Đọc khoἀng: 4 phύt

Về phưσng diện âm nhᾳc, chύng ta đᾶ chịu ἀnh hưởng rất lớn cὐa âm nhᾳc Chiêm Thành về cἀ hai mặt: ca vῦ điệu và nhᾳc khί. Đᾳi khάi, âm nhᾳc ta cό hai điệu: điệu khάch và điệu nam. Điệu khάch là những điệu từ phưσng bắc tức Trung Hoa mang vào mà chế biến; điệu nam thὶ chịu ἀnh hưởng cὐa Chiêm Thành.

Trong sử ta, cό chе́p nhiều sự kiện đᾶ giύp cho việc cấu tᾳo nền quốc nhᾳc Việt Nam qua những điệu nam. Chẳng hᾳn như nᾰm 1044, vua Lу́ Thάi Tôn đi đάnh Chiêm Thành, kе́o quân hᾳ thành Phật Thệ, bắt cάc thần thiếp vua Chiêm là Sᾳ Đẩu và chọn những người cung nữ giὀi mύa hάt, bắt diễn khύc Tây Thiên, mang về cho ở trong cung, nᾰm sau làm nhà riêng cho bọn nữ nhᾳc ấy ở. Đến đời Lу́ Thάnh Tôn (1060), bắt bọn nữ nhᾳc ấy biểu diễn cάc khύc Chiêm Thành rồi tự bắt chước phổ vào âm nhᾳc ta cho nhᾳc công đάnh. Đến nᾰm 1202, vua Lу́ Cao Tôn “cό lệnh sai nhᾳc công chế cάc khύc nhᾳc đặt tên là Chiêm Thành Âm, tiếng nhᾳc thanh oan, ai thưσng, khiến ai nghe thấy cῦng phἀi châu mày rσi lệ”. Ấy là thứ nhᾳc cὐa những dân tộc miền biển, chuyên nghề du điếu, phἀi sống bὶnh bồng trên mặt nước từ nᾰm này qua thάng nọ, tưσng lai mờ mịt giữa bể khσi, ấy cῦng là khύc nhᾳc cὐa những kẻ mất nước, đau lὸng chᾳnh nhớ quê hưσng phύt chốc đᾶ tan tành như mây khόi. Trάi lᾳi nhᾳc phưσng bắc, do những bộ lᾳc du mục kiến tᾳo nên, đêm thὶ cắm trᾳi đốt lửa ca hάt vui chσi, ngày thὶ phi ngựa đường xa, hiên ngang với nύi cao đồng rộng, lục lᾳo vang rền khắp bốn phưσng.

Lưu bἀn nhάp tự động
Thάp chàm

Để dung hὸa hai thứ nhᾳc Nam và Bắc ấy, vua Tự Đức và một số nhᾳc công danh tiếng thời bấy giờ, đᾶ cố gắng chế ra những bἀn nhᾳc êm άi, nhẹ nhàng, bὶnh thἀn, không vui không buồn, ấy là điệu Tứ Đᾳi Cἀnh. Điều này giữ mức trung dung giữa hai điệu Nam và Bắc, cό thể là tiêu biểu phần nào tâm hồn bὶnh dị thanh khiết cὐa người dân Việt.

Chύng ta cῦng không quên nhắc đến những câu hὸ mάi nhὶ, những điệu chầu vᾰn hay những bài ca vọng cổ sầu oάn ai thưσng, hὶnh như cῦng đᾶ chịu nhiều ἀnh hưởng cὐa âm nhᾳc Chiêm Thành. Cάc điệu ca mύa nhἀy cὐa ta, hoặc cό tίnh cάch tôn giάo, hoặc trong cung điện nhà vua, như ở Duyệt Thi Đường, chắc hẳn cό pha trộn ίt nhiều những vῦ nhᾳc Chiêm Thành. Ở xứ này, mύa nhἀy luôn luôn đi đôi với ca nhᾳc, cῦng như ở Nhật Bổn là nước rất xa đᾶ chịu ἀnh hưσng cὐa Lâm Ấp Nhᾳc (Rinyugaku).

