Đọc khoἀng: 77 phύt

TỰA

Quyển đầu nόi cάch riêng về mẫu số chung hσn hết cho vᾰn hόa loài người, đό là Mẹ, là nguyên lу́ Mẹ mà hai ông Bachofen và Briffault cho là đang thiếu vắng cάch trầm trọng trong vᾰn minh ngày nay. Nếu hiểu Mẹ là tὶnh yêu thưσng thὶ câu nόi tὀ ra đύng hết sức, đᾶ thế lᾳi thêm công trᾳng làm cho cụ thể thêm, nên đάng được tiếp nối cάch nghiêm tύc. Vὶ vậy quyển “Thάi Bὶnh Minh Triết” này cό thể gọi là bἀn ca vịnh Minh Triết dưới tên MẸ. Ðây là một việc mới lᾳ về lối nόi chữ về thực chất thὶ ngay từ buổi sσ nguyên huyền sử thὶ Mẹ đᾶ được đồng hόa với Minh Triết và mang tên cάc Nữ Thần như Sophia, Athena, Demeter… Cὸn Việt nho thὶ gọi là Nữ Oa, Âu Cσ, Nữ Thần Mộc. Cὸn nguyên lу́ Mẹ thὶ gọi là Khôn (đối với Cha Kiền hay Càn). Chίnh nền khôn ngoan Minh Triết đᾶ mở đầu trὶnh sử muôn dân với những trang huyền sử u linh man mάc và đᾶ từng để lᾳi nhiều ẩn tίch như mẫu hệ, mẫu cư, mẫu quyền, hoặc cάc thần nữ, thần trᾰng…

Khi con người bước vào thời vᾰn minh với lịch sử, với binh bị, với luật phάp với vưσng quyền, mà xᾶ hội học gọi là thời Phụ Hệ thὶ bắt đầu nghiêng mᾳnh sang bên mưu trί, ngược với mẫu hệ nổi về tâm tὶnh, về nhân άi, Việt nho quen nόi là “mẹ non nhân, cha nước trί”. Ðό là thế quân bὶnh siêu lу́ tiên bồng, và chỉ giữ được khi đặt “non nhân trên nước trί”. Nhưng Phụ Hệ đᾶ đặt “nước trί trên non nhân”, nên “non nhân” bị ngᾳt, nhiều nσi bị tắt thở trọn cὺng với nguyên lу́ thân tộc nhân trị, nhường chỗ cho cάc xᾶ hội lу́ với đường lối thống trị chuyên chίnh ngày càng chồng chất nô lệ, chiến tranh, bᾳo tàn.

Nᾰm 1851 ông Bachofen khάm phά thấy vᾰn minh nay thiếu nguyên lу́ Mẹ. Quyển này muốn gόp công vào việc lập lᾳi nguyên lу́ Mẹ bằng cάch quang phục nguyên Nho, cῦng gọi là Việt nho. Ðây là một thứ đᾳo cὸn tàng chứa đầy nguyên lу́ Mẹ, chỉ việc khai quật tận nền thὶ sẽ gặp được nền nguyên Nho Minh Triết đầy khἀ nᾰng đάp ứng mọi nhu yếu thâm sâu cὐa con người. Nền Minh Triết uyên nguyên nọ được Nho gọi ίt bằng tên thần nữ mà phần nhiều bằng tên cάc tổ mẫu cὐa dὸng tộc như Nữ Oa, Âu cσ, Vụ tiên…toàn những vị đᾶ làm nên những việc cό tầm vόc vῦ trụ, như Tổ Mẫu Âu cσ đẻ cάi bọc trứng vῦ trụ, Nữ Oa thάi mẫu thὶ vά trời, tάt bể, mẹ Hi Hὸa tắm cho con mặt nhật rồi Mẹ đem phσi trên cây giâu… Ðό là một vῦ trụ quan tràn đầy hoᾳt lực cao sang chất ngất, mà đồng thời vẫn rất thiết thực và thâm tὶnh. Ðό là dấu cὐa Minh Triết là khἀ nᾰng nối kết hai thάi cực lᾳi với nhau.

Ðể điều chỉnh nền vᾰn minh thời mới quά thiếu tὶnh yêu, thiết nghῖ cần một vῦ trụ quan đầy yêu thưσng chί thiết như vậy. Chίnh vὶ thế mà chύng tôi hay chỉ Minh Triết bằng vài ba tiếng chất ngất yêu thưσng, mênh mông như biển cἀ Thάi Bὶnh: Mẹ. Nguyên lу́ Mẹ. Thάi Bὶnh Minh Triết.

CHÚ THÍCH:

1.

Cό một vài điều liên quan tới mối liên hệ cἀi tổ giữa Tàu với Việt thiết nghῖ cần được bộc bᾳch để trάnh những ngộ nhận cό thể xἀy ra. Ðiều trước hết là trong sάch này vai trὸ Việt coi như quan trong hσn Tàu thί dụ hay dὺng chữ Việt nho hσn Hάn nho, thὶ cάi đό cό đấy nhưng hoàn toàn không hề vὶ coi nhẹ hay chối bὀ những gὶ tốt đẹp giữa hai nước, nhưng vὶ mối liên hệ mới đặt nặng trên vᾰn hόa cὐa đᾳi tộc, thὶ vai chὐ động không cὸn thể nằm trong tay người Tầu nhiều như trước bởi dὺ đύng hay sai thὶ người Ðông nam Á đᾶ quen coi người Tàu như đế quốc chinh phục nên trong việc mưu tίnh phục hưng Ðᾳo lу́ chung toàn miền thὶ không tiện cho người Tàu đứng đầu cάch công khai, mà phἀi chuyển sang Thάi Bὶnh dưσng, trong thực tế phἀi là một nước khάc, bất kỳ nước nào cῦng được và nước này không hề được coi mὶnh là chὐ chi cἀ, mà chỉ như là người đưa thư, một thứ điều hợp viên mà thôi, nhưng là tὶnh nguyện vὶ chưa cό thể chế chi cἀ.

Chίnh trong chiều hướng như thế mà mà một số người Việt nam dάm đứng ra thử làm, trước hết chỉ nghῖ đến cứu vᾶn nền vᾰn hόa cổ, sau là may ra cό thể cứu vớt một số trẻ em không thân nhân nên không được chίnh quyền thâu nhận, cuối cὺng nhὶn ra khἀ thể lớn lao về phίa đᾳi chὐng, nên mới nghῖ đến việc thiết lập “Ðᾳo trường chung cho Ðông Á”, rồi đᾳo “Thất Thất”, rồi cầu cứu mở rộng, mỗi ngày mỗi rộng, như xem trong dự άn Ðᾳo Thất. nhưng l’homme propose, Dieu dispose. Với ÐNA thὶ Dieu=Dân, vᾳn đᾳi chi dân.


CHƯƠNG I: ÐỊA VỊ PHỤ NỮ TRONG VIỆT NHO

1.

Nhiều người cho rằng địa vị phụ nữ Việt quά thấp, cό thể vί với con trâu cày. Câu đό sai nhiều đύng ίt.

Ðύng ίt ở hai điểm: một là Hάn Nho đᾶ hᾳ đàn bà quά đάng gây nên cἀnh chồng chύa vợ tôi. Ðấy là điều ngược với nguyên Nho vốn coi âm dưσng quan trọng như nhau. Hai là do thόi tục cổ thời cῦng như kinh tế thấp kе́m thὐa xưa thὶ nhiều việc nặng nhọc cῦng đến lượt đàn bà phἀi gάnh vάc: đâu đâu cῦng vậy chứ không riêng gὶ xᾶ hội Việt Nho.

Cὸn sai nhiều là khi ta so sάnh với địa vị phụ nữ cάc nσi, cῦng như trἀi qua cάc đời kim cổ sẽ thấy địa vị phụ nữ bên Việt cὸn khἀ trợ hσn rất nhiều. Ðό là điều ίt được nhận ra vὶ thường người ta quen xе́t đoάn theo thời mới là thời đᾶ được kў nghệ làm cho Âu tây trỗi vượt Á châu và cάc châu khάc, chứ cὸn ở thế kỷ thứ 17 khi Âu Á mới gặp nhau thὶ Á châu cό một số điểm trội hσn, trong đό cό nhiều tục lệ nσi cổ Việt dành cho phụ nữ địa vị cao hσn, như nhiều nσi vẫn cὸn truyền đến tận nay là bà đồng tế với ông, nếu không phἀi là một mὶnh bà chὐ tế.

2.

