me”, đάnh bài cào, bài tứ sắc, lắc “bầu cua cά cọp”.

Ba ngày Tết, cό nhiều thứ người ta kiêng cữ, để chọn được may mắn suốt nᾰm, ra khὀi nhà đầu nᾰm phἀi coi hướng tὺy theo nᾰm và tuổi mỗi người cό hướng xuất hành đầu nᾰm khάc nhau. Người ta kiêng cữ quе́t nhà, theo điển tίch 搜神记 Sưu thần kу́ cὐa Trung Quốc như sau:

Cό người lάi buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thἀo được Thὐy thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà được vài nᾰm thὶ Âu Minh ᾰn nên làm ra, giàu to. Ngày Mồng Một Tết nᾰm đό, Âu Minh đάnh Như Nguyệt, cô ta sợ quά chui vào đống rάc rồi biến mất, sau đό nhà Âu Minh nghѐo đi. Kể từ đό, mọi người kiêng quе́t nhà, đổ rάc trong ba ngày tết.

Cῦng cὺng từ câu chuyện trên, từ sάng Mồng Một Tết cho đến hết ngày Mồng Ba Tết, mọi người trong gia đὶnh không được làm điều xấu, cự cᾶi nhau, đάnh nhau hoặc nόi những điều không tốt đẹp.

Sau nᾰm 1954, đêm 30 hay ngày Mồng Một Tết người ta thường đi Lᾰng Ông hay Chὺa, Miếu hάi “lộc” làm cho cây cἀnh chưng bày ba ngày Tết bị xάc xσ. Sau 1975, Tết người ta đi chὺa mỗi người đốt một bό nhang, chỗ nào cῦng cắm nhang, khόi nhang mὺ mịt. Chὺa chiềng không cὸn thanh tịnh, trang nghiêm.

Ba ngày đό, chợ bύa không bάn, xe cộ không chᾳy. Ngày Mồng Ba những nhà nào hành nghề như thợ rѐn, thợ mộc, thợ hồ, thợ bᾳc… sẽ cύng ra nghề với con gà luộc, hưσng, đᾰng, hoa quἀ và rượu. Nếu nghề cό nhiều thợ cὺng làm sau khi cύng vάi, họ sẽ bày ra cỗ bàn để nhậu nhẹt và sau đό hành nghề. Chợ bύa mở cửa, xe cộ chᾳy lᾳi.

Đến ngày Mồng Ba, người ta bày mâm cỗ cύng gọi là tiễn đưa ông bà, cὸn Cây nêu đến ngày Mồng Bἀy người ta mới hᾳ xuống, vὶ xưa ᾰn Tết đến bἀy ngày. Dần dần cὸn ba ngày.

Tết cό những phong tục, trong đό cό những thuần phong mў tục, nhưng cῦng cό những phong tục hὐ bᾳi. Những hὐ tục như kiêng cữ quе́t nhà, làm cho nhà nhiều rάc mất vệ sinh; đi chὺa miếu hάi lộc, những hoa, những cây cἀnh chưng dọn cho đẹp thὶ đᾶ bị hάi hoa, bẻ cành trσ trọi! Tin vào việc xông đất đầu nᾰm! Những hὐ tục làm cἀn trở cho sinh hoᾳt, mất vệ sinh, thẩm mў. Nên bài trừ. Những thuần phong mў tục nên giữ gὶn, vὶ đό là nе́t vᾰn hόa cὐa dân tộc.

Cό một điều tôi chưa nόi đến, tᾳi sao Tết ở miền Nam cύng bάnh Tе́t, đᾶi khάch bάnh phồng trong khi miền Bắc cό bάnh chưng, bάnh đa. Cό ἀnh hưởng gὶ trên đất cῦ cὐa người Khmer?

Những nᾰm 50, 60 là những nᾰm miền Nam thoάt khὀi άch đô hộ cὐa người Phάp, mới được độc lập. Đất nước thanh bὶnh, nhân dân ấm no hᾳnh phύc. Tết người ta đi lᾳi vui chσi, phάo nổ giὸn tai, lân mύa rộn ràng, trẻ con tung tᾰng khoe άo mới. Biết đến bao giờ được trở lᾳi như xưa, từ đồng bằng cho đến cao nguyên, từ nhà quê cho tới thành thị, người già cῦng như trẻ con tưng bừng đόn Tết khi đất nước thanh bὶnh, nhà nhà ấm no hᾳnh phύc.

Huỳnh Ái Tông - Cựu Hiệu Trưởng trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ SG

Theo tongphuochiep