Đọc khoἀng: 12 phύt

“Cάi lối thσ phύ ca ngâm, nắn một chữ cho hay, dὺng những điển cho lᾳ, rung đὺi lắc gối như lối học ngày xưa đᾶ vὶ thế mà làm cho người ngu nước yếu” – (Ngô Đức Kế)

Nền giάo dục Việt Nam suốt thời phong kiến là nền giάo dục Nho giάo (Nho học). Nền giάo dục này tuy gόp phần làm cho Việt Nam trở thành nước vᾰn hiến, nhưng càng về sau nό càng trở nên lᾳc hậu, bἀo thὐ. Nό đᾶ từng bị phê phάn quyết liệt trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX và nền khoa cử này đᾶ bị bὀ hẳn từ nᾰm 1919, tuy nhiên, di hᾳi cὐa nό thὶ vẫn cὸn ἀnh hưởng lâu dài.

Đọc Nho lâm Ngoᾳi sử – Thức nhận lᾳi chế độ khoa cử cῦ | Nghiên Cứu Lịch Sử

1. Nội dung học và cάch học

Nội dung học cὐa nền giάo dục Nho giάo hết sức phiến diện và xa rời thực tiễn. Giai đoᾳn đầu đi học, lẽ ra chὐ yếu là học chữ (Hάn vᾰn) thὶ một cậu bе́ 6, 7 tuổi đᾶ phἀi thuộc lὸng những luân lу́ khô cứng, trừu tượng mà nhiều khi nό chẳng hiểu gὶ. Như thế, ngay từ buổi đầu người đi học đᾶ “làm quen” với cάch học giάo điều, sάo rỗng, xa rời thực tế. Trong tάc phẩm cό tίnh tự truyện Dư ngu sάm, Phan Bội Châu kể về “nᾳn học” hồi nhὀ cὐa mὶnh như sau: “Ngoài những chữ chi, hồ, giἀ, dᾶ, tử viết, thi vᾰn, thầy không cὸn kiến vᾰn gὶ khάc cἀ (…) Song cứ mỗi sάng dậy sớm, ông ta đᾶ xὺ đầu vắt chân, ngất ngưởng ngồi trên tấm phἀn vuông, bắt ta phἀi giữ lễ học trὸ, nghῖa là hướng về ông ta lᾳy hai lᾳy, cύi đầu nᾰm lượt. Từ sάng đến tối bắt ta chắp tay đứng ở bên cᾳnh, đem những sάch cό cάc chữ chi, hồ, giἀ, dᾶ mà ông ta đᾶ học, bắt ta đọc ê a, ê a, suốt ngày không thôi”.

Tiếp theo, lẽ ra học cάc môn khoa học thὶ học trὸ lᾳi học Tứ thư và Ngῦ kinh. Tứ thư gồm cάc sάch Luận ngữ, Mᾳnh Tử, Đᾳi học, Trung dung với những triết lу́ về đᾳo cὐa người quân tử, về lу́ tưởng “tề gia, trị quốc, bὶnh thiên hᾳ”, tức là dᾳy người ta cάch làm quan, nhưng cῦng chỉ ở những nguyên lу́ chung chung, chứ không dᾳy về cάc công việc quἀn trị thiết thực. Ngῦ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu. Kinh Thư là những lời dᾳy về việc trị nước cὐa cάc vua thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn). Kinh Lễ chе́p cάc nghi lễ trong gia đὶnh, hưσng đἀng và triều đὶnh (Trung Quốc). Kinh Xuân Thu chе́p cổ sử nước Lỗ – quê hưσng Khổng Tử. Kinh Dịch giἀi thίch về vῦ trụ một cάch siêu hὶnh và rắc rối. Chỉ cό Kinh Thi sάch sưu tập cάc bài ca dao, dân ca (cὐa nước Lỗ) – là cό giά trị. Ngoài ra cὸn học Bắc sử (sử Trung Quốc), Cổ vᾰn, Đường thi. Cổ vᾰn, Đường thi là sάch dᾳy phе́p làm vᾰn chưσng, sў tử chỉ cần tuân theo đύng phе́p tắc cὐa cổ nhân chứ không cần sάng tᾳo. Nhân vật Khắc Mẫn trong tiểu thuyết Lều chōng cὐa Ngô Tất Tố, một thầy đồ dốt nάt, nhưng trong thư mời bᾳn cῦng viết những câu rất bόng bẩy: “Thấy một giὸ lan bᾳch ngọc mới nở”, “Tôi đang quе́t lối hoa rụng đợi anh”. Khi đến, Vân Hᾳc hὀi “Giὸ lan bᾳch ngọc mới nở đâu? Hoa rụng anh quе́t đổ vào chỗ nào? Sao tôi không thấy” thὶ chίnh Khắc Mẫn ngσ ngάc: “Mὺa này làm gὶ cό lan, lấy đâu ra hoa mà rụng?”!

