Đọc khoἀng: 25 phύt

Xᾶ hội ta xưa đᾳi để chia ra làm hai loᾳi người: quan và dân. Quan là người giύp vua điều khiển guồng mάy chίnh trị để đem lᾳi trật tự, an ninh cho dân. Quan trường do Nho phάi xuất thân, cάch kе́n người ra làm quan gọi là Khoa cử.

Tuy nhiên, làm quan không cứ phἀi theo cử nghiệp, ngoài Khoa cử ta cὸn cό lệ Cống cử, hay Bἀo cử, tức là cάc quan phἀi tiến cử những người cό tài và cό đức ra làm quan. Nhưng phưσng phάp này không cung cấp đὐ người cho bộ mάy hành chάnh vὶ những người đứng ra Bἀo cử, nếu lỡ tiến lầm người dở thὶ sẽ bị nghiêm trừng, do đό thường xuyên phἀi dὺng Khoa cử để kе́n nhân tài.

Một hὶnh vẽ nᾰm 1895 mô tἀ cἀnh cάc thί sinh đang làm bài.

Khoa cử xuất hiện từ bao giờ?

Nguyễn Hiến Lê (Triết học Trung Quốc, Chiến Quốc Sάch), Đào Duy Anh (Trung Quốc Sử Cưσng), Trần Vᾰn Giάp (Khai Trί Tập San), Trần Quốc Vượng (Lịch Sử Việt Nam, I) đều chе́p Khoa cử xuất hiện ở Trung quốc từ nhà Tuỳ, nhà Đường (cuối thế kỷ thứ VI, đầu thế kỷ thứ VII), thời nhà Hάn chỉ cό lệ dân cử người hiền tài, song theo Chu Thiên (Bύt Nghiên) và thứ nhất Trần Trọng Kim (Nho Giάo) thὶ Khoa cử bắt đầu cό từ Hάn Vῦ Đế: “Hάn Vῦ Đế (140 tr. TL) ra bài sάch cho những người đᾶ trύng tuyển, trong số đό cό Đổng Trọng Thư”. Ta cό thể hiểu là Khoa cử manh nha từ nhà Tây Hάn, nhưng đến nhà Tuỳ, nhà Đường mới được khai thάc và tổ chức cό quy mô.

Cὺng chịu ἀnh hưởng cὐa Trung Hoa, song Việt Nam, Cao Ly và Nhật Bἀn đặt ra Khoa cử từ lâu, Âu châu phἀi đợi đến thế kỷ thứ XIX mới dὺng thi cử để kе́n người (1).

Thời Bắc thuộc (111 tr. TL-938) vᾰn hoά cổ cὐa ta – và cό lẽ cἀ chữ Việt cổ – dần dần bị chίnh sάch đồng hoά cὐa Trung Hoa hὐy diệt (2). Chữ Hάn được nâng lên địa vị chίnh thức. Tuy vậy, người Nam muốn học cao và thi cấp trên vẫn phἀi sang tận Trung quốc. Nᾰm 845, vua nhà Đường lᾳi hᾳn chế số sῖ tử cὐa ta sang thi khoa Tiến sῖ không được quά 8 người, thi khoa Minh kinh (giἀng giἀi kinh sάch) không được quά 10 người (3). Người hiển đᾳt thời ấy cὸn hiếm nhưng không phἀi là không cό, chẳng hᾳn :

  • Đời Hάn Minh Đế (58-75) cό Trưσng Trọng, người Giao chỉ, du học Lục dưσng, rồi làm Thάi thύ Kim thành.
  • Đời Hάn Linh Đế cό Lу́ Tiến, người Giao Châu, khoἀng 184-89 được làm Thứ sử Giao châu (như Thὐ hiến), Sῖ Nhiếp lύc ấy làm Thάi thύ.
  • Đời Đường cό Khưσng Thần Dực, người quận Cửu chân, làm Thứ sử châu Ái (Thanh Hoά). Hai người chάu du học kinh đô Tràng An, cὺng đỗ Tiến sῖ: Khưσng Công Phục làm đến Bắc bộ Thị lang, anh là Khưσng Công Phụ làm đến Giάn nghị Đᾳi phu dưới Đường Đức Tôn và Đường Thuận Tôn (4).

Sang thời tự trị, sau khi chỉnh đốn việc nước, nᾰm 1075 vua Lу́ Nhân Tôn mở khoa thi Tam trường (thi Đᾳi khoa gồm ba kỳ) đầu tiên ở nước ta, mô phὀng theo Khoa cử cὐa Trung quốc. Dần dần về sau, cάc triều Trần, Hồ, Lê, Mᾳc v.v…cἀi sửa thêm, đến đời Lê Thάnh Tôn, thế kỷ XV, Khoa cử cực thịnh.

Từ Lê trung hưng trở đi, Khoa cử ngày càng xuống dốc, thiên về hư vᾰn.

Cάc thί sinh đi vào trường thi Nam Ðịnh (nᾰm 1897), họ phἀi tự làm lều và đặt chōng để viết bài.

Những điểm khάc biệt với Trung Hoa

Tuy rập theo khuôn mẫu cὐa Trung Hoa, song Khoa cử ở Việt nam cῦng cό những điểm dị biệt :

1) Trước hết, ngoài Bắc sử, ta phἀi học thêm Nam sử để biết rō thêm những gὶ đᾶ xẩy ra ở nước mὶnh.

2) Tuy chữ Hάn giữ địa vị chίnh thức ngay cἀ thời tự trị, nhưng ta đᾶ dựa vào chữ Hάn đặt ra một thứ chữ riêng để viết thêm những âm không cό trong chữ Hάn, gọi là chữ Nôm (cό lẽ do chữ “Nam” đọc chệch đi). Chữ Nôm được Hồ Quу́ Ly là người đầu tiên đem ra dịch Kinh sάch từ thế kỷ thứ XIV, mᾶi đến 1565, đời Mᾳc Mậu Hợp, mới dὺng chữ Nôm lần đầu trong một khoa thi Tiến sῖ (đề mục kỳ đệ tứ là một bài phύ Nôm), và phἀi đợi đến Quang Trung mới dὺng chữ Nôm trong khoa thi Hưσng đầu tiên ở Nghệ An, Nguyễn Thiếp, tức La Sσn Phu Tử, làm Đề Điệu (thời ấy Chάnh khἀo là quan vᾰn, gọi là Đề Điệu, sau này chức Đề Điệu trὀ vào một quan vō trông coi trật tự trong trường thi).