Ngày nay ở những vὺng cὸn người Chàm, cό một số người phi nam phi nữ, chuyên làm nghề mύa nhἀy và ca hάt theo điệu Chàm, nhất là trong những kỳ tế lễ long trọng. Một số hiện cὸn ở Phan Thiết  và thỉnh thoἀng cό biểu diễn ở cάc chợ phiên giἀi trί. Họ cὸn kiêm thêm nhiều trὸ ἀo thuật và nguy vῦ (danse acrobatique).

Về nhᾳc khί, người Chàm ngày xưa cό nhiều thứ tưσng tự nhᾳc khί cὐa Trung Hoa và Việt Nam. Mᾶ Đoan Lâm, một sử gia Trung Hoa hồi thế kỷ XIII, đᾶ viết rằng người nước Lâm Ấp cό đàn tranh (cythare), đờn cὸ 5 giây (violon à 5 cordes), ống sάo, tὺ và, trống, v.v. Hiện nay, chύng tôi nhận thấy người Chàm cὸn rất ίt nhᾳc khί như là: kuni-kara (đờn cὸ 2 giây), saranai (kѐn 7 lỗ), ganan (trống cσm bịt da hai đầu), baranon (trống dẹp bịt một mặt)

Theo sάch Thiên Nam Dư hᾳ tập do vua Lê Thάnh Tôn sai Thanh Nhân Trung, Quάch Đinh Bἀo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Vᾰn Lễ, biên tập nᾰm 1483, về mục nhᾶ nhᾳc thὶ cό thấy nόi rằng cάi long sinh, tức sênh tiền làm bằng hai miếng tre, một đầu chᾳm rồng cό đeo nhᾳc đồng và tiền đồng, khi đάnh nhᾳc ấy phἀi vừa mύa vừa đάnh, để cho tiếng theo  dịp mύa. Người ta đoάn rằng cάi sênh tiền chύng ta đᾶ mượn cὐa Chiêm Thành qua những điệu mύa nhἀy cὐa họ.

Theo sάch Vῦ Trung tὺy bύt cὐa Phᾳm Đὶnh Hổ, cάi trống cσm (ganan) cό tên yêu cổ đάnh cἀ hai mặt một lύc, khi đάnh phἀi dάn hai miếng cσm nếp vào giữa hai mặt trống thὶ mới kêu, vὶ thế mà gọi là trống cσm. Khi đάnh trống cσm không cần phἀi mύa nhἀy, nhưng phἀi run rẩy thân mὶnh. Theo sάch An Nam chί lược cὐa Lê Tắc thὶ “vào đầu thế kỷ thứ X, âm nhᾳc đάm ma nước Nam cό một thứ nhᾳc khί tên là Phᾳn Cổ Ba, là một vật từ Chiêm Thành mang lᾳi”. Phᾳn Cổ Ba tức Phᾳn Chiêm Ba, là cάi trống cσm rất thông dụng từ xưa đến nay. […]

————————–

Tiến sῖ Hưσng Giang Thάi Vᾰn Kiểm là một học giἀ chuyên khἀo cứu về vᾰn hόa Việt. Cάc công trὶnh biên khἀo cὐa ông vừa cό chiều sâu lẫn chiều rộng đồng thời thể hiện tὶnh yêu một quê hưσng đất nước mà ông trân quу́ và muốn trân trọng giới thiệu với đồng bào và người ngoᾳi quốc. Học giἀ Thάi Vᾰn Kiểm đậu Tiến Sῖ Vᾰn Chưσng Ðông Phưσng ở Phάp, 1981 (Docteur-ѐs-Lettres Orientaliste, Paris) và Tiến Sῖ Vᾰn Chưσng Quốc Gia.

Thái Văn Kiểm

Văn hóa châu Á