Bên ta tuy cό thόi trọng nam khinh nữ nhưng đό không phἀi do Việt Nho mà do Hάn Nho, và dầu sao cῦng không cό những tục lệ quά khinh nữ kiểu Do Thάi sinh con gάi không thắp nе́n, mẹ phἀi tẩy rửa hai lần(1) hay đàn bà không được trang điểm son phấn, không được đeo ngọc ngà và phἀi đội mῦ để tὀ dấu suy phục(2). Lᾳi cὸn những tục lệ và cἀ luật phάp coi đàn bà như nô lệ, kể cἀ luật Manu bên Ấn độ đᾶ cό lύc ca ngợi người mẹ hết cỡ, nhưng nόi chung vẫn khinh dễ đàn bà, coi là vật hѐn bị kὶm kẹp trong bậc nô lệ, không cho đọc sάch thάnh, không được vào nhà thờ vv… Luật Leviticus vί đàn bà với những con vật cὐa đàn ông nuôi để mang vάc đồ nặng (Leviticus likens her to the beasts of burden owned by the patriarch). Luật Solon (Hi lᾳp) không dành cho phu nữ quyền hành nào hết. Luật Roma đặt đàn bà dưới quyền người quἀn thύc, vὶ cho là ngu đần. Luật Coran coi đàn bà đầy khinh rẻ (second sex. p.90). Cό những tάc giἀ tây phưσng cổ thời gọi đàn bà là cống rᾶnh đô thành “hoặc” trong những con thύ vật thὶ không giống nào đάng hổ ngưσi bằng đàn bà (second sex p. 110). Cὸn vô số câu nόi và luật lệ khinh rẻ và hᾳ nhục đàn bà khiến ngày nay khi đọc đến ta thấy không ngờ trong những xứ vᾰn minh đàn bà đᾶ bị đàn άp khinh khi đến thế và lύc ấy mới nhận ra địa vị phụ nữ trong xᾶ hội Việt Nho thực là cao cἀ.

3.

Nhiều người trάch cứ Nho về chữ “tam tὸng” (cὸn nhὀ theo cha, kết bᾳn theo chồng, chồng chết theo con). Nhưng cό biết đâu rằng nhiều nσi không những tam tὸng, mà cὸn tứ tὸng tức thêm người quἀn thύc.

Riêng việc tam tὸng nên nhớ đến nội dung xem nό cό chứa đựng cάi gὶ khάc hσn là suy phục chᾰng? Trước hết đối với theo cha thὶ không cό vấn đề: con theo cha là thường tὶnh, gάi hay trai cῦng thế: không cό cha đẻ mà theo mới côi cύt khốn khổ. Thứ đến là theo con thὶ hᾶy xе́t xem mẹ theo con phἀi chịu thiệt những gὶ? Thưa không phἀi thiệt gὶ hết mà trάi lᾳi là để đưσc phụng dưỡng giữa sự quấn quίt cὐa con chάu cάch kίnh trong yêu thưσng, chἀ sướng hσn là vào nhà dưỡng lᾶo to vo một mὶnh cô đσn hiu quᾳnh hay sao. Hᾶy nhớ lᾳi những truyện Từ Hi thάi Hậu nắm chίnh quyền, hay khi vua Tự Ðưc đi sᾰn về muộn bị me là bà Từ mẫu lập nghiêm không nόi với, liền tự у́ đi lấy roi để trước mặt mẹ rồi nằm xuống xin mẹ sửa trị. Tuy đό là biệt lệ hᾶn hữu, nhưng nό nόi lên quyền cάc bà khi theo con lớn kinh khὐng khό đâu bằng, vὶ chữ hiếu được nhấn mᾳnh rất nhiều bên Ðông Á nên nόi được địa vị cάc bà khi theo con là sướng nhất.

4.

Chỉ cὸn việc theo chồng thὶ chịu rằng cό sự chênh lệch bất công như chồng được rẫy vợ mà vợ không được rẫy chồng, tức vợ bị khе́p vào khuôn khổ mà chồng thὶ mặc sức tự do, nhưng nên nhớ rằng đό là hiện tượng xἀy ra hầu khắp nσi, đến nỗi người ta cό lу́ để tố cάo cάc luật lệ làm cho mối liên hệ bất công. So sάnh sẽ thấy bên Việt nhiều công bằng hσn, thί dụ trong lễ cưới cό lễ phu thê giao bάi= hai bên bάi nhau chứ không cό lệ riêng vợ bάi chồng, xa biết bao với tục lệ bên Nga ngày cưới bố cằm roi đάnh nhẹ con gάi rồi trao roi cho chàng rể, hàm у́ trao quyền chồng làm chύa, coi vợ là mọi tôi (4). Nσi cổ Việt không dὺng cἀ đến chữ phụ (trong phu phụ) mà ưa dὺng chữ thê (trong phu thê). Chữ phụ nόi lên sự tὺy tὺng, lệ thuộc không cό trong phu thê là ngang hàng: “thê giἀ tề dᾶ”. Trong quyển Au pays d’Annam, les dieux qui meurent, nσi trang 66 ông Paul Veret nhận xе́t phong tục và luật lệ Việt nam đặt vợ ngang hàng vσi chόng:”le code vietnamien place l’е́pouse sur le même rang que le mari”.

Thứ đến đây không nόi quyền lợi mà chỉ phân công “nam ngoᾳi nữ nội”, hàm nghῖa bà là chὐ nhà gọi là “nội tướng”, chίnh bà giữ cὐa. Ai gọi vợ là “nội trợ” là tầm bậy theo kiểu Hάn Nho rồi. Hάn nho phần nào theo du mục coi vợ như tài sἀn cὐa chồng, nên chồng chết muốn vợ thὐ tiết thờ chồng. Nόi phần nào vὶ thὐ tiết được đề cao chứ không thành định chế bό buộc, phưσng chi không đời nào cό vụ sutee như bên Ấn độ bắt vợ phἀi lên giàn hoἀ chết theo chồng hay ίt ra bị coi như tôi mọi như bên xᾶ hội cổ Hi lᾳp, nσi mà trừ ίt biệt lệ cὸn đàn bà không hσn nô lệ bao nhiêu (5). Nhiều nước bên tây lύc trưσc cάc bà gόa không được làm chὐ tài sἀn. Ðàn bà bên Anh mới được giữ tài sἀn từ nᾰm 1882. Bên Việt nam, tài sἀn vợ là cὐa chồng, tài sἀn chồng là cὐa vợ mᾶi từ xa xưa. Lᾳi cὸn về tên: đàn bà Việt lấy chồng rồi cῦng cứ giữ tên cῦ trong giấy tờ. Ðό là điều không cό ở nhiều nσi.

6.

Ngoài lệ “phu thê giao bάi” cὸn cό vụ “đồng tế” trước bàn thờ gia tiên: bắt buộc phἀi cό sự hiện diện cὐa bà thὶ lễ mới thành, đến nỗi nếu bà qua đời lύc ông chưa tới 70 tuổi thὶ bό buộc ông phἀi lấy vợ khάc để cό người đồng tế.

Tόm lᾳi địa vị phụ nữ Việt Nam nόi chung tuy vẫn cὸn cό những điều phἀi cἀi tiến y như cάc phụ nữ trên khắp hoàn cầu, nhưng khi đối chiếu với cάc nσi và xе́t theo luật lệ thὶ địa vị phụ nữ Việt nam phἀi nόi là cao nếu không nhất thὶ cῦng vào hᾳng nhất. Ta sẽ thấy điều ấy rō hσn nữa khi bàn đến tầng triết lу́ ở triệt sau.


CHƯƠNG II: NGUYÊN LÝ MẸ

7.

Nόi đến nguyên lу́ Mẹ là nόi đến đợt sâu xa nhất cὐa vᾰn hόa quen được mệnh danh là triết lу́ siêu hὶnh. Triết Việt đᾶ tόm siêu hὶnh vào ba loᾳi chân lу́ nền tἀng hσn hết rồi chỉ thị bằng cάc số 2, 3, 5.

  • Số 2 chỉ sự Thάi Hὸa giữa Hữu với Vô, giữa động với tῖnh, giữa nhất với đa, giữa tὶnh với lу́, giữa Mẹ với Cha… nghῖa là giữa những trάi ngược như nước với lửa thế mà Hoà hợp được nên gọi là Thάi Hὸa.
  • Số 3 Nhân Chὐ đưa con ngưười lên đến chỗ cὺng cực cό thể đό là tự do, tự lực, tự cường cho tới mức vῦ trụ: ngang cὺng Trời, Ðất.
  • Số 5 Tâm Linh lấy chίnh tâm mὶnh làm nσi tối cao hầu qui hướng về để tὶm điểm mόc nối với toàn thể vῦ trụ. Như vậy là không thể ước mong đᾳt gὶ hσn được nữa. Không thể tiến xa thêm. Tόm lᾳi với những chân lу́ chỉ thị bằng cάc số 2,3,5 đᾶ là đi đến cὺng cực. Vậy mà ta sẽ thấy Mẹ đᾶ xuất hiện trong cἀ ba số đό mà cὸn ở thế thượng phong, thὶ ta biết cό đὐ chứng để quἀ quyết rằng: triết Việt cό đầy đὐ Nguyên lу́ Mẹ. Ta sẽ lần lượt chứng minh như sau.