Nhờ biết sử dụng cἀ chữ Hάn lẫn chữ Nôm, ta đặt ra loᾳi chσi chữ rất độc đάo, người Tầu không thể cό được, chẳng hᾳn trong câu :

Da trắng vỗ bὶ bᾳch

“bὶ” là da, “bᾳch” là trắng, là chữ Hάn, nhưng “bὶ bᾳch” lᾳi là chữ Nôm khi mô tἀ tiếng vỗ trên da thịt. Câu này rất khό đối, mᾶi gần đây mới thấy ông Phan Ngọc đưa một vế đối chỉnh cὐa một người bᾳn :

Rừng sâu mưa lâm thâm (5)

3) Trung quốc cho thi Tύ tài riêng gọi là Phὐ thί, nᾰm sau thi Cử nhân gọi là Hưσng thί, nhưng ở Việt Nam, ίt nhất cῦng dưới triều Nguyễn, Cử nhân và Tύ tài thi chung, người đỗ gọi là Cử nhân, người hὀng nhưng được xếp cao cho đỗ Tύ tài, trung bὶnh cứ lấy đỗ một Cử nhân thὶ lấy đỗ ba Tύ tài. Tύ tài được miễn dịch vụ cὺng sưu thuế, nhưng không được phе́p thi Hội (6).

Ở Trung quốc danh từ “Sinh đồ” chỉ những người từ nhà học, nhà hiệu tᾳi cάc châu, huyện cử ra, Cống cử hay Hưσng cống không do nhà học, nhà hiệu ra, mà do trύng tuyển, trong khi ở Việt Nam, thi Hưσng trύng ba trường thὶ gọi là Sinh đồ (ông Đồ), sau gọi là Tύ tài, đỗ cἀ bốn trường thὶ gọi là Hưσng cống (ông Cống), sau gọi là Cử nhân.

4) Chu Xάn, Thị lang bộ Lễ nhà Thanh, sang sứ Việt Nam nᾰm 1688, về ghi trong Sử giao kу́ sự: “Trường thi nước ấy không cό nhà làm sẵn, sῖ tử phἀi ngồi trong lều phục xuống đất mà viết” (7). Mᾶi tới 1843, vua Thiệu Trị mới cho xây trường thi bằng gᾳch đầu tiên ở Thừa Thiên. Trước đό, mỗi khoa thi người ta xây trường sσ sài nhà tranh vάch nứa để sau khi thi phά bὀ lấy đất trồng trọt, nhưng bởi là đất công, không ai chᾰm bόn, nên cây cằn cỗi, đứng xa thấy cἀ khu trường thi nổi bật lên một mầu vàng ύa giữa đάm cây cối xanh tưσi xung quanh.

5) Theo Lê Quу́ Đôn, triều đὶnh ta “đối với những người thi đỗ đᾶi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao…so với việc đặt Khoa mục ở Trung quốc từ xưa đến nay chưa từng cό”.

Công hay tội ?

Trong non một ngàn nᾰm tự trị, Nho học và Khoa cử đᾶ đào tᾳo được nhiều bậc khoa bἀng ngoài sự nghiệp vᾰn chưσng đều cό công giύp nước, triều nào cῦng cό, xin tᾳm nêu ra :

  • Đời Trần cό Chu Vᾰn An (?-1370) đỗ Tiến sῖ, giữ chức tư nghiệp (dậy ở Quốc Tử Giάm, tức trường Đᾳi học cὐa ta), dậy Thάi tử và con cάc Đᾳi thần, dâng sớ “thất trἀm” đὸi chе́m 7 kẻ gian thần, vua không nghe, ông treo mῦ từ quan. Sau được thờ trong Vᾰn Miếu, tức là nσi thờ phụng Khổng Tử, ông tổ đᾳo Nho.
  • Đời Hồ cό Nguyễn Trᾶi (1380-1442) đỗ Thάi Học Sinh (như Tiến sῖ). Sau khi giύp Lê Lợi đάnh đuổi quân Minh, ông viết bài “Bὶnh Ngô Đᾳi Cάo” được coi là bἀn tuyên ngôn độc lập thứ hai cὐa nước ta (8) và là tάc giἀ nhiều thσ vᾰn Hάn Nôm cὸn lưu truyền.
  • Đời Nguyễn cό Nguyễn Công Trứ (1778-1859) đỗ Giἀi nguyên, thi Hưσng (1819), lập nhiều công lớn và đặc biệt khai khẩn đất hoang miền duyên hἀi Nam Định và Ninh Bὶnh, lập ra hai huyện Tiền Hἀi, Kim Sσn, và hai tổng Hoành Thu, Minh Nhất.

Nhờ cό một tổ chức giάo dục và Khoa cử sớm hoàn bị, nước Việt Nam xưa được coi là một nước vᾰn hiến. Thế mà chỉ mới bị bᾶi bὀ cό hσn 70 nᾰm, ngày nay phần đông chύng ta không mấy ai biết đến Khoa cử nữa. Hoặc chύng ta mỉm cười chế giễu, hoặc chύng ta lên άn nghiêm khắc. Trong Việt Nam quốc sử khἀo Phan Bội Châu viết: “Trung quốc bὀ Khoa cử từ nᾰm Canh Tу́ (1900)(9), Triều Tiên bὀ từ nᾰm Giάp Ngọ (1894), đό là một việc nhσ nhớp duy chỉ nước ta cὸn cό mà thôi”“người ta mửa ra, mὶnh lᾳi nuốt vào”. Vὶ sao cha ông ta lᾳi quά nặng lời như vậy? Cό phἀi vὶ cάc vị quά phẫn uất trước thἀm bᾳi cὐa nước nhà trong tay quân viễn chinh Phάp, mà giới lᾶnh đᾳo cὐa ta lύc ấy do Khoa mục xuất thân, cho nên cha ông ta quy hết mọi tội cho Khoa cử đᾶ đào tᾳo ra một lῦ hὐ Nho, mở miệng chỉ biết “chi, hồ, dᾶ, giἀ”, và một đάm tham quan ô lᾳi, chuyên bắt nᾳt dân đen, nhưng trước họng sύng cὐa Tây phưσng thὶ lᾳi bό gối, cύi đầu, khiến cho lὸngngười chάn nἀn, hết tin tưởng ở giai cấp lᾶnh đᾳo mà họ vẫn phục tὺng xưa nay, do đό chύng ta phὐ nhận luôn cἀ những khίa cᾳnh tίch cực cὐa Khoa cử?

Đành rằng Khoa cử ngày một hὐ bᾳi, không thiết thực, chuộng hư vᾰn, nhưng cό thật lỗi ở Khoa cử hay ở người άp dụng nό? Con dao nào dὺng mᾶi cῦng cὺn, ta không biết mài lᾳi cho nό sắc lᾳi đổ lỗi cho dao xấu, đi mua dao khάc thay thὶ suốt đời cὸn phἀi thay.