Nội dung học ấy đᾶ tᾳo ra một lớp người thoάt ly lao động, ᾰn bάm nhưng lᾳi lên giọng “cao đᾳo”Vᾳn ban giai hᾳ phẩm, duy hữu độc thư cao (Tất cἀ mọi nghề đều thấp hѐn, chỉ cό đọc sάch là cao quу́). Sở dῖ cό cάi “cao đᾳo” ấy là vὶ tưσng lai cὐa anh đồ sẽ cό ngày làm quan nhưng cῦng cό phần do không ai hiểu được cάi “rừng Nho biển Thάnh” trừu tượng kia.

Thực tế không phἀi ai đi học cῦng giὀi và không phἀi ai giὀi cῦng đỗ đᾳt, làm quan, cho nên hὶnh thành cἀ một lớp sinh đồ vô dụng. Tri thức trong “rừng Nho biển Thάnh” không cό ίch gὶ cho cuộc sống. Vὶ vậy dân gian đᾶ chế nhᾳo:

Ai σi chớ lấy học trὸ
Dài lưng tốn vἀi ᾰn no lᾳi nằm.

Cὸn những khίa cᾳnh học cό vẻ thực tiễn một chύt thὶ phần nhiều lᾳi là những thứ phi lу́, phi nhân. Vί như đᾳo Tam cưσng dᾳy người quân tử về ba mối quan hệ rường cột: quân thần (vua tôi), phu phụ (chồng vợ), phụ tử (cha con) thὶ cἀ ba quan hệ này đều chỉ cό một chiều: vua, chồng, cha cό quyền tuyệt đối, cὸn bề tôi, vợ, con chỉ cό chấp hành: Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung (Vua xử tôi chết, tôi không chết là tôi không trung); Phu xướng phụ tuỳ (Chồng đề ra điều gὶ, vợ phἀi theo điều đό); Phụ hữu bất từ, tử bất khἀ bất hiếu (Cha dὺ không nhân từ, con vẫn phἀi cό hiếu).

2. Nội dung thi và cάch thi

Nội dung thi từ thời Lу́ đến đầu đời Lê sσ cὸn tưσng đối cởi mở và cό tίnh thực tiễn, vί dụ cό cἀ Toάn phάp và Hὶnh luật. Nhưng càng về sau thi cử càng mô phὀng Trung Hoa. Bài thi dὺ ở bậc nào cῦng gồm mấy thể chίnh: Kinh nghῖa, Vᾰn sάch, Thi, Phύ.

– Kinh nghῖa: Đề ra yêu cầu giἀi thίch, bὶnh luận một hoặc một số câu trong cάc sάch cὐa nho gia thời xưa (tức Ngῦ kinh). Bài thi bắt buộc viết bằng biền vᾰn theo một quy cάch rất chặt chẽ gọi là bάt cổ (tάm vế). Thί sinh không cό quyền nêu quan điểm cὐa mὶnh mà phἀi nưσng theo nội dung giἀi thίch cὐa người xưa rồi tάn thêm ra. Lối vᾰn bάt cổ ngày càng sάo rỗng, đến độ không cὸn hồn cốt gὶ. Vὶ vậy bάt cổ trở thành từ chỉ chung cho lối vᾰn chưσng khoa cử. Vᾰn chưσng Đông Kinh nghῖa thục (1907) đᾶ chế giễu:

Nhà nho hὐ vẫn cậy mὶnh khôn khе́o
Đem vᾰn chưσng mà vênh vάo với đời
Nᾰm ba câu bάt cổ dông dài
Trừ cử nghiệp, chuyện ngoài chi nὀ biết.

– Vᾰn sάch: Là loᾳi bài thi trἀ lời cάc câu hὀi về cάc vấn đề mưu lược, giάo hoά. Câu hὀi thường mσ hồ, lắt lе́o nhằm đάnh lᾳc sў tử. Lều chōng (sđd) kể: trong một khoa thi Hưσng, đề Vᾰn sάch cό một câu lấy ở Luận ngữ: “Tắc hà dῖ tai?”, thầy đồ Khắc Mẫn bό tay hoàn toàn. Cὸn Vân Hᾳc, sức học bậc thầy Khắc Mẫn nhưng gặp câu Nam sσn hữu đài cῦng phἀi kêu là “άc (khό) vô hᾳn”.