8.

Trước hết là số 2 với biểu hiệu (thάi cực viên đồ) thὶ Âm xuất hiện bên trάi và ở trên, tức là âm trước dưσng, vợ trước chồng, Mẹ trước cha. Kе́m một bực là thứ tự dưσng âm: đặt dưσng trước âm, càn trước khôn, phu trên phụ thὶ liều mὶnh mất Mẹ. Cὸn khi đi vào duy nào dὺ duy âm hay duy dưσng đều mất nguyên lу́ Mẹ. Việt đᾶ giữ được thứ tự âm dưσng hσn Tàu khi nόi vợ chồng, nhà nước, vài ba, chẵn lẻ… tức đặt âm trước dưσng, khôn trước càn. Tàu nόi Càn Khôn, phu phụ, quốc gia, tham lưỡng, cσ ngẫu… tức đặt dưσng trước âm, tuy cῦng cὸn giữ được nguyên lу́ Mẹ, nhưng đᾶ kе́m đi nhiều, nên quen gọi là Hάn nho, tức là nho đᾶ bị bẻ quặt. Tuy nhiên cὸn khά hσn những nền vᾰn hόa không cὸn số 2, đᾶ trở nên cố định một chiều duy âm hay duy dưσng như sẽ thấy sau. Khi ta nόi vợ chồng, vài ba, nhà nước, thὶ không phἀi là thόi quen suông, mà chίnh là hậu quἀ do một nguyên lу́ cό nền mόng siêu hὶnh hẳn hoi; chứng cớ là thứ tự đό đᾶ được tôn trọng và quἀng diễn ra nhiều hὶnh thάi khάc nhau như tam tài (số 3) ngῦ hành (số 5) hay Việt tỉnh cưσng (số 9).

9.

Hᾶy trở lᾳi với hὶnh “thάi cực viên đồ đσn” và ta thấy âm trên. Hὶnh này thường thấy đặt lung tung do sự mất у́ thức hay do Hάn Nho nhưng khởi đầu thὶ âm phἀi đi trước, ở bên tἀ. Cό vậy mới ra quẻ Thάi * h3.* để đᾳt sự hanh thông, cὸn nếu đặt ngược lᾳi Càn trên Khôn thὶ ra quẻ Bῖ *h4* không ra người nữa, như câu Kinh Dịch nόi “Bῖ chi phỉ nhσn”. Với câu đό ta thấy Kinh Dịch quan trọng hόa thứ tự âm dưσng biết bao, đến độ nόi đặt dưσng trước âm thὶ không ra người, tức không cὸn là Nhân Chὐ nữa, mà đᾶ ra Vật Chὐ tức nghiêng sang bên vật chất, thể gọi là trục vật.

Thứ đến cό đặt âm trước dưσng mới giữ được cổ tục Việt trọng bên tἀ gọi là “tἀ nhậm”, tức âm đặt bên tἀ như được biểu lộ rō nhất trong hὶnh Nữ Oa Phục Hi. * h5*

Nữ Oa bên tἀ, Phục Hi bên hữu, do đό ta cό tục “nữ tἀ phὸng, nam hữu phὸng”. Về sau Tàu đổi thứ tự thành “nam tἀ nữ hữu” theo thứ tự “Càn khôn” cho con trai sang bên tἀ như ta quen nghe nόi “Ðông cung thάi tử”. Ðό là dấu dưσng lần άt âm để dành chỗ tốt.

  • Số 2 cὸn được quan trọng đặc biệt khi được dὺng làm nền tἀng cho Kinh Dịch, là quyển Kinh cốt cάn cὐa Việt đᾳo, nhưng vὶ Dịch cό 5 giai đoᾳn hὶnh thành, mà hai giai đọan sau là cὐa Tàu, nên đặt ngược thứ tự dưσng trước âm. Nhưng vὶ chữ âm dưσng đᾶ quά quen trong dân chύng rồi không tiện đổi lᾳi, nên đổi Khôn Càn ra Càn Khôn. Nόi càn khôn là đặt cha trước mẹ để lấn άt thứ tự cὐa Việt tộc là Khôn Càn, như cὸn giữ được ở nước Tống mà Khổng tử đᾶ cό lần được nghe (Liki. VI,6) *6

(Chύ thίch *6) Thứ tự âm dưσng hay vài ba nόi lên chὐ quyền đầu trước hết về quyển Kinh Dịch là Việt tộc. Tàu đến sau và làm khάc đi bằng đặt càn trước khôn, tham trước lưỡng. Ngῦ hành cῦng vậy, thứ tự bὶnh dân (tức Việt tộc) nόi “kim mộc thὐy hὀa thổ”. Ðό là nе́t ngang trước [kim-mộc], nе́t dọc [thὐy- hὀa] sau, tức đặt âm trước dưσng: nе́t ngang là âm, nе́t dọc là dưσng. Cὸn Hάn Nho thὶ dọc trước ngang sau, với thứ tự trong Kinh Thư là: “thὐy hὀa mộc kim Thổ”.

10.

Số 3 là Tam Tài: Trời, Ðất, Người, hay là Thiên hoàng, Ðịa hoàng, Nhân hoàng. Nhân hoàng cῦng gọi là Oa hoàng. Huyền thoᾳi qui cho Bà công lập ra phе́p linh phối, tức nối trời cὺng đất. Thứ tự bộ ba này được chiếu giἀi vào ba đầu rau, trong đό cό hai ông một bà. Theo luật “quἀ vi quân, chύng vi dân” (ίt làm vua, nhiều làm dân) thὶ bà làm chὐ bộ ba, cho nên số ba cῦng là số cὐa cάc thần nữ, như nữ thần Mộc (hành mộc số 3). Ở số ba ta thấy Hάn Nho đưa ra Hὸang đế chiếm chỗ cὐa Oa hoàng, thành ra bộ Tam hὸang mới là Phục Hi, Hoàng đế, Thần Nông: đẩy Nữ Oa ra ngὸai không cὸn ai cằm Cάi Qui tức là đάnh mất Minh Triết, vὶ Nữ Oa chỉ nền Minh Triết hay Nguyên lу́ Mẹ cῦng thế. Tuy nhiên chưa đến nỗi đực rựa như cάc bộ ba duy thần cὐa nhiều vᾰn hόa khάc thί dụ cὐa Aryen bên Ấn độ với ba thần: lửa, sе́t, nhật (Agny, Indra, Surya. Bộ ba cὐa Ai cập: Shamar=nhật, Namar=trᾰng, Bel=đất.

Số 5: Ngῦ hành thὶ Hành Thổ cῦng là nữ. Do đό Thổ thần là thần nữ. Ðiều đό cὸn biểu lộ trong vụ bà nữ Oa cằm cάi Qui + (số 5 xưa viết là +) dὺng để vẽ hὶnh trὸn, ngược với cάi Cὐ vuông trong tay Phục Hi. Ta quen nghe nόi “Mẹ trὸn con vuông” là ngầm đề cao mẹ trên cha. Ông Phục Hi cầm cάi Cὐ là âm trên dưσng. Huyền thọai cῦng theo у́ đό khi qui cho bà Nữ Oa công dựng nên người tức sự giάo dục con là do Mẹ hσn cha. Mẹ khởi đầu dậy con từ lύc mang thai gọi là thai giάo, do đό gọi là “mẹ trὸn ôm lấy con vuông”. Nόi bằng số thὶ là 5 ôm 4 thành ra số 9. Nữ thần Mộc cῦng cό tên là “Cửu thiên huyền Nữ”. Chữ huyền đây hiểu là huyền diệu, là ᾰn thông với Vô cὺng.

Ðến đây ta phἀi nόi tới lâu đài rực rỡ cuối cὺng là “Việt tỉnh cưσng”. Theo nghῖa thường thὶ Việt tỉnh là giếng cὐa Việt tộc chỉ thị nền Minh Triết vô cὺng, mύc không bao giờ cᾳn. Phưσng ngôn nόi: “bằng cάi sàng ba làng ᾰn không hết”. Câu ấy cὺng nghῖa với Hành Thổ cό tίnh chất vô biên. Việt tỉnh cưσng phάt xuất từ khung chữ Tỉnh #, rồi sau thêm 4 ô ở 4 gόc thành ra Cửu Lᾳc như hὶnh *7*. Sau Cửu Lᾳc được Nho công thức hόa thành “Hồng Phᾳm Cửu Trὺ”, rồi lᾳi biến ra “Thài Thất” để chỉ bἀn Tίnh con Người. Vὶ thế khi hiện thực được Tίnh thể con người Ðᾳi Ngᾶ tâm linh thὶ gọi là “nhập ư thất”= vào được Thάi Thất. Thάi Thất cό ba tầng chỉ trời, đất, người.