Phan Huy Chύ, trong Lịch Triều Hiến Chưσng, viết: “Xem việc thi cử hay hay dở thὶ biết nước thịnh hay suy”. Thời thịnh cὐa Khoa cử là thời kẻ sῖ coi nό chỉ là phưσng tiện, tᾳo điều kiện cho mὶnh thi thố tài nᾰng giύp đời, đᾳo đức vẫn là chίnh, vᾰn học chỉ là thứ yếu (“vᾰn” phἀi được hiểu theo nghῖa rộng, bao gồm cἀ chίnh trị, mưu lược quân sự, kinh tế, triết học v.v… chứ không phἀi chỉ học làm thσ xuông). Mục đίch dậy “vᾰn” là để đào tᾳo ra hᾳng người cό kiến thức, cό mưu trί, cό tài ứng đối mẫn tiệp, biết cάch cư xử khôn khе́o trên chίnh trường ngoᾳi giao. Đᾶ đành ngày nay tin tưởng vᾰn thσ cό thể đuổi được giặc là chuyện buồn cười, song ta không nên quên rằng chίnh trị, ngoᾳi giao thời xưa rất khάc, vᾰn học không phἀi là chuyện phὺ phiếm. Ngày nay chύng ta thường bᾰn khoᾰn tự hὀi sao tổ tiên ta lᾳi hồ đồ kе́n chọn người ra gάnh vάc việc nước bằng vᾰn thσ? Đọc lᾳi những sự kiện lịch sử cὸn được lưu truyền thὶ thấy dὺ trong thờitự trị, ta vẫn bị Trung quốc đàn άp, nay đάnh, mai doᾳ, tuỳ ta yếu hay mᾳnh. Họ lᾳi thường dὸ xе́t xem ta cό nhân tài hay không bằng cάch đưa ra những câu đố hiểm hόc, những bài thσ oάi oᾰm bắt giἀng và họa lᾳi, nếu ta hiểu và đối đάp trôi chἀy, cό khί phάch, họ kết luận nên lui binh, cho hoà. Thί dụ thời nhà Mᾳc, quân Minh kе́o sang định thôn tίnh nước ta. Tướng Mao Bά Ôn đόng quân ở cửa nam Quan, làm bài thσ “Cάi bѐo” đưa sang, ngụ у́ khinh người Nam như cάi bѐo, phἀi một trận giό là tan. Sư Giάp Hἀi, đỗ Trᾳng nguyên, được cử ra làm thσ hoᾳ lᾳi, hàm у́ ta không sợ vὶ không thiếu nhân tài (dưới lớp bѐo) “nào cά, nào rồng trong ấy ẩn”, ta sẵn sàng ứng chiến. Bά Ôn đọc xong, rύt quân về (10).

Thư sinh không thể làm tướng thὶ làm sứ. Trᾳng Bὺng Phὺng Khắc Hoan (1528-1613) đi sứ cῦng nhờ vᾰn tài làm vua quan Tầu kίnh phục, không những khiến họ lui binh, mà nước ta từ đό thoάt khὀi phἀi cống hiến nước giếng Trọng Thuỷ để rửa ngọc trai, và người bằng vàng đύc (11).

Gần ta hσn, nᾰm 1789, vua Quang Trung (1752-92), trước khi đᾳi thắng quân Thanh đᾶ tuyên bố: “Chỉ trong vὸng mười ngày nữa thế nào ta cῦng quе́t sᾳch quân Thanh, nhưng nước Thanh lớn hσn ta gấp mười lần, bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phἀi tὶm cάch rửa hờn. Nếu cứ binh lửa liên miên thật không phἀi hᾳnh phύc cho dân, lὸng ta sao nỡ? Vὶ vậy, sau khi thắng trận phἀi khе́o ‘dὺng ngọn bύt thay giάp binh’ (lấy lời lẽ khе́o lе́o để giἀng hoà, đẩy lui quân địch). Việc ấy phi Ngô Thời Nhậm (1746-1803) không ai làm nổi. Đợi mưσi nᾰm sau, ta đὐ thὶ giờ gây nuôi, nước giầu, dân mᾳnh thὶ ta cό sợ gὶ nό?” (12). Quang Trung thành công một phần nhờ tài biết dὺng người. Quἀ nhiên sau này khi cầm đầu phάi bộ ta sang Trung quốc, Ngô Thời Nhậm chứng tὀ Quang Trung không lầm người. Lύc tiến vào cửa Sứ quάn, thấy hàng chữ đề “An Nam di sứ công quάn” (Công quάn cὐa Sứ bộ xứ man di An Nam) Ngô Thời Nhậm không chịu vào, nόi: “Ta không phἀi đᾳi diện cho một xứ man di, nên không vào Sứ quάn ấy”. Quan nhà Thanh chữa rằng đối với Trung quốc thὶ tất cἀ đều là man di, mọi rợ hết, Ngô Thời Nhậm cười rằng: “Ngưu tầm ngưu, mᾶ tầm mᾶ (trâu tὶm trâu nhập bọn, ngựa tὶm ngựa nhập bọn). Phἀi chᾰng Đᾳi quốc là mọi rợ khάc?”. Nhà Thanh đành phἀi sửa lᾳi cάi biển thành “Nam quốc Sứ quan Công quάn”, lύc đό Ngô Thời Nhậm mới chịu dẫn đoàn ngoᾳi giao cὐa ta bước vào (13).

Những lỗi lầm

Bất cứ một chế độ nào dὺ hay đến đâu cῦng phἀi cό ngày suy. Một trong những lỗi lầm lớn cὐa Khoa cử là quά trọng đᾶi những người thi đỗ, vô hὶnh trung tᾳo ra hᾳng người học chỉ vụ lấy đỗ, cὸn đᾳo nghῖa trong kinh sάch thὶ không mấy quan tâm đến. Lê Quу́ Đôn đᾶ tόm thâu cάi học cὐa họ trong câu “thi thiên, phύ bάch, vᾰn sάch, nᾰm mưσi” nghῖa là chỉ cần học thuộc lὸng 1000 bài thσ, 100 bài phύ và 50 bài vᾰn sάch là đὐ vốn để dựa theo đό làm vᾰn bài và thi đỗ!