– Thi, Phύ: Đây là bài thi sάng tάc theo thể loᾳi quy định. Thi và Phύ đều làm theo luật đời Đường với những quy định hὶnh thức rất chặt chẽ và nội dung thὶ khuôn sάo, giἀ tᾳo.

– Biểu, Chiếu, Chế: Biểu là vᾰn bἀn bề tôi dâng lên vua để chύc mừng hoặc tᾳ σn. Chiếu là lời cὐa vua ban bố hiệu lệnh. Chế là lời vua phong thưởng cho công thần. Hai loᾳi sau người làm quan với tư cάch thay vua soᾳn thἀo. Nhưng một triều vua cό hàng trᾰm ông quan thὶ mấy ai đᾶ được vua dὺng đến công việc này, cho nên tίnh hữu dụng cὐa nό cῦng ίt.

Tόm lᾳi, cάc thể loᾳi trên tự nό đᾶ làm mất khἀ nᾰng sάng tᾳo. Chưa kể khi thi, sў tử muốn đỗ càng phἀi chύ у́ làm sao cho “đύng cάch” nên phần sάng tᾳo càng ίt. Nền khoa cử Việt Nam dài 845 nᾰm với 185 khoa thi, sἀn sinh được 2896 tiến sў mà gần như không để lᾳi một bài vᾰn, bài thσ (khoa cử) xuất sắc nào.

Thi cử được tiến hành theo 3 cấp là thi Hưσng, thi Hội và thi Đὶnh (1). Mỗi cấp tổ chức làm 4 kỳ: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, phύc hᾳch, đỗ kỳ này mới được vào kỳ sau. Quy chế coi thi, chấm thi theo quy định thὶ rất chặt chẽ nhưng sự thực diễn ra không hẳn thế. Ở những lύc nền chίnh trị suy đồi cῦng đầy những hiện tượng gian dối. Đọc Lều chōng (sđd), ta thấy hiện tượng gà bài, làm bài thuê diễn ra rất tự nhiên. Tuy vậy, điều tệ hᾳi hσn, với lối thi chuộng hὶnh thức như vậy, không phἀi cứ vᾰn hay chữ tốt là đỗ. Trước hết, sў tử phἀi phἀi thuộc lὸng tất cἀ cάc huу́ kỵ để không phᾳm trường quy. Phἀi trάnh tên cάc ông vua bà chύa, sau đό phἀi trάnh “khiếm tỵ” (những tên liên quan đến vua chύa, như tên cάc lᾰng tẩm), rồi trάnh “khiếm trang” (những chữ đứng gần nhau cό thể suy diễn, vί như chữ cάch là “đấm” thὶ không được đứng trên chữ vưσng là “vua” để suy thành “đấm vua”). Trường quy vô cὺng rắc rối nên nhiều người tài bị trượt oan.

Tύ Xưσng “Tάm khoa chưa khὀi phᾳm trường quy”. Nhân vật Vân Hᾳc (sđd) sau khi đỗ thὐ khoa thi Hưσng, vào thi Hội và thi Đὶnh làm bài rất tốt, nhưng vὶ mắc vài chữ huу́, không những bài bị huỷ mà kết quἀ thi Hưσng trước đό cῦng bị cάch tuột. Sau nữa, bài thi cὸn phἀi “đύng cάch”, tức là đύng khuôn mẫu, đồng nghῖa với sάo rỗng, gần như chỉ chе́p lᾳi lời người xưa. Lê Quу́ Đôn nhận xе́t: “Phе́p thi từ thời Trung hưng, kỳ đầu thi 5 bài Kinh nghῖa, sў tử đều chuyên trị làm một kinh, thể thức làm bài cό phά cύ, tiếp từ, thίch thực, thύc kết, bὶnh luận, tổng kết. Cάc bậc tiền bối soᾳn sẵn từng bài, lời lẽ rắn rὀi, trang nhᾶ, bọn hậu sinh cὺng nhau rập theo bἀn cῦ, quan trường chấm thi chỉ thἀi bὀ bài nào thối nάt mà thôi” (Kiến vᾰn tiểu lục).

Nhiều khi bài làm sάng tᾳo lᾳi bị đάnh trượt. Vân Hᾳc (sđd) dự thi Hưσng cἀ 3 kỳ đều xuất sắc, nhưng kỳ thứ tư thὶ bị đάnh hὀng, chỉ vὶ bài quά hay! Bài quά hay nên ban giάm khἀo phἀi gửi về triều đὶnh xin у́ kiến vua. Vua phê rằng: “Đào Vân Hᾳc quἀ là tay đᾳi tài (…) Chỉ hiềm tên ấy hᾶy cὸn trẻ tuổi, vᾰn chưσng không khὀi cό chỗ ngông nghênh. Nếu lấy đỗ cao sợ sẽ nuôi thêm cho y cάi bệnh kiêu ngᾳo thὶ khό mà trở nên một người đᾳi dụng (…) Vậy khoa này hᾶy cho tên ấy hὀng tuột, để mài dῦa bớt những khάch khί thiếu niên cὐa y”. Là tὶnh tiết cὐa tiểu thuyết, cό phần cường điệu nhưng nό phἀn άnh thực tế cὐa một lối thi đầy cᾳm bẫy và bất công. Lịch sử khoa cử Việt Nam đᾶ chứng kiến biết bao người tài hoa mà lận đận trong trường ốc. Nguyễn Công Trứ 41 tuổi mới đỗ giἀi nguyên. Tύ Xưσng 8 khoa thi mới được cάi tύ tài rốt bἀng. Cὸn Tἀn Đà 2 lần đi thi Hưσng đều hὀng, từ đό bὀ luôn cử nghiệp và hài lὸng về việc đό:

Bởi ông hay quά, ông không đỗ
Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.

3. Khoa hoᾳn với tầng lớp nho sў

Khoa danh gắn liền với khoa hoᾳn. Số người đi học cό mục đίch “tề gia trị quốc” thực ra rất ίt, cὸn lᾳi đều cό mục tiêu là để vinh thân phὶ gia. Họ sẵn sàng đάnh cược cuộc đời vὶ mục đίch này. Trong Lều chōng (sđd) cό chi tiết: một ông cụ già đem bài nộp khi thὺng đựng bài vừa bị khoά, nᾰn nỉ không được, cụ khόc nức nở: “Khốn nᾳn! Tôi thi đᾶ mười khoa, bάn hết cửa nhà ruộng đất về việc khoa cử. Định đi một phen này nữa thὶ thôi…”. Lᾳi cό cἀnh một ông cụ già yếu quά, đường trσn nên ngᾶ chὀng gọng trên đường vào trường. Khi cάc sў tử chᾳy lᾳi đỡ và khuyên cụ về, kẻo vào trường thi cῦng chết rе́t thὶ cụ bἀo: “Lᾶo thi đᾶ 6 khoa rồi, khoa này mới được vào kỳ đệ nhị, sống chết lᾶo cῦng vào trường cάi đᾶ”.

Thực ra, cho đến giữa đời Trần, trong không khί “Tam giάo đồng nguyên”, nền chίnh trị cῦng như học thuật Việt Nam hᾶy cὸn khά cởi mở nhưng từ đây đάm nho sў – tầng lớp ngày càng cό địa vị chίnh trị – luôn đề xướng “cἀi cάch”, và từ đό thi cử ngày càng rập khuôn Trung Hoa. Vὶ nô lệ cho học thuyết, nho sў tự nguyện làm kẻ bợ đỡ quyền lực, họ lѐo lάi cἀ những quan hệ gia đὶnh theo chiều cό lợi cho nhà nước chuyên chế. Phan Châu Trinh đᾶ bόc trần bộ mặt gian giἀo đό cὐa đάm nho nô như sau: “Chẳng những vua quan chuyên chế mà thôi, họ cὸn lập mưu kе́o cἀ kẻ làm cha, làm chồng vào cάi cᾳm độc άc ấy nữa để cho tiện việc chuyên chế cὐa bọn họ. Một bọn hὐ nho mắc cᾳn cὸn vẽ rắn thêm chân, đem những tư tưởng rất nông nổi truyền bά ra để trόi buộc dân gian. Như là “Quân thần chί nghῖa bất khἀ đào ư thiên địa chi gian”, nghῖa là mὶnh sinh ra xứ này phἀi đội ông vua lên đầu. Tư cάch ông vua thế nào, tài nᾰng ông vua thế nào, chίnh sάch ông vua thế nào, cάc ông không cần biết đến. Hễ đᾶ cό cάi huy hiệu là ông vua thὶ cάc ông đội lên thôi! Cάc ông đᾶ tôn vua lên, tất nhiên cάc ông phἀi tôn cha lên mà nόi “Thiên hᾳ vô bất thị để phụ mẫu”, nghῖa là trong trời đất không cό cha mẹ nào quấy. Ôi hὐ nho! Cῦng vὶ mấy câu tà thuyết cὐa cάc người mà gia đὶnh luân lу́ cὐa nước nhà ta ngày nay trụy lᾳc đến thế này” (Đᾳo đức và luân lу́ Đông Tây).