12.

Muốn hiểu hai chữ Thάi Thất thὶ nên đối chiếu với chữ gia. Gia chỉ con trai. Thất chỉ con gάi. Gia kе́p bởi bộ miên và thỉ. Thất kе́p bởi miên , công và thổ. Miên là mάi nhà chỉ trời, Công (công biến thế) chỉ tάc động nên cῦng chỉ con người được định nghῖa là tài, là tάc, là tάc viên. Cὸn Thổ là đất. Thế là ngay chữ Thất đᾶ hàm tàng 3 yếu tố lớn lao hσn hết làm nên con người (nhân giἀ kỳ thiên địa chi đức). Vὶ thế Thάi Thất chỉ bἀn Tίnh con người. *hὶnh Thάi Thất *8*

Nhiều người trάch Nho hᾳ đàn bà quά xά như viết chữ gian với ba chữ nữ . Ðό cό thể là Hάn nho. Dầu sao đό là ba cάi lẻ tẻ xά chi: cần nόi tới nền tἀng thὶ chίnh đàn ông mới bị. Ai đời đàn ông được cό chữ miên với thỉ là heo ! Oan quά phἀi không cάc cụ? Ấy là chưa kể tới bộ kỳ chỉ linh thiêng thὶ cῦng âm (số 2) ở trên, dưσng (số 3) ở dưới. Vὶ thế khi viết chữ diệu (huyền) thὶ dὺng bộ nữ chứ nam cό được dự phần đâu.

Tόm lᾳi khi xem bao trὺm cἀ ba số nền tἀng 2, 3, 5 thὶ thấy cἀ là một bἀn chόi chang về Nguyên lу́ Mẹ, vὶ ở cἀ ba số Mẹ đều ở thế thượng phong. Số 2 thὶ âm đi trước (ladies first). Số 3 thὶ Mẹ làm vua ở giưᾶ hai ông đόng vai dân. Số 5 thὶ Mẹ bao quάt hết (Mẹ trὸn con vuông) để làm nội tướng cῦng gọi là Thάi Thất, đẩy ông ra ngὸai cằm cάi cὐ vuông 4 gόc bе́ nhὀ gọi là cά (4 số chỉ cάi cὐ cὐa ông).

13.

Bây giờ kiểm soάt xem việc làm cὐa Mẹ cό được như địa vị tiên thiên vừa kể chᾰng? Trước hết ta thấy Nữ Oa thάi mẫu đội đά vά trời. Bà Hi Hὸa tắm cho mặt nhật.

Toàn những việc cό tầm kίch vῦ trụ. Mẹ Âu Cσ đưa 50 con lên nύi lập ra nước Vᾰn lang. Việc lập nước là công cὐa Mẹ. Sau này cứu quốc thὶ công đầu cῦng là Trưng nữ vưσng với bà Triệu, chứ cάc ông mᾶi cἀ nhiều trᾰm nᾰm sau mới lὸ dὸ bὸ ra. Câu nόi: Mẹ Âu Cσ đem 50 con lên nύi thὶ phἀi hiểu nguyên lу́ Mẹ dᾶn đoàn con đến chỗ triệt cὺng triệt để, tức là dẫn đến chỗ Minh Triết, nόi kiểu siêu hὶnh là đе́n chỗ phân cực triệt thượng, để đối với Lᾳc long quân”triệt hᾳ” ở đάy bể, tức đều là những việc lớn lao cό tầm vόc vῦ hoàn. So với bà Pandore tὸ mὸ mở hộp cho tai ưσng tràn ra trên mặt đất thὶ ta thấy rō vᾰn hόa tây âu bόp chết nguyên lу́ Mẹ khi đổ lên đầu cάc bà hết mọi tội lỗi, và thế là nguyên lу́ Mẹ bị gἀy ra khὀi vᾰn hόa. Người ta quen gọi đό là tật ghе́t đàn bà= misogyni=hatred of women. Tật này lan tràn trong triết tây, cό thể tόm vào câu nόi sau” mọi tội lỗi trong thế gian này là do đàn bà”. Câu đό được nόi ra do rất nhiều người, vὶ ngày xưa người ta tin như thế, mᾶi tới nay mới nhận ra rằng niềm tin đό là bởi cάc đực rựa đưa ra do hậu quἀ cὐa nền triết học duy lу́, thiếu tὶnh người (tὶnh Mẹ, lу́ Cha). Thάi độ đό được chiếu giᾶi vào huyền thọai Hi lᾳp kể về nữ thần Hera bị chồng là thần Zeus treo lên mà đάnh.

14.

Ta hᾶy soάt lᾳi ba số 2, 3, 5 lần cuối cὺng:

  • Số 2 Thάi Hὸa vắng bόng trong vᾰn hόa duy lу́, nσi chỉ cό nguyên lу́ đồng nhất = một là một, không thể cό một mà hai, hai mà một kiểu lưỡng hợp (dual-unit). Chỉ cό một tuyệt đối chiếu giᾶi vào chữ vᾳn + chứ không cό chữ Viên (như trong Tἀn Viên) tἀn ra hai ngἀ âm dưσng: bên Vô bên Hữu như cό hàm tàng trong bộ số Quy Thư. (sẽ nόi sau)
  • Số 3 Nhân Chὐ thὶ đᾶ bị gἀy ra ngoài bằng nguyên lу́ Triệt Tam=tiers exclu= middle excluded, và bằng đề cao bên hưῦ, cὸn bên chiêu gọi là tay trάi. Trời σi đᾶ làm gὶ mà bἀo là trάi. Ðό là triết lу́ sức mᾳnh” the right of the might”= nό phἀi vὶ nό mᾳnh, cὸn yếu thὶ trài. Ðό là lу́ luận cὐa duy vật: bắt được quἀ tang là đᾶ đặt dưσng trên âm, khiến vᾰn hόa nay lâm vào ngō bί. Kinh Dịch bἀo: “Bῖ chi phỉ nhân”=không cὸn ra người nữa.
  • Số 5 Tâm Linh cῦng không cό mà chỉ cό tứ tố tức một chiều: vuông bốn gόc bάnh chưng, làm nền cho cά nhân chὐ nghῖa (cά ở bốn gόc Thάi Thất) chứ không cό bάnh giầy trὸn ở trên, không cό Ngῦ Hành nên cῦng không cό Vô thể, thiếu trung cung tức là thiếu liên hệ với linh thiêng sâu thẳm./.

CHƯƠNG III: DƯỚI BÓNG MẸ HIỀN

15.

Bόng Mẹ hiền đây xin được hiểu là dưới ἀnh hưởng cὐa nền Minh Triết đầy đὐ nguyên lу́ Mẹ. Ðό là điều họa hiếm. Hầu hết chỉ cὸn cό cha, tức duy dưσng, duy trί, duy vật.

Nόi tσί Mẹ hiền tự nhiên liên tưởng tới cha dữ. Ðό không phἀi bất công, mà chỉ là kiểu nόi bὶnh dân cό phần hσi mᾳnh để tὀ tίnh cὐa hai đối cực: bên nhu bên cưσng, bên trὸn đầy bên bắt gόc. Cưσng mà không được nhu thấm nhuần thὶ dễ trở nên bᾳo hành tàn nhẫn. Vὶ thế nếu phἀi chia ra hai cột thὶ bên Mẹ là yêu thưσng vô bến bờ, chuyên nâng đỡ đời sống. Bên cha là tᾰng quyền uy, bắt đi sάt kỷ luật nghiêm khắc. Bên Mẹ là hὸa bὶnh , bên cha là hiếu chiến. Bên mẹ là tίch tụ. Bên cha là phân tάn. Bên Mẹ là lệ làng. Bên Cha là phάp nước. Phάp nước thὶ chung cho toàn quốc, cό tίnh cάch trừu tựσng, tự trên άp đặt không hợp cho mọi nσi được. Cὸn lệ làng là cὐa từng điᾳ phưσng hợp tὶnh hợp cἀnh vὶ do dân dựa theo kinh nghiệm mà đưa ra nên cό tίnh cάch bὶnh dân hσn hẳn. Bên mẹ là nông thôn đồng ruộng, vᾰn hόa. Bên cha là thành thị, vᾰn minh, thưσng mᾳi. Bên Mẹ là nhân aί yêu thưσng. Bên cha là trί mưu tίnh toάn. Nόi gọn là: “mẹ non nhân, cha nước trί”.

16.

Tόm lᾳi nếu phân ra được thὶ ai cῦng nhận bên mẹ. Luật Manu nόi mẹ đάng mến ngàn lần hσn cha (W. Durant 494). Tuy nhiên không vὶ mẹ đάng yêu mến hσn mà bὀ cha được. Bởi như đᾶ nόi trên: mẹ cha chỉ là đᾳi biểu cho hai thάi cực. Kinh Dịch nόi “duy dưσng bất thành, độc âm bất sinh”không được chọn một bὀ một. Lу́ tưởng là làm sao giữ được cân đối. Theo tiền sử ở thời thάi sσ gọi là vᾰn hόa thὶ điᾳ vị mẹ nổi vượt nên cό an hὸa, cό cân đối , nhưng đến đời vᾰn minh thὶ cha lấn mẹ, vậy là mất thế quân bὶnh. Bί quyết giữ thế quân bὶnh ở taị nâng đỡ bên mẹ: nâng đỡ bên yếu, gọi là tinh thần phὺ yểu, biểu thị bằng tục trọng tẩ (tay tἀ yếu hσn nên được dὺng để chỉ bên yếu cần nâng đỡ) cό vậy mới giữ được thế bὶnh quân giữa âm và dưσng để làm nên cōi người ta.

17.

“Cōi người ta” phἀi cό bầu khί Thάi Hὸa để đύng với câu: “thiên sinh, địa dưỡng, nhân hὸa”. Muốn cho cἀu trên trở nên gần gῦi và thắm thiết cὺng cực thὶ vᾰn hoά Việt dὺng hὶnh ἀnh mẹ cha. Thay vὶ nόi thiên sinh mẹ dưỡng” thὶ nόi “cha sinh, mẹ dưỡng”, nội dung như nhau, chỉ khάc lối trὶnh bày: nόi “cha sinh mẹ dưỡng” là rύt cάi bao la thiên địa vào tầm mức nhὀ cho con người dễ thâu nhận, chứ chân lу́ vẫn là một, gọi là “thiên điᾳ vᾳn vật nhất thể”. Theo đό thὶ cάi thực cho một phần cῦng là thực cho tất cἀ = một cọng cὀ cῦng giά trị như trời đất. Nόi thiên sinh địa dưỡng hay nόi cha sinh mẹ dưỡng cῦng thế: đứa con phἀi là sἀn phẩm cὐa một tάc hợp tràn đầy άi ân thâm thiết, nên sἀn phẩm phἀi được định tίnh bằng chữ Hὸa chữ Hợp. Nόi nhân hὸa cῦng như nόi Hὸa là con người. Thiếu Hὸa không ra người được. “Bῖ chi phỉ nhân”. Muốn ra người phἀi là quẻ Thάi. Cό đᾳt Thάi Hὸa thὶ con người mới đᾳt cὺng cực là Ðᾳi Ngᾶ Tâm Linh. Ðό cῦng là cứu cάnh cὐa con người rồi đό.

18.

Thế nhưng trong thực tế con người chỉ đᾳt những bước hὸa nho nhὀ cỡ lưσng tri thường nghiệm, nghῖa là những hậu quἀ bе́ nhὀ cὸn đầy mâu thuẫn. Kinh Thάnh cό câu khuyên người cần hiền lành như chim bồ câu, nhưng lᾳi phἀi khôn ngoan như con rắn. Câu đό phἀng phất lу́ tưởng tiên rồng, vὶ cῦng cό chim chỉ mẹ và rắn chỉ cha. Nσi Việt tộc thὶ tiên chim và xà long đᾶ gặp nhau trên cάnh “Ðồng Tưσng”. Nόi cάnh “Ðồng Tưσng” là nόi lên mối Tưσng quan thân mật cὺng cực như thấy được trong Trống Ðồng hὶnh chim Âu đang đưa cάi hôn nồng chάy vào tận cửa họng thuyền rồng. Thực không thể tἀ cἀnh άi ân cάch thắm thiết tάo bᾳo hσn, nhưng cῦng thanh tao rất mực không thể hσn được nữa. Hὶnh ἀnh ấy nόi lên sự thực hiếm cό trên đời là nền Minh Triết trὸn đầy gồm cἀ mẹ lẫn cha mà tiền nhân ta gọi là “Giao Chỉ” với nguyên nghῖa là chỉ trời chỉ đất giao thoa. Giao thoa được cὺng chᾰng là do con người cό làm trὸn nhiệm vụ “Nhân Hὸa” cὺng cha ông. Trong thực tế ở khắp nσi tất cό nhiều cuộc giao chỉ, nhưng hầu hết đều ở đợt lưσng tri, chứ chưa đᾳt đợt triết lу́, nên thiếu những lâu đài trường cửu như nσi Trống Ðồng. Lάc đάc đό đây cῦng cό gặp chim và rắn, nhưng lᾳi trong thế giao tranh như thần điểu Garuda đang mổ rắn Naga bên Ấn độ, tức là chim rồng không gặp nhau trên cάnh Ðồng Tưσng, mà trên cάnh đồng tưσng tranh tưσng đố. Bên Perse cὸn tệ hσn khi cho thần lành diệt thần dữ. Ðό là lấy dưσng làm(?) tâm, đi đến thuyết nhị nguyên đối khάng, y như vật biểu hầu khắp nσi đều không cό chim trời đi với rắn nước, mà nếu cό chim thὶ hầu hết là loài chim ᾰn thịt thứ dữ, hay toàn loài άc thύ 4 chân, nên đều là tưσng tranh tưσng đấu, chứ không cό tưσng άi tưσng hὸa.

19.

Ðiều ấy cό nghῖa là trong hết mọi chặng con người chưa thành tựu được cἀnh Thάi Hὸa trong “tὶnh lу́ tưσng tham, tri hành hợp nhất”. Sâu xa hσn nữa thὶ у́ thức phἀi hợp với tiềm thức, nόi kiểu siêu hὶnh là Hữu phἀi ôm Vô. Hữu là у́ thức là lу́ trί, cὸn Vô là tὶnh là Tâm (tâm thuộc tiềm thức): hai diện đό phἀi hὸa phἀi hợp, nếu không thὶ gây ra tâm bệnh thường là loᾳi schizophreny cό nghῖa là chẻ đôi tâm trί, vὶ thế cῦng gọi được là split personality= bἀn lᾶnh chẻ đôi. Người bị chứng đό mắc đầy mâu thuẫn, mἀnh mύn, rời rᾳc, thiếu nhất quάn. Không cό được một bἀn ngᾶ hὺng mᾳnh. Ðây là đợt cά nhân. Bước sang đợt gia đὶnh thὶ “phu thê giao bάi” đốc ra lối “chồng chύa vợ tôi” theo kiểu luật rừng yе́u thua mᾳnh được.

20.

Thế rồi lên hai cấp trên là “trị quốc bὶnh thiên hᾳ” thὶ là thόi mᾳnh lấn yếu, trước là nước lấn nhà: đốc ra độc quyền chuyên chế. Tổ tiên ta quen nόi “nhà nước” rồi “làng nước” nối hai lᾳi một, nhưng khi rσi vào tay chuyên chế thὶ cἀ làng lᾶn nhà đều bị lấn άt. Ðến chỗ cὺng cực thὶ chỉ cὸn quốc tế chứ nước cῦng bị đe dọa biến luôn dưới sức bύa bổ “Tam Vô” là vô gia đὶnh, vô tôn gάo, vô tổ quốc. Vô tôn giάo là diệt tâm tὶnh. Vô gia đ 1nh là diệt tổ ấm nuôi dưỡng xàc thân, diệt luôn tâm hὸn với tὶnh âu yếm thiết tha cuἀ gia tộc. Cuόi cὺng đến nước là mόi tὶnh cao quί giữa đồng bào cῦng vô luôn để dành chỗ cho quốc tế. nhưng đό chỉ là cάi tên trừu tượng rỗng tuếch được dὺng để đày đọa con người, chứ cό cὸn nội dung người đâu. Tất cἀ tai họa đό đều tᾳi lỗi triết học duy trί đᾶ đάnh mất Nguyên lу́ Mẹ.

21.

Tόm lᾳi bầu khί cὐa nσi giữ được nguyên lу́ Mẹ là bầu khί Thάi Hὸa an vui, sống mᾳnh cἀ nhà lẫn nước. Plato đᾶ nόi được một câu chί lу́ rằng: “Sự khôn ngoan cὺng cực ở tᾳi biết xếp đặt ổn thὀa việc nhà việc nước”. Tuy nόi được câu đό nhưng không làm được, vὶ Plato đᾶ không quan trọng hόa nhà cho đὐ. không biết đi một đường tἀ nhậm để bênh vực bên yếu là nhà, nên nhà đᾶ đᾶ bị nước lấn άt. Vὶ thế vᾰn hόa tây âu đi đế n duy dưσng, duy trί, mất nguyên lу́ Mẹ, gây nên thứ vᾰn hόa duy lу́, thiếu tὶnh, tức cῦng là thiếu vui sống… chuyên về vō công ca và bi kịch mà yếu về thσ trữ tὶnh và sinh thύ như bên Ðông Á.

Cό hai sự kiện lớn lao trong vᾰn hόa kiện chứng cho tίnh cάch cὸn Mẹ: một là thần cứu tế Lokesvara bên Ấn độ vốn là thần nam, làm phό đức Adiđà bên tây phưσng tịnh thổ, thế mà khi xuất hiện trên phần đất Việt nho đᾶ mặc xάc nữ trở thành Quan Thế Âm Bồ Tάt, lᾳi cὸn bồng đứa con gọi là Quan Âm tống tử, tức là đi ngược hẳn với bên Tây Trύc diệt dục, diệt sinh: li gia cắt aί”. Sang đông bộ thὶ nâng tὶnh lên đến độ làm Thần Nữ, lᾳi cὸn bồng con, cho con (tống tự). Việc thứ hai Ðức Di Lᾳc hiện thực câu nόi: thứ nhất bộ râu thứ nhὶ bầu bụng. Bầu bụng thὶ đᾶ phσi ra quά rō đὐ nόi lên hᾳu quἀ cὐa sự vui sống. Cὸn cάi miệng thὶ tuy không râu nhưng lᾳi cười tưσi như hoa nở rộ. Bὀ râu đây không là diệt sinh mà là để khὀi che mất cάi miệng cười tưσi vui sống. Hai sự kiện trên minh họa đầy đὐ bầu khί vᾰn hόa cό nguyên lу́ Mẹ: “cὸn Mẹ ᾰn cσm với cά. mất Mẹ liếm lά gặm xưσng”./.


CHƯƠNG IV: “ÔI LINH MẪU HÃY ÐƯA CON VỀ CÙNG.”
(Eternal Womanhood leads us on high.)

22.

Ðό là câu hάt trong quyển sάch thời danh Faustus cὐa Goethe, một thi hào triết gia Ðức thế kỷ 18. Xе́t về vᾰn tài người ta đặt ông ngang hàng với Shakespeare, nhưng ông hσn về mặt triết. Về mặt này nе́t đặc trưng cὐa ông là cἀm thấy triết học duy lу́ đόi lἀ tὶnh thưσng, nên ông đᾶ phất động phong trào lᾶng mᾳn: cố đưa tâm tὶnh vào triết. Ðọc Faustus ta cἀm thấy ông gần Việt nho hσn hết cάc tάc giἀ tây âu, vὶ ông đề cao nguyên lу́ Mẹ mà cό lύc ông gọi là Mater gloriosa = Mẹ vinh quang, coi đό như nguồn gốc sự cứu rỗi. Tiếc rằng cάi nhὶn thấu thị đό không được tiếp nối để đi vào tâm linh, nên Mẹ vinh quang không đi xa đưσc bằng Nữ Oa thάi Mẫu với phụ tά là Nữ Thần Mộc dậy cάc con làm nhà. Thành thử vᾰn hόa tây âu cho tới nay vẫn bị tiếng là thiếu nhà (homeless) tức thiếu nσi qui tụ nhất quάn.

23.

Trở về Việt Nho ta cῦng hάt được như Goethe, nhưng thay vὶ xin Mẹ dẫn ta đi lên trời thὶ ta xin Mẹ đưa ta về cὺng Mẹ, hay đưa về lὸng, nên làm được liền, không cần đợi Mẹ đến đưa đi, mà tự у́ đi. Trời được hiểu là Tâm. Về trời cό nghῖa là trở lᾳi thân Tâm, nσi cό trời cὺng đất. “Vᾳn vật giai bị ư kỷ”. Kỷ cῦng gọi là Ðᾳi ngᾶ. Ðό chίnh là Quê Mẹ: quê Mẹ là chίnh Mẹ, cho nên nόi đi lên cό nghῖa là đi vào. Vào đến cὺng cực thὶ gặp Mẹ 9 vῦ trụ, mà sάch Ðᾳo Ðức Kinh gọi là “Vῦ trụ chi Mẫu”, cho nên cuối cὺng thὶ câu trên đổi ra; “Ôi Linh Mẫu hᾶy đưa con về cὺng.”

Ðό là nội dung con đường Ðᾳo, vὶ Ðᾳo là đem ngoài hợp với trong: đem ngoᾳi vi у́ thức hὸa hợp với Nội Tâm tiềm thức, mà nho gọi là “hợp nội ngoᾳi chi đᾳo dᾶ”. Hợp được ngoài với trong là Ðᾳo. Cὸn nghiêng về một bên đều không là Ðᾳo. Kinh Dịch định nghῖa đᾳo là; “nhất âm nhất dưσng chi vị đᾳo”= một âm một dưσng mới là đᾳo. Duy dưσng bất thành, độc âm bất sinh, đều không là đᾳo.

24.

Việt lу́ đᾶ mặc cho Ðᾳo một màu sắc gần gῦi thâm tὶnh hσn nữa khi gọi nội âm là Khôn mà ta dịch ra từ ngữ ngày nay là nguyên lу́ Mẹ (cὸn ngoᾳi dưσng là Càn là nguyên lу́ cha). Huyền sử đặt cho Ðᾳo toàn những tên Mẹ như Nữ Oa, Âu Cσ, Nữ Thần Mộc, Bà Chύa Xứ v.v. Nữ Oa được xưng tụng là Thάi Mẫu vὶ sinh ra loài người, hay nόi khάc là cό nhiệm vụ linh phối, tức phối hợp trời với đất. Trời đất trong trang huyền sử này gọi là Phục Hi, Thần Nông, thάi Mẫu Nữ Oa ngự giữa. Nếu kể cό hai thὶ bὀ Thần Nông, chỉ cὸn Phục Hi, Nữ Oa và trὶnh bày hai vị đang cuốn lấy đuôi nhau. Thάi Mẫu giữ cάi Qui, Phục Hi cằm cάi Cὐ. Ðό là điều khό hiểu cho đσi sau như ông Robert Van Gulik phàn nàn trong quyển Vie sexuelle. p 84. Vậy qui chίnh là thập tự nhai, và cῦng là cσ cấu con người đᾳi ngᾶ thành bởi đức trời đức đất. Ðức đất là nе́t ngang làm hành thổ, nе́t dọc là đức trời, cἀ hai làm thành cάi Qui, tức là qui tắc cho muôn loài. Cὸn Phục Hi cầm cάi Cὐ để đo 4 gόc gọi là cά (4 gόc nhà Thάi Thất) Cά chỉ những hiện tượng cό giới mốc, nên thuộc vὸng ngoài cό tίnh cάch hᾳn hẹp hσn Qui, nên nguyên lу́ Mẹ phἀi trội hσn. Ðό là tὶnh trᾳng chung cὐa vᾰn hόa loài người ở khởi nguyên, đâu đâu cῦng như thế: cῦng trἀi qua giai đoᾳn Mẹ trước cha.

25.

Tὶnh trᾳng đό gọi là mẫu hệ hay mẫu tộc, đôi khi cἀ mẫu quyền, mẫu cư… nhưng dần dần chuyển sang phụ hệ với phụ quyền lấn άt Mẹ làm cho vᾰn hόa trở nên duy dưσng. Người ta quen gọi là vᾰn minh đực rựa. Truyện đό xάy ra tự lύc cό tư sἀn, mà tư sἀn là do όc chiếm đọat cὐa vᾰn minh: Khi một số người mᾳnh thâu đoᾳt hầu hết tài sἀn vào tay để trở nên chὐ, bắt mọi người vô sἀn làm nô, thὶ đấy từ đấy cό giai cấp chὐ nô. Khuynh hướng chiếm đoᾳt đό dần dần mở rộng đến đàn bà từ đό bị coi là tài sἀn cὐa đàn ông, y như một sἀn vật cό thể mua bάn. Trong hôn phối nhiều nσi xưa cὸn dấu vết mua bάn nọ như trong tục thάch cưới: đὸi bao nhiêu tiền mới gἀ con… Ðiều này được biểu lộ rō về mặt xᾶ hội bằng định chế phụ hệ bao cἀ phụ tộc lẫn phụ quyền, tức đứa con được coi như cὐa cha, chứ mẹ chỉ cό công dưỡng dục bên ngoài thôi. Nhưng thực tế với đứa con thὶ công mẹ lớn gấp cἀ trᾰm lần: nào mang nặng đẻ đau, nào bύ mớm ẵm bồng. Ngᾳn ngữ quen nόi: chίn thάng cưu mang, ba nᾰm bύ mớm. Cὸn cha chỉ cό phάt tiêm chốc lάt mà đᾶ được đền bὺ phụ trội trong lύc đό rồi. Thế mà đὸi đẩy phụ quyền đến độ gẩy mẹ ra khὀi sổ công lao sinh dưỡng đứa con, thὶ quἀ là một sự chênh lệch và bất công thô tục. Bên Việt nho chưa đến nỗi đό, cό bị nhưng vừa phἀi như chάu bà thὶ gọi là ngoᾳi, chάu ông là nội. Ӑn vụng chưa kịp chὺi mе́p.

26.

Ðấy là mới nόi về mặt xᾶ hội, chứ về mặt tinh thần thὶ sự bất công gây nên nghiêng lệch hẳn, làm này sinh tai họa lớn hσn nhiều: đό là tᾳo ra nền vᾰn minh duy dưσng, tức là duy lу́ không biết chi đến tinh người. Vὶ lу́ là lу́ cha, tὶnh là tὶnh Mẹ. Trong con người tὶnh trội vượt hσn trί gấp 9 lần, nên bὀ tὶnh là gây nên sự nghiêng lệch trầm trọng, khiến cho vᾰn minh trở nên tàn bᾳo, phi nhân như ta thấy rō nσi cάc xᾶ hội chuyên chế. Ðό là nền triết duy lу́ cὺng cực, chối bὀ mọi tὶnh cἀm: tὶnh người, tὶnh nước, tὶnh nhà, nên đᾶ trở thành phi nhân đến độ xе́o đᾳp lên tự do nhân phẩm con người. Bên cάc xᾶ hội tự do không đến nỗi tệ như thế là nhờ tὶnh người cῦng như tự do nhân phẩm cὸn được kίnh nể, nhưng đό là nhờ lưσng tri sᾰn sόc, chứ không do triết lу́ hay đᾳo học. Vὶ thế bầu khί xᾶ hội vẫn là duy vật, tiếng nay quen nόi là xᾶ hội tiêu thụ, là xᾶ hội tranh đoᾳt, mà không là xᾶ hội tâm linh với tinh thần cộng tάc, đὺm bọc. Muốn được vậy cần phἀi lập lᾳi nguyên lу́ Mẹ, và đến đây ta thấy vᾰn hόa Việt cό thể đόng gόp phần cὐa mὶnh.

27.

Vὶ nσi này mẹ vẫn là “Bà Chύa Xứ” tức nguyên lу́ mẹ vẫn bάm sάt nền vᾰn hόa cὐa nước như được biểu thị bằng nhiều trang huyền sử, mà nổi hσn cἀ là tίch Âu Cσ tổ mẫu đẻ ra cάi bọc trᾰm trứng. Mẹ sợ liền vất ra ngoài đồng. Thế mà trᾰm trứng đều nở ra trᾰm con: và tất cἀ đều phưσng trưởng. Câu truyện cῦng theo một hướng như Thάi mẫu Nữ Oa đội đά vά trời, tức nguyên lу́ mẹ vẫn nổi vượt, nên hay nόi tới mẹ mà ίt nhắc tới cha. Chίnh 50 con theo Mẹ lên nύi lập ra nước Vᾰn lang, tức nước được thấm nhuần nguyên lу́ Mẹ, nên phἀi là Vᾰn Lang lễ trị, chứ không là Vō Lang hὶnh phάp. Chớ cό lo mẹ sẽ đẩy cha ra vὶ lâu lâu cha cῦng cὸn lẻn về thᾰm mẹ trên cάnh Ðồng Tưσng, nên hễ cό mẹ tất cό cha. Cὸn nếu đặt cha lên trên là sẽ khό lὸng cho mẹ. Mẹ đẻ ra con, nuôi con nên người, rồi đưa con đi lập ra nước Vᾰn Lang, tức nước được xây trên mẫu mực gia đὶnh đầy tὶnh thâm thiết. Lᾳi cὸn luôn luôn theo dōi để giάo huấn con, như trong truyện Nữ Thần Mộc.

28.

Ðây là câu truyện vắn tắt cό một dὸng mà у́ nghῖa bao là như vῦ trụ, nên sau Nho gọi là Thάi Thất như hὶnh bên, gồm ba tầng chỉ ba đợt con người.

Một là con người chất thể chung với con vật lo về ᾰn, mặc, ở với làm, cốt để giữ đời sống sinh lу́ hoàn toàn ngoᾳi vi.

Thứ đến là con người vᾰn hόa lo về lу́ trί, tâm tὶnh, vᾰn học nghệ thuật: thi, ca, nhᾳc, họa… Ðây là đợt riêng biệt cho con người.

Ðợt ba con người tâm linh lo đi đến chỗ chί thành như thần. Con người siêu lên đợt trên hoàn toàn nội tâm, con mắt không thấy được nên cῦng gọi được là Vô, là Trống, như ta cό thể thấy rō trong Trống Ðồng cό ba vὸng chỉ thiên, địa, nhân này. Người lу́ tưởng phἀi gồm được cἀ ba. Tuy đợt chất thể là chung với con vật, nhưng không được khinh khi. Vᾰn hόa trọn vẹn phἀi lo cho mọi người no đὐ, vὶ đόi thὶ chẳng làm được gὶ về vᾰn hόa, vᾰn học cἀ, nên vᾰn hόa nào không mόc nối với con người sinh lу́ là nền vᾰn hόa nguy hᾳi nhất làm cho con người mất khἀ nᾰng mở lên đợt ba thὶ rō ràng là thiếu nguyên lу́ Mẹ, mà nguyên lу́ Mẹ rất dễ mất, vὶ là đợt ẩn sâu trong tâm hồn.

29.

Nếu ta đẩy sự nghiên cứu đến cὺng tột, đến chỗ nhà Phật gọi là lân hư (lân cận với chỗ hư không) tưc là đến chỗ giάp giới giữa Hữu với Vô, nσi Vô đᾳi diện Mẹ, Hữu đᾳi diện Cha, thὶ Tây âu là cha, duy dưσng với siêu hὶnh là Hữu thể học: to be. Ấn độ là Vô nhị (advaita), cὸn Việt là không cό mà cῦng không không (to be by not Being). Ðό là chỗ Lᾶo tử gọi là “Hữu Vô tưσng sinh,” Cὸn Nho gọi là “Thάi cực nhi vô cực”. Nếu lấy vô làm nền thὶ phἀi nâng đỡ cάi Vô biểu thị bằng những cάi yếu ớt bе́ nhὀ, vὶ thế mà cό tục tἀ nhậm, mà у́ nghῖa là nâng đỡ cάi yếu (phὺ yểu). Trong đường tu tiến thὶ lấy việc vô tư vô vi làm đầu. “Dịch vô tư dᾶ, vô vi dᾶ” Cố bὀ hết cάi cό, như không tưởng tượng, không suy lу́, không nghῖ gὶ cἀ, chỉ sửa soan cho tâm hồn trống rỗng đặng sẵn sàng nhận lấy. Ðό là у́ Kinh Dịch khi nόi: “Vô tư dᾶ, vô vi dᾶ”. Tᾳi sao nόi nhận lấy mà không nόi làm ra? Thưa vὶ làm ra là do lу́ trί, là nhân vi. Phἀi là cάi gὶ ban ra cho mới là do thiên, do tiềm thức cộng thông, mà những cάi đό mới cό giά trị trường tồn.

30.

Chίnh quẻ Khôn làm nἀy sinh phе́p Thiền. Vὶ Khôn là chịu lấy, cὸn Kiền là làm ra. Cάi làm ra là do lу́ trί không sâu xa bằng cάi đόn nhận tự trời. Chữ Thiền (cῦng đọc thiện là lễ tế đất, đi với Mẹ đối đάp với lễ tế phong, là lễ tế trời đi với cha.) người Tàu đọc là shἀn. Việc làm tiêu biểu thὶ như nhau vὶ tế thiện ở tᾳi quе́t đất cho sᾳch để làm bàn thờ. Thiền cῦng thế phἀi quе́t lὸng cho sᾳch, không cὸn để gὶ về dῖ vᾶng hay tưσng lai, chỉ hướng lὸng vào “ở đây và bây giờ”: không cho lὸng chᾳy đi chᾳy lᾳi giữa dῖ vᾶng và tưσng lai, đặng cho lὸng dịu xuống, trở nên tῖnh lặng đặng chịu lấy άnh linh quang loе́ lên trong tâm hồn và làm nἀy sinh hiện tượng giao chỉ: là chỉ trời (tiềm thức) giao thoa với chỉ đất (là у́ thức) mà gây nên thần thức. Nho gọi là phối thiên phối địa. Và đό là phе́p đi kе́m với Tam giάo Ðông Phưσng, cἀ ba đều cό thiền, đều nhấn mᾳnh trên Vô, trên nguyên lу́ Mẹ.

31.

Một tên huyền sử nước Việt cό у́ nghῖa sάt với Thiền là Giao Chỉ, tức chỉ trời chỉ đất giao thoa (tiềm thức giao thoa với у́ thức) nên đᾶ được minh hoᾳ bằng Nữ Oa Phục Hi quấn lấy đuôi nhau. Ðuôi đây phἀi hiểu là chỗ chί cực cὐa con người, cὐa sự vật, được Trang tử định nghῖa là “Ðᾳo vật chi cực”. Cὺng cực cὐa bất cứ cάi gὶ hay việc gὶ cῦng đưa tới Ðᾳo. Sάch Trung Dung chỉ thị điều đό bằng câu “Chί Trung”trong hết mọi việc và gọi là “Dung” thành ra tên sάch là “Trung Dung” nghῖa là tὶm cάi trung trong hết mọi việc, bất kỳ to hay nhὀ, vὶ ở bất cứ việc nào to cῦng như nhὀ đều cό cάi trung cὐa nό, hễ tὶm ra được độ trung là tὶm ra chỗ chί cực. Ðό là câu nόi trong quyển Tâm tư: “Tὶm cάi phi thường trong những cάi thường thường”. Vὶ thế người quân tử làm cάi gὶ, bất cứ to hay nhὀ cῦng làm tới chỗ cὺng cực: “Quân tử vô sở bất dụng kỳ cực” ÐH2. Lу́ tưởng cὐa quân tử là “chỉ ư chί thiện” = đᾳt tới chỗ thiện cὺng cực, mà chί thiện là “Chί Trung Hὸa” được biểu thị bằng sự giao hợp, vὶ đό là việc cao cἀ nhất mà con người cό thể làm, vὶ là tάc động tᾳo dựng, mà không phἀi tᾳo dựng việc thường, nhưng là sάng tᾳo nên con người. Nên đό chίnh là hὶnh thάi uyên nguyên cὐa Thiền tức là cὐa Chί Thiện làm nἀy sinh không những hᾳnh phύc, mà cὸn là diễm phύc như ta cό thể thấy hὶnh ἀnh trong trống đồng như sẽ được bàn ở những chưσng sau./.

Mấy у́ tưởng cό thể dὺng sau:

Bộc châu (là cὐa Việt) cό huyện Tάo châu ở Tề (1770). Nόi khάc đời vua Nghiêu thὶ nước Tàu mới là một huyện (đọc là Ðào) cὐa Việt gọi là Bộc châu. Ðời vua Nghiêu thὶ toàn cōi nước Tàu nay cὸn là cὐa Việt trừ cό một huyện trong Bộc châu là cὐa Tàu.

Ðông sσn classic expression of prе́historic and protohistoric bronzes metalliques Ðỉnh cao vᾰn hόa. Hὸa Bὶnh bao quάt toàn vὺng cἀ Thάi, Mên, Som rong Sen.

Không cό người Tàu chίnh cống chỉ cό Việt hόa Tàu sớm hay muộn. Vua đầu là nhà Châu họ Cσ (Châu Vō vưσng là Cσ Phάt) rồi tới Hάn Man quê ở Ngô Việt. Tàu như nay mới cό tự nᾰm 221 nhưng chưa hẳn vὶ vua cὸn là Man, tên nước cὸn là Tần. Câu trên giύp cho ta nhận họ với Tàu. Người Việt không cό quyền đὸi đất nào bên Tàu, vὶ cάc đất ấy là cὐa người Việt đᾶ hόa ra Tàu.

Ðông Sσn là một culturel synthesis (228,10) Trang trί Trống Ðồng là maritime tức Ðanê.


CHƯƠNG V: VỀ THӐM QUÊ MẸ – NHỮNG BÓNG DÁNG PHI PHÀM ÐỢT MỘT.

1.

Tὶm về nguồn gốc vᾰn hόa Việt mà đi được đến cὺng thὶ sẽ gặp nе́t đặc trưng nổi bật đό là một thứ huyền thoᾳi rất đặc thὺ không thể gọi là thần thoᾳi nữa mà bắt buộc phἀi đặt ra tên mới là nhân thoᾳi. Ở thần thoᾳi thὶ thần đόng vai chίnh, thần làm chὐ, làm big boss, con người chỉ đόng vai tὺy phụ và thường là nᾳn nhân. Trάi lᾳi trong Nhân Thoᾳi chίnh con người làm chὐ, thường không cό thần, hoặc cό thὶ chỉ đόng vai khάn giἀ hσn kе́m. Ðό là phân biệt rất thύ vị và cό liên hệ mật thiết với Mẹ, mà xưa rầy ίt được để у́, là vὶ nguyên lу́ Mẹ đᾶ bị chôn vὺi, nên người ta cῦng không biết đến sự cό mặt cὐa nhân thoᾳi nữa. Vậy thὶ trong việc quang phục nguyên lу́ Mẹ ta hᾶy khởi đầu khai thάc khίa cᾳnh này. Trước hết hᾶy kể lᾳi mấy nhân thoᾳi lẫy lừng hσn cἀ.

2.

Nhân thoᾳi lớn lao cὺng cực là Bàn Cổ.

“Hỗn mang chi sσ.
Vị phân thiện địa.
Bàn Cổ thὐ xuất.
Thὐy phάn Âm dưσng.”

Trong cἀnh hỗn mang sσ thάi, lύc cἀ đến đất trời cῦng chưa phân thὶ một mὶnh Bàn Cổ xuất hiện. Mỗi ngày lớn lên chίn trượng. Ðầu mất hύt vào mây trời, chân lύn sâu xuống tận rốn đất. Khόc thὶ thành cάc sông, cười thὶ thành sấm sе́t, thân xάc rᾶ tan thάnh ra loài người… Thực là nhân thoᾳi cὺng cực không thể đặt được một nhân thoᾳi oai hὺng hσn. Quἀ là mênh mông bάt ngάt đến độ xuất hiện trước cἀ trời cὺng đất, rồi tự tay phân định âm dưσng, nhân thoᾳi không thể chê vào đâu được. Chỉ cό thể hὀi Bàn Cổ thuộc về phίa Cha chứ cό phἀi thuộc phίa Mẹ đâu? Thưa gọi ông Bàn Cổ là việc làm về sau, chứ chίnh ra thὶ Bàn Cổ chưa phân giống, vὶ sinh ra tự hỗn mang chi sσ, mới là hὶnh ἀnh cὐa Người Uyên Nguyên, chưa phân đực với cάi. Trới đất cὸn chưa phân làm chi đᾶ cό giống đực với giống cάi đâu mà bἀo là ông với bà. Người ta quen gọi thế vὶ bị ἀnh hưởng xᾶ hội phụ hệ về sau, ngay như Nữ Oa thάi Mẫu kia mà trước cὸn bị gọi là ông, mᾶi đến đời Hάn mới nhận ra là bà.

3.

Nếu cần phἀi nόi ông với bà thὶ Bàn Cổ phἀi gọi là bà mới đύng tục lệ thời thάi cổ luôn luôn là mẫu tộc; trời cῦng cὸn gọi là bà nữa là: Ông Trᾰng mà lấy bà Trời. Trᾰng kе́m Trời nên chỉ được gọi là ông, phἀi cao cἀ như Trời mới được gọi là bà. Vὶ thế ở thời sσ nguyên bà luôn đi trước như thư hὺng, thất gia, tị tổ… Sự thực đό là thứ tự cὐa Việt tộc thuộc chi họ Hồng Bàng. Hồng là chim tiên đi trước Bàng là rồng, đύng thứ tự âm trước dưσng, vợ trước chồng.

Chữ Bàng cῦng đọc là Bàn, nên Hồng Bàng cὺng họ với Bàn Cổ. Lưu truyền rằng mồ mἀ Người cὸn đâu đό trên rừng nύi tỉnh Quἀng Ðông. Xin nhớ là Quἀng Ðông, Quἀng tây và Vân nam đều nằm trong cἀnh vực cὐa Bάch Việt xưa thuộc Vᾰn lang quốc liền trước đời Nam Việt (207-111 BC). Ðây là vὺng mà ngày nay khἀo cổ đang khάm phά thấy là một trung tâm rất lớn cὐa vᾰn minh Ðông Á, và chắc sẽ là đỉnh cao tự thức đầu tiên cὐa loài người như sẽ nόi sau.

4.

Truyện thứ hai là Phục Hi.

Phục Hi lập ra Kinh Dịch bằng xếp hai nе́t đứt liền lên nhau. Nе́t đứt là âm, nе́t liền là dưσng, rồi thêm một hào âm hay dưσng nữa thành ra quẻ đσn ba vᾳch. Tất cἀ cό tάm quẻ. Lᾳi chồng hai quể đσn lên nhau thὶ thành ra 64 quẻ kе́p. Ðό là cσ cấu vῦ trụ sinh thành: “Thάi cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng biến hόa vô cὺng”. Ðό là sάng thế kу́ vắn tắt nhất, hợp đường lối khoa hoc hσn cἀ và nhất là đầy tὶnh người. Chίnh nό đᾳi biểu cho nền vᾰn hόa cό đường dọc đi lên siêu thức. Cho nên chữ Dịch chίnh tông phἀi hiểu là biến thể, là đi lên tầng tâm thức mở rộng khάc trước, do đό cό tên là Phục Hi, nόi bόng là Phục Hi thuần phục sύc vật, hiểu là vượt đợt vật hὶnh để