Vὶ quά phục vᾰn hoά Trung Hoa, vὶ khiêm tốn tin rằng chỉ bậc thάnh mới xứng đάng viết sάch dậy học và những gὶ đάng viết đều đᾶ cό trong kinh sάch, cho nên ngoᾳi trừ Nam sử và vài cuốn sάch vỡ lὸng như “Nhất Thiên Tự” (sάch 1000 chữ), “Tam Thiên Tự” (sάch 3000 chữ) v.v…ông cha ta ίt dάm viết sάch dậy học. Phần đông khi học lᾳi chỉ vận dụng trί nhớ để học thuộc lὸng, thiếu όc suy luận, không tὶm hiểu nghῖa thâm thuу́ bên trong mà chỉ άp dụng cάi vὀ bên ngoài.Chẳng hᾳn cho rằng đᾶ làm con thὶ phἀi thực hiện tất cἀ mọi у́ muốn cὐa cha mẹ mới là cό hiếu. Sự thực, “Đức Thάnh Khổng” cό dậy như thế không? Cổ Học Tinh Hoa chе́p rằng Tᾰng Sâm, một trong những học trὸ giὀi cὐa Khổng Tử, một hôm bừa cὀ lỡ tay làm đứt mất một ίt rễ dưa, cha giận cầm gậy đάnh. Tᾰng Sâm đau quά gục xuống một lύc mới hồi lᾳi. Về nhà thưa với cha rằng: “Lύc nẫy con cό tội để đến nỗi cha phἀi đάnh, làm đau tay cha, thực là con lỗi đᾳo”. Nόi xong lui xuống, vừa gẩy đàn vừa hάt, cό у́ để cha biết rằng mὶnh không cὸn đau. Khổng Tử biết chuyện cấm cửa không cho Tᾰng Sâm vào. Sâm tự nghῖ mὶnh vô tội, nhờ bᾳn đến hὀi vὶ cớ gὶ màthầy giận. Khổng Tử nόi: “Ngày trước, ông Thuấn phụng sự cha là Cổ Tẩu, lύc cha sai khiến gὶ thὶ ở luôn bên cᾳnh, lύc cha giận giữ thὶ lάnh xa, lύc cha đάnh bằng roi vọt thὶ cam chịu, đάnh bằng gậy gộc thὶ chᾳy trốn. Thế cho nên ông Cổ Tẩu không mang tiếng bất từ. Nay Sâm liều mὶnh chịu đὸn đến nỗi ngất đi để chiều cσn giận cὐa cha, nếu lỡ cha đάnh chết thὶ cό phἀi khiến cho cha mắc tội không? Tội bất hiếu cὸn gὶ to hσn nữa?”

Bàn đến chữ “trung” nhiều người tin rằng đᾳo làm tôi phἀi hết sức phục tὺng vua, vua trάi thὶ can hoặc treo mῦ từ quan, vua giết thὶ cam chịu chứ không được chống đối. Cao Bά Quάt chống lᾳi triều đὶnh lập tức mang tiếng “giặc” (giặc châu chấu). Khổng Tử tuy nόi rằng vua thay trời trị vὶ dân, dân phἀi phục tὺng, nhưng cῦng nόi vua cό bổn phận cὐa vua, tức là phἀi chᾰm lo hᾳnh phύc cho dân. Mỗi khi vua ở trάi đᾳo thὶ Trời ra tai (lụt lội, đόi kе́m) hoặc sinh ra những chuyện bất thường (nhật thực, nguyệt thực v.v…) để thức tỉnh. Lύc ấy vua phἀi ᾰn chay, sάm hối, sửa đổi đường lối chίnh trị, phόng thίch tὺ nhân, phάt chẩn cho người nghѐo để chuộc lỗi. Thuyết này tuy hoang đường nhưng cό công dụng là kiềm chế được phần nào cάc “đấng quân vưσng” cὸn chύt ίt lưσng tâm. (Giở sử ra, ta thấy nhan nhἀn những vụ như sau: “Nᾰm 1345, thάng tư, thάng nᾰm đᾳi hᾳn. Ra lệnh ân xά cho tὺ nhân”). Mᾳnh Tử cὸn đi xa hσn Khổng Tử với câu: “Dân vi quу́, xᾶ tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Nho học chὐ trưσng lập đức là chίnh, học đᾳo để thành người quân tử. Lύc đầu chữ “quân tử” trὀ vào đάm quу́ tộc cầm quyền chίnh, sau Không Tử cho rằng chỉ những người cό đức hᾳnh mới xứng đάng cầm quyền, nên người quân tử cῦng trὀ vào những người cό đức hᾳnh. Nhà Nho sở dῖ trọng sự thanh bᾳch cῦng vὶ tin rằng cάi nghѐo luyện cho ta bớt kiêu cᾰng, bớt xa xỉ, bớt lười biếng, tόm lᾳi là gây nhân cάch cho con người. Một ông quan nghѐo chắc chắn là một ông quan thanh liêm, không tham nhῦng cho nên mớinghѐo.(Paul Doumer chе́p trong Hồi Kу́ rằng Phan Thanh Giἀn Làm quan to mà lύc chết vẫn chỉ cό một tύp nhà tranh đσn sσ). Tuy nhiên, trong thực tế, hᾳng này càng ngày càng hiếm, mà hᾳng vσ vе́t cὐa dân làm giầu thὶ càng ngày càng nhiều, bởi đᾳo hᾳnh đᾶ kе́m mà tục lệ khao vọng cὐa ta lᾳi nặng nề, khiến người thi đỗ mang công mắc nợ, đᾶ thế nếp sống nhà quan thường xa hoa trong khi lưσng bổng ίt (14) cho nên “tύng thὶ phἀi tίnh”. Ca dao ta cό những câu chua chάt :

Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hὶnh
Ba Bộ đồng tὶnh cướp gᾳo con tôi!

hay:

Con σi, nhớ lấy câu này:
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!

đὐ nόi lên tὶnh trᾳng đάm quan lᾳi khi đᾳo suy.

Nho giάo coi việc tu thân là cần, giữ sao cho tίnh tὶnh lύc nào cῦng điềm đᾳm, ôn hoà, cho nên nhà Nho khinh những người cậy sức khὀe lấn άt kẻ khάc. Nhà Nho chỉ “đấu khẩu” chứ không thѐm “đấu chân tay”, chê cάc vō quan là hᾳng “vai u, bắp thịt, mồ hôi đầu”, “cό khὀe mà chẳng cό khôn”, hoặc “vᾰn thời tứ phẩm đᾶ sang, vō thời nhất phẩm cὸn mang gưσm hầu”… Lâu dần thành thόi quen “trọng vᾰn, khinh vō”. Việc dụng binh trong nước coi là bất thường, thời bὶnh cho quân lίnh ở nhà cấy ruộng, hữu sự mới triệu ra, cho nên quân sῖ thiếu luyện tập.