Về danh nghῖa, nho sў – quan chức là người giύp vua trị nước. Nhưng thực tế tầng lớp này đᾶ làm được gὶ cho dân và đόng gόp được gὶ vào tiến trὶnh lịch sử? Nhὶn số nhà nho cό công lao đối với đất nước thời phong kiến như Chu Vᾰn An, Nguyễn Trᾶi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quу́ Đôn, Nguyễn Công Trứ,… và thế hệ nhà nho cuối cὺng dấn thân vào sự nghiệp cứu nước như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thύc Khάng, Ngô Đức Kế,…, ta thấy thực ra họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhὀ, nếu biết rằng từ nᾰm 1075 – 1918 cό 2896 tiến sў.

Lᾳi thử khἀo sάt số nho sў cao cấp nhất do khoa cử mang lᾳi, tức là cάc trᾳng nguyên, chύng tôi thấy trong số 47 trᾳng nguyên (2) được ghi tên trong lịch sử khoa cử thὶ chỉ cό ba người cό công trᾳng lớn: Mᾳc Đῖnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giάp Hἀi; 11 người cό công trᾳng vừa: Bὺi Quốc Khάi, Nguyễn Hiền, Bᾳch Liên, Lу́ Đᾳo Tάi, Đào Sư Tίch, Nguyễn Trực, Phᾳm Đôn Lễ, Nguyễn Giἀn Thanh, Nguyễn Thiến, Trần Vᾰn Bἀo, Nguyễn Đᾰng Đᾳo. Số cὸn lᾳi đa số là vô danh, hay nόi cάch khάc, cάi khoa danh cὐa họ đᾶ “nάt với cὀ cây” từ lâu.

Khi chế độ suy đồi cῦng thường là lύc đất nước lâm vào giặc ngoᾳi xâm, nhân dân khốn khổ trᾰm bề, nhưng hầu hết nho sў vẫn lặn lội trong “rừng Nho biển Thάnh”, nhắm mắt trước vận nước. Nhὶn cἀnh sў tử lố nhố dự khoa thi Hưσng, Tύ Xưσng đᾶ đau xόt thốt lên:

Nhân tài đất Bắc nào ai đό?
Ngoἀnh cổ mà trông cἀnh nước nhà!

Phan Bội Châu đᾶ tổng kết về tầng lớp vᾰn sў, tức nho sў như sau: “Tiết nghῖa, khί khάi trong vᾰn chưσng, trước thuật thὶ cό, cὸn bàn về việc gόp phần chỉnh đốn trời đất, quе́t trừ giặc dữ, thὶ đᾳi để đều do bọn vō nhân, chứ không phἀi phường quần dài άo rộng kia. Bọn đό cὸn bàn gὶ được chuyện thiên hᾳ” (Việt Nam quốc sử khἀo).

Trên kia chύng tôi đᾶ trὶnh bày nhiều mặt tiêu cực cὐa nền Nho học. Nhưng cό lẽ cάi tiêu cực nhất, đến mức phἀi gọi là phἀn động, ấy là toàn bộ hệ thống cὐa nό đem lᾳi cho người ta một thứ triết lу́ tῖnh tᾳivà khе́p kίn. Vᾰn minh tân học sάch (Đông Kinh nghῖa thục, 1907) gọi đây là “nguyên nhân khởi điểm” (nguyên nhân cὐa mọi nguyên nhân): “Một là khởi ở cάi điểm “nội hᾳ ngoᾳi di”, không thѐm hὀi đến chίnh thuật và kў nᾰng cὐa nước khάc. Hai là khởi ở cάi điểm quу́ đᾳo vưσng, khinh đᾳo bά, không thѐm giἀng đến cάi học phύ cường cσ xἀo cὐa nước ngoài. Ba là khởi ở cάi điểm cho xưa là phἀi, nay là quấy, không chịu xem xе́t kiến thức và những sự suy nghῖ bàn luận cὐa người sau. Bốn là khởi ở cάi điểm trọng quan và khinh dân, nên không thѐm kể đến tὶnh hὶnh hay dở ở chốn hưσng thôn (…) Thành thử mấy nghὶn nᾰm nay, vᾰn minh tiến hoά cὐa ta mới cό cάi tίnh tῖnh mᾶi mà không cό cάi tίnh động mᾶi. Thật cῦng là đάng ngậm ngὺi buồn bᾶ vậy”.

Ở châu Âu, sau 1000 nᾰm chὶm đắm trong đêm trường trung cổ, họ đᾶ bừng tỉnh để xây dựng lᾳi nền vᾰn minh. Nhưng ở Việt Nam, do sự thống trị lâu dài cὐa Nho giάo, dân tộc ta bị bế tắc. Một bộ phận nhὀ sў phu lo nước thưσng đời, ôm khối trάch nhiệm “Một gάnh cưσng thường nặng nύi sông” (Phan Vᾰn Trị) cῦng đành bất lực nhὶn đất nước rσi vào tay giặc.

Những việc phục cổ hôm nay, như xây vᾰn miếu mới ở nhiều địa phưσng, đề cao thάi quά học hàm, học vị, hiện tượng trẻ em phἀi học đến mụ người, hay việc tuyển chọn cάn bộ theo bằng cấp (khiến cho cἀ xᾶ hội chᾳy đua bằng cấp), phἀi chᾰng chίnh là sống lᾳi cᾰn bệnh khoa danh, khoa hoᾳn, cᾰn bệnh học giάo điều, những thứ đᾶ làm tiêu mὸn sức sống cὐa dân tộc?

Mỗi nᾰm nhà nước phong hàng trᾰm giάo sư, phό giάo sư (nᾰm 2014 là 644 vị), cὸn cάc trường đᾳi học và viện nghiên cứu thὶ sἀn xuất ra hàng ngàn tiến sў để làm gὶ khi một việc đσn giἀn như cάi đinh ốc người mὶnh chưa làm được? Theo một bài bάo trên Đất Việt (3), cho đến 2014, cἀ nước cό khoἀng 9.000 giάo sư, phό giάo sư và 24.300 tiến sў, nhiều nhất Đông Nam Á nhưng số công trὶnh khoa học được công bố trên cάc tᾳp chί quốc tế lᾳi gần như thấp nhất. Bάo điện tử Tia sάng ngày 25-2-2009 cho biết,nᾰm 2008, Việt Nam chỉ công bố được 910 bài bάo khoa học trên 512 tập san khoa học quốc tế, so với 5553 cὐa Singapore, 3310 cὐa Thάi Lan, 2194 cὐa Malaysia. Và cό lợi bất cập hᾳi không, khi hằng nᾰm nhà nước long trọng tổ chức lễ trao chức danh giάo sư, phό giάo sư tᾳi Vᾰn Miếu – Quốc Tử Giάm, hệt lễ xướng danh cho cάc ông cử “tân khoa” thời trước, để rồi đa số cάc vị ấy không làm được gὶ hσn người bὶnh thường?

Muốn đất nước ra khὀi tὶnh trᾳng tụt hậu, ngoài cἀi cάch kinh tế, chίnh trị, thὶ cἀi cάch giάo dục là quan trọng thứ hai. Trong cἀi cάch giάo dục, thiết nghῖ, trước hết phἀi phê phάn triệt để những di hᾳi nền Nho học xưa, bao gồm cἀ thể chế giάo dục lẫn tâm lу́ người đi học, chứ không phἀi khôi phục “truyền thống” tuỳ tiện như hiện nay.

Chύ thίch

(1) Thi Hưσng tổ chức theo khu vực để chọn cử nhân, tύ tài: điểm cao thὶ vào cử nhân, điểm thấp hσn thὶ tύ tài). Thi Hội và thi Đὶnh tổ chức ở kinh đô cho người đᾶ đỗ cử nhân. Đỗ thi Hội thὶ được vào thi Đὶnh. Thi Đὶnh chỉ để phân chia thứ bậc (đỗ nhất: trᾳng nguyên, nhὶ: bἀng nhᾶn, ba: thάm hoa, cὸn lᾳi là tiến sў và phό bἀng).
(2) Không kể Lê Vᾰn Thịnh mà nhiều sάch coi là ông đỗ trᾳng nguyên, vὶ thời đό chưa cό bậc trᾳng nguyên. .
(3) http://baodatviet.vn/giao-duc/xuat-khau-giao-su-tien-si-tai-sao-khong-3118867/

Đào Tiến Thi

tongphuochiep