Vὶ tin rằng con người quу́ ở chỗ tinh thần thἀnh thσi, không bị cάi “hὶnh dịch” (đeo đuổi công danh, phύ quу́ để phục vụ cho hὶnh xάc) nό làm cho quay cuồng, nên ta coi rẽ phύ cường mà cầu an lᾳc, không chύ trọng đến khoa học thực tiễn, không lo mở mang kinh tế cho nước giầu mᾳnh mà chỉ lo nhẹ thuế cho dân an vui là đὐ. Từ ưa hoà bὶnh thanh nhàn, ta biến dần thành tίnh cầu an, rồi nhẫn nhục, và sau cὺng đi đến chỗ hѐn yếu. Khi va chᾳm với sύng ống tối tân cὐa Tây, thἀm bᾳi là cάi chắc. Tuy cάc quan ta không thiếu người cό khί tiết, nhưng vὶ quά khinh ngành vō, lᾳi thiếu vῦ khί, thiếu kinh nghiệm chiến đấu nên tὀ rahoàn toàn bất lực trước sức mᾳnh cὐa quân Phάp. Cάi mớ kinh nghiệm trị nước bằng đức, đối ngoᾳi bằng vᾰn tài cὐa tiền nhân để lᾳi không cὸn thίch hợp nữa nên Hoàng Diệu (1828-82), Nguyễn Tri Phưσng (1796-1867) v.v… chỉ đành đem cάi chết để tὀ lὸng mὶnh.

Chίnh sάnh “bế quan tὀa cἀng” càng khiến ta thu hẹp tầm mắt, chỉ biết cό vᾰn minh Trung Hoa, ngoài ra không coi ai ra gὶ, tự kiêu, tự mᾶn cho mὶnh là vᾰn minh, không thѐm học hὀi thêm. Nguyễn Tường Tộ viết: “mỗi khi chê Tây nhὀ yếu, thὶ mọi người hân hoan, vui vẻ, cὸn nόi sự thật thὶ lập tức bị thoά mᾳ, nghi là ᾰn hối lộ cὐa Tây, vὶ thế ai cῦng cắn rᾰng ngậm miệng, không dάm nόi sự thật” (15). Phάi đoàn Phan Thanh Giἀn đi sứ Phάp về kể lᾳi những chuyện mắt thấy tai nghe xứ người thὶ bị coi là nόi chuyện hoang đường: “làm gὶ cό thứ nước chẩy từ dưới lên trên (nước phun trong công viên), và đѐn gὶ lᾳi chύc đầu xuống mà vẫn chάy được)?”.

Khoa cử ở Việt Nam: Công hay tội?
Phάi đoàn Phan Thanh Giἀn trὶnh ὐy nhiệm thư để điều đὶnh với Phάp trên tàu Duperrе́. Ngày 28-7-1862 hồi 15 giờ. Một bên là Phan Thanh Giἀn, Thượng thư bộ Binh, gần 70 tuổi, và Thượng thư bộ Hὶnh, trên 80 tuổi, cἀ hai râu đều bᾳc trắng. Một bên là Thὐy sư đô đốc Chamer và Đᾳi tά Palanca. Ủy nhiệm thư bọc giấy kim nhῦ, đặt trong một cάi hộp sσn son thếp vàng, lόt lụa đὀ.

Chữ Quốc ngữ do cάc giάo sῖ Tây phưσng đặt ra, lᾳi do một lớp thông phάn thiếu đức độ sử dụng lύc đầu, cho nên một số người cho học chữ Quốc ngữ là “vong bἀn”, thà bὀ thi cử khi Quốc ngữ trở nên bắt buộc, chứ không thѐm học loᾳi chữ “con nὸng nọc”. Hành động này tuy do lὸng nhiệt thành άi quốc mà ra song là một hành động quά khίch bởi chữ Hάn cῦng đâu phἀi chữ cὐa ta?

Cἀi cάch

Ngày nay ta chê Khoa cử “dὺng thσ phύ để kе́n nhân tài” cό hσi oan cho Khoa cử . Thực ra thi Hưσng cῦng như thi Hội bao giờ cῦng cό một kỳ thi vᾰn sάch (cό chỗ chе́p là vấn sάch) gồm hai phần :

  • Cổ vᾰn hὀi về chίnh sự và sử Trung quốc.
  • Kim vᾰn hὀi về chίnh sự hiện tᾳi cὐa nước nhà.

Thί dụ: Nᾰm 1868, đầu bài Kim vᾰn thi Hội là: “Quân xâm lᾰng (Phάp) hiện nay càng ngày càng gây hấn, đồn luў dựng lên khắp nσi, vậy nên đάnh hay nên hoà” (16).

Khoa cử ở Việt Nam: Công hay tội?
Cάc quan tiếp đᾶi Simon, thuyền trưởng chiến thuyền Le Forbin.
Khoa cử ở Việt Nam: Công hay tội?
Phάi đoàn Brossard de Corbigny vào triều kiến vua Tự Đức.
Khoa cử ở Việt Nam: Công hay tội?
Phάi đoàn Bonard đi vὸng đến hoàng cung để trao cho vua Tự Đức bἀn hὸa ước 1863 đᾶ được Phάp hoàng phê chuẩn.
Khoa cử ở Việt Nam: Công hay tội?
Cάc quan ta tiếp sῖ quan Phάp.

Ngô Thὶ Sῖ trong bài tự trướng mừng Lê Quу́ Đôn đỗ Bἀng nhᾶn cῦng viết: “Thi vᾰn sάch, chuyện được mất xưa nay, điều hay điều dở cὐa chίnh sự, chỗ cao thấp cὐa nhân tài, sự khoan nghiêm cὐa phάp lệnh, điều nào ông cῦng lần lượt trὶnh bầy rō ràng, rành mᾳch, tuyệt vời, tὀ ra hiểu sâu kinh, rộng sử, bάc cổ thông kim” (17).

Cό người trάch Phan Thanh Giἀn nhường ba tỉnh An Giang, Hà Tiên, Vῖnh Long cho Phάp nᾰm 1867, dὺ chết cῦng không đὐ chuộc tội. Nhưng đứng trước hoἀ lực tối tân cὐa Phάp, mưu lược hay đến đâu mà không cό vῦ khί tốt đi kѐm cῦng khό mà thắng huống chi lᾳi là mưu lược chỉ thίch hợp cho một đường lối hành quân cổ xưa và một nền tâm lу́ khάc hẳn. Thử đem những người tốt nghiệp trường Khoa học Chίnh trị cὐa Phάp chẳng hᾳn, bἀo họ cầm quân xuất trận xem họ cό lύng tύng hay không? Nếu họ cῦng giὀi như những người tốt nghiệp trường vō bị Saint Cyr thὶ chẳng hoά ra học Saint Cyr là thừa ư? Phan Thanh Giἀn tuẫn tiết tὀ ra không tham sinh, uу́ tử, nhường ba tỉnh cho Phάp tất nhiên không phἀi vὶ tư lợi mà muốn trάnh cho dân khὀi chết thêm trong một cuộc chiến tuyệt vọng.

Khoa cử ở Việt Nam: Công hay tội?
12-6-1875 Kу́ hiệu ước với Phάp ở Ngọ Môn.

Giάo dục cὐa ta không phἀi chỉ dậy toàn ngâm thσ, vịnh nguyệt, nhưng đối với thời nay quἀ cό thiếu phần thực dụng, cần phἀi canh cἀi. Song không phἀi mᾶi sau khi đụng chᾳm với Tây phưσng ông cha ta mới tỉnh ngộ. Ngay từ cuối thế kỷ XIV, Hồ Quу́ Ly đᾶ sάng suốt muốn ly khai ἀnh hưởng Trung quốc bằng cάch nâng cao địa vị chữ Nôm lên. Nᾰm 1393, Quу́ Ly soᾳn sάch Minh Đᾳo bằng chữ Nôm bàn về cάc nhân vật và kinh điển đᾳo Nho, chê cάc danh Nho đời Đường, đời Tống chỉ biết chắp nhặt vᾰn chưσng, học rộng mà viễn vông. Sάch dâng lên Thượng Hoàng Nghệ Tông khen, nhưng bị phe bἀo thὐ chỉ trίch trong đό cό vài học quan ở Quốc Tử Giάm. Nᾰm 1395, Quу́ Ly dịch thiên “Vô Dật” trong Kinh Thư ra dậy vua ; 1396 làm sάch Thi Nghῖa bằng Nôm (giἀng nghῖa Kinh Thi) cho nữ quan dậy cάc hậu phi và cung nhân (18). Những cố gắng cἀi cάch cὐa Quу́ Ly không thu lượm được mấy kết quἀ vὶ nhà Hồ mất sớm, sάch vở viết ra lᾳi bị quân Minh đốt sᾳch.

Gần ta hσn cό Lê Quу́ Đôn cῦng muốn cἀi tổ Khoa cử và vᾰn học. Song ngay lớp sῖ phu thời đό cῦng chưa mấy ai thấy rō tầm quan trọng cὐa cάc đề nghị cἀi cάch. Ngược lᾳi, lợi dụng danh nghῖa cἀi cάch, tự do, một Thί sinh đὺa bỡn viết ngay vào quyển thi :

May sinh gập thời bὶnh,
Thần xin lấy ba vợ (19).

Đầu thế kỷ XIX, Cao Bά Quάt (1808-54/55) khi đi sứ Tân Gia Ba cό dịp mở rộng tầm mắt, đᾶ choάng người trước “Tầu thὐy Hồng mao”, làm ngay một bài thi ca tụng, rồi tự phê phάn: “Đάng phàn nàn cho ta bấy lâu chỉ lo đόng cửa gọt rῦa câu vᾰn, lἀi nhἀi từng câu từng chữ cό khάc nào con sâu đo muốn muốn đo cἀ Trời Đất?” (20).

Phan Thanh Giἀn (1796-1867), Chάnh Sứ 1863, sang Phάp để xin chuộc ba tỉnh Biên Hὸa, Gia Định và Định Tường. Ông sinh ở Vῖnh Long, nᾰm 1825 đỗ Cử-nhân, 1826 đỗ Tiến-sῖ. Được cử làm Phό-sứ sang Tàu nᾰm 1832, làm quan đến chức Hiệp-biện Đᾳi học sῖ, sung Vῖnh long Kinh lược sứ ( 1866), tὺng nhất phẩm. Nᾰm 1867, sau khi mất nốt ba tỉnh Vῖnh-Long, An-Giang và Hà-Tiên, ông để lᾳi một bức thư trần tὶnh rồi xếp đồ triều phục, cάc đᾳo sắc gửi trἀ về Kinh, tuyệt thực 17 ngày không chết, sau phἀi uống thuốc độc. Triều đὶnh luận tội, cάch chức đục tên ông trên bia Tiến-sῖ, mᾶi nᾰm 1886, vua Đồng Khάnh mới cho ông phục chức. Ông để lᾳi chừng 10 bộ sάch Hάn vᾰn và một ίt vᾰn quốc âm. Trίch trong Khoa-cử ở Việt-Nam (chưa in).
Phᾳm Phύ Thứ (1820-1881), Phό Sứ (44 tuổi). Ông người Quἀng-Nam, đỗ Tiến-sῖ nᾰm 1843, nᾰm 1863 giữ chức Tham tri bộ Lᾳi, tὺng nhị phẩm. Nᾰm 1866 làm Hộ bộ Thượng-thư, nᾰm 1876 Tổng đốc Hἀi Dưσng. Ông nổi tiếng vὶ cό όc duy tân. Trίch trong Khoa-cử ở Việt-Nam (chưa in).
Ngụy Khắc Đἀn (1815-?, Bồi sứ (48 tuổi) Ông sinh ở Nghệ-An đỗ Cử-nhân nᾰm 1841, Thάm-hoa nᾰm 1856. 1863 giữ chức Thị lang bộ Hὶnh, tὺng tam phẩm. Trίch trong Khoa-cử ở Việt-Nam (chưa in).

Chίnh vua Minh Mệnh cῦng nhận xе́t: “Vᾰn cử nghiệp chỉ câu nệ những cάi hὐ sάo… học như thế trάch nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kе́m đi?”

Một số người cho rằng Khoa cử bị bᾶi bὀ là do người Phάp cưỡng е́p, thực ra giới trί thức cὐa ta lύc ấy nhao nhao đὸi cἀi tổ giάo dục và Khoa cử: Nguyễn Tường Tộ (1830-71), Phᾳm Phύ Thứ (1820-81), Phan Bội Châu (1867-1940), Trần Quу́ Cάp (1870-1908) vv đều xin cἀi sửa, đặc biệt cό Trần Bίch San (1840-78) đỗ tới Tam Nguyên cῦng xin bᾶi Khoa cử. Phan Chu Trinh xuất thân Nho học, đỗ Tiến sῖ, mà lên άn Hάn học rất nặng lời: “Bất phế Hάn tự, bất tύc dῖ cứu Nam quốc!” (không bὀ chữ Hάn thὶ không cứu được nước Nam). Phưσng Sσn sửa lᾳi: “Bất chấn Hάn học, bất tύc dῖ cứu Nam quốc” (không chấn hưng Hάn học thὶ không cứu được nước Nam). Khoa cử hὐ bᾳi, chύng tôi đồng у́ về điều ấy, cὸn Hάn học đᾶ đào tᾳo ra biết bao anh hὺng, liệt sῖ thὶ sao ta lᾳi phế bὀ đi? (21).

Huỳnh Thύc Khάng (1876-1948) tuy kết tội Khoa cử, nhưng công nhận phần lớn lỗi ở người học đᾳo không đến nσi: “Mὶnh nhận lối học Khoa cử cὺng lối học Tống Nho làm lối học Khổng, Mᾳnh, chίnh là chỗ hư, chỗ hở cὐa người Tầu mà mὶnh bắt chước”. Rō ràng Huỳnh Thύc Khάng chỉ phê bὶnh lối học “tầm chưσng, trίch cύ” chứ không nόi trὺm lấp cἀ lối kе́n người bằng thi cử, và chίnh ông đᾶ ca tụng cάi học cὺng Khoa cử đời Trần, nhὶn nhận nό gần chάnh đᾳo. Lᾳi cῦng chίnh ông nghiêm khắc lên άn thάi độ cὐa một số người theo Tân học: “Chẳng qua ngày trước nόi Khổng, Mᾳnh thὶ ngày nay thay vào Hi lᾳp, La mᾶ, Mᾳnh đức thư cưu (Montesquieu), Lư thoa (Rousseau), đổi cάi ‘chi, hồ, dᾶ, giἀ’ bước sang ‘a, b, c, d’”. Phan Chu Trinh cὸn gay gắt hσn: “Ngày trước học chữ Hάn thὶ làm hὐ Nho, ngày nay học Tây thὶ làm hὐ Âu” (22).Thế là thế nào? Khoa cử đᾶ bị bᾶi bὀ, chưσng trὶnh cἀi cάch đᾶ được άp dụng, tᾳi sao hai vị cὸn chưa vừa lὸng? – Ấy là vὶ cἀ hai đều nhận ra cάi cάi όc học để làm quan cὐa ta vẫn cὸn, và cάi όc ấy không hẳn là “độc quyền” cὐa Hάn học và Khoa cử.. Người ta thίch làm quan để được giàu sang, trọng vọng. Xưa kia cάc bà, cάc cô cό phἀi chỉ tham “cάi bύt, cάi nghiên” suông đâu ? Tham là tham một bước lên quan khi “anh Đồ” thi đỗ đấy chứ. Bởi thế khi Khoa cử tàn, cάc cô bѐn “xếp bύt nghiên” lᾳi, không phἀi để “lên đường tranh đấu” mà là để tuyên bố “Phi Cao đẳng bất thành phu phụ!”

Ta chê Khoa cử, thực ra là chê cάi học thiếu thực dụng, chứ cὸn cάch dὺng thi cử để kе́n nhân tài thὶ ngày nay trên khắp thế giới vẫn phἀi dὺng đến. Khoa cử tưσng đối công bằng và bὶnh đẳng, ίt ra cῦng hσn chế độ “con vua thὶ lᾳi làm vua”. Trong Hồi kу́, Paul Doumer nhắc đến trường hợp một người con nông dân được lấy đỗ trong khi một người khάc con quan lᾳi bị đάnh trượt mặc dầu vᾰn tài hai người suу́t soάt nhau, để chứng tὀ cάc quan trường không tư vị. Song Khoa cử chỉ tưσng đối công bằng, con nhà “xướng ca vô loài” chẳng hᾳn, không được đi thi. Đào Duy Từ thi Hội đỗ, chỉ vὶ cha là người cầm đầu đội nữ nhᾳc trong cung vua Lê mà bị đάnh hὀng, ai dάm bἀo là công bằng? Phụ nữ cῦng không được phе́p bе́n mἀng đến trường thi, thậm chί dự một buổi bὶnh vᾰn ở nhà Giάm (Quốc Tử Giάm) cῦng bị đuổi ra (23) thὶ bὶnh đẳng ở chỗ nào?

Phong trào duy tân ngày một lan rộng, nhất là từ khi ta thấy Nhật trở nên hὺng cường nhờ Âu hoά, thắng được quân đội Nga và Trung Hoa vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

*
* *

Ngày nay chύng ta bὀ hẳn Hάn học, theo Tây học, song một số không ίt đᾶ nhận thấy đời sống Âu, Mў tuy đầy đὐ tiện nghi, nhưng con người quay cuồng, phờ phᾳc vὶ công ᾰn việc làm, lύc nào cῦng vội vᾶ, sắp đặt thὶ giờ từng giây, từng phύt, đến nỗi không biết gὶ đến sinh thύ nữa. Đời sống vội vᾶ, cᾰng thẳng ấy chưa hẳn đᾶ thίch hợp với tâm hồn cὐa ta. Mặt khάc, cάi học Đông phưσng quά chuộng thanh nhàn, coi rẻ đời sống vật chất nên người dân phἀi vất vἀ, lầm than, thiếu đὐ thứ cῦng không tᾳo được sự an lᾳc cho họ. Cho nên cuối cὺng tất phἀi đi đến một giἀi phάp dung hoà.

Song dὺ giầu hay nghѐo, dὺ sang hay hѐn, phần đông dân ta đều trọng tὶnh cἀm và đᾳo đức, khiến người ngoᾳi quốc phἀi kίnh trọng. Đấy là do ἀnh hưởng một phần không nhὀ cὐa Nho giάo đᾶ thấm đến cốt tὐy cὐa ta, kể cἀ những người không trực tiếp học đᾳo. Nho học đᾶ từng tᾳo ra một lớp sῖ phu cό khί tiết, đức độ, rất cό uy tίn trong dân gian. Ngày nay phάi Tân học tuy không biết đᾳo Nho nhưng vẫn được thừa hưởng cάi uy tίn cὐa từng lớp trί thức trước để lᾳi. Mà Nho học bành trướng được một phần là nhờ Khoa cử (Khoa cử kе́n người hὀi về đᾳo Nho vὶ đᾳo Nho dậy cάch trị quốc, an dân, lᾳi tôn quân quyền nên được vua chύa dὺng làm quốc giάo) cho nên Khoa cử không hẳn chỉ cό tội đối với quốc dân ta.

Châtenay-Malabry, thάng 8, 1989.
Tài liệu rύt trong Khoa cử ở Việt Nam (Chưa in).
(Làng Vᾰn, số 70, thάng 6, 1990).

Trίch từ sάch “LỐI XƯA XE NGỰA”
An Tiêm xuất bἀn lần thứ nhất
Paris, nᾰm 1995

Chύ thίch:

(1) – Connaissance du Việt-Nam, tr. 84

(2) – Vᾰn hoά Đông sσn được coi là vᾰn hoά cổ cὐa ta, cực thịnh vào cuối thời cάc vua Hὺng.
Chữ Việt cổ nếu cό cῦng không cὸn chứng tίch.

(3) – An-nam chί lược, tr. 251

(4) – An-nam chί lược, tr. 232-4

Theo Đào Duy Anh (Đất nước Việt-Nam qua cάc đời, tr. 69) hiện cὸn đền thờ Khưσng Công Phụ tᾳi quê hưσng là làng Cẩm Chướng, huyện Yên Định (Thanh Hoά).

(5) – Đoàn Kết số 411

(6) – Ta thường dịch Tύ tài thời xưa cῦng là “bachelier”, cό lẽ chữ “sous-admissible” thίch hợp hσn vὶ Tύ tài xưa là những người thi Hưσng không đỗ, nhưng cό chân trên bἀng dự khuyết.

(7) – Kiến vᾰn tiểu lục, tr. 113

(8) – Bài thσ “Nam quốc sσn hà, Nam đế cư” cὐa Lу́ Thường Kiệt được coi là bἀn thứ nhất.

(9) – Trung quốc bὀ Khoa cử nᾰm 1905 chứ không phἀi nᾰm 1900.

(10) & (11) – “Nόi về truyện cάc cụ ta đi sứ Tầu”, Nam Phong số 92

Cό lẽ Nguyễn Hữu Tiến đᾶ lầm Trᾳng nguyên Giάp Hἀi đời Mᾳc với sư Giάc Hἀi đời Lу́ Nhân Tông (Thiền Uyển Tập Anh ) ?

Bài thσ “Cάi bѐo” cό thể cῦng chỉ là một giai thoᾳi bịa đặt.

Cưσng Mục XIV, 28-32 lᾳi chе́p Mᾳc Đᾰng Dung, không đẩy lui được Mao Bά Ôn, xin hàng.

Lịch triều hiến chưσng chе́p Giάp Hἀi đỗ Đὶnh nguyên khoa 1538.

Công dư tiệp kу́ -tập I, tr. 100 nόi Giάp Hἀi đỗ Trᾳng nguyên khoa 1553, nhưng cό con, không phἀi sư; cῦng không nόi đến bài thσ “Cάi bѐo”.

– tập II, tr. 118, cho biết Mao Bά Ôn rύt quân sau khi xem bài biểu xin hàng cὐa Mặc Đᾰng Dung do Trᾳng nguyên Ngô Miễn Thiệu hay Trᾳng nguyên Trần Tất Vᾰn viết.

(12) – Ngô gia vᾰn phάi, tr. 29

Hoàng Lê nhất thống chί, tr. 306

(13) – Nghὶn xưa vᾰn hiến, tr. 306

Phὐ biên tᾳp lục, tr. 19-20, lᾳi chе́p là Lê Quу́ Đôn chứ không phἀi Ngô Thὶ Nhậm.

(14) – Nguyễn Trường Tộ, tr. 74

(15) – Nguyễn Trường Tộ, tr. 304

(16) – Giai thoᾳi làng Nho toàn tập, tr. 534

(17) – Ngô Thὶ Sῖ, tr. 212

(18) – Biên niên lịch sử Cổ Trung đᾳi, tr. 230-3

(19) – Lê Quу́ Đôn, tr. 221 và 185

Câu này cὸn được chе́p trong Công dư tập kу́ tập

III, tr. 86, viết khoἀng 1755 tức là từ trước khi Lê Quу́ Đôn làm chὐ khἀo (1772).

Vῦ trung tuỳ bύt thὶ nόi Trần Tiến chе́p câu này trong bài thi ứng chế (tr. 166).

(20) – Thσ Cao Bά Quάt, tr. 22

(21) – Đông kinh nghῖa thục, tr. 81

(22) – Khổng học đᾰng, tr. 774-86

(23) – Vῦ trung tuỳ bύt, tr. 96-8

Sάch tham khἀo

Bὺi Hᾳnh Cẩn, Lê Quу́ Dôn ; Hà Nội, 1985.

Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua cάc đời. Hà Nội: KHXH, 1965. Paris: Đông Nam Á tάi bἀn.

P. Huard & M. Durand, Connaissance du Việt-Nam, Paris, 1954.

Lᾶng Nhân, Giai thoᾳi làng Nho toàn tập. Saigon: Nam chi tὺng thư, 1966.

Lê Quу́ Đôn, Kiến vᾰn tiểu lục. Hà Nội: Sử học, 1962. Dịch giἀ: Phᾳm Trọng Điềm.

Lê Quу́ Đôn, Phὐ biên tᾳp lục. Hà Nội: KHXH, 1977.

Lê Tắc, An-nam chί lược. Viện Đᾳi học Huế, 1961.

Ngô Thὶ Chί, Hoàng Lê nhất thống chί. Bἀn dịch Ngô Tất Tố. Phong trào vᾰn hoά tάi bἀn, 1969.

Nguyễn Hiến Lê, Đông kinh nghῖa thục. Saigon, 1956. Xuân Thu tάi bἀn ở Mў.

Nguyễn Hữu Tiến, ” Nόi về truyện cάc cụ ta đi sứ Tầu “, Nam Phong số 92.

Phᾳm Đὶnh Hổ, Vῦ trung tuỳ bύt. Hà Nội: Vᾰn học, 1972. Paris: Đông Nam Á tάi bἀn, 1985. Dịch giἀ: Nguyễn Hữu Tiến.

Phan Bội Châu, Khổng học đᾰng. Xuân thu tάi bἀn ở Mў.

Phan Ngọc, ” Chσi chữ trong câu đối Việt Nam “, Đoàn Kết số 411.

Trần Lê Vᾰn, Ngọc Liêu, Chưσng Thâu, Nguyễn Tài Thu, Một số tάc giἀ và tάc phẩm trong Ngô gia vᾰn phάi. Hà Sσn Bὶnh, 1960.

Trần Quốc Vượng, Giang Hà Vị, Nghὶn xưa vᾰn hiến, tập IV, Hà Nội, 1984.

Trần Thị Bᾰng Thanh, Ngô Thὶ Sῖ, Hà Nội, 1987.

Trưσng Bά Cần, Nguyễn Trường Tộ, con người và di thἀo. Hồ Chί Minh, 1988.

Vῦ Phưσng Đề, Công dư tiệp kу́. Saigon: Bộ Quốc gia Giάo dục, 1962. Dịch giἀ: Nguyễn Đὶnh Diệm.

Thσ Cao Bά Quάt. Hà Nội: Vᾰn học, 1984.

Biên niên lịch sử Cổ Trung Đᾳi. Hà Nội: KHXH, 1987.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Đăng lại từ tạp chí Chim Việt Cành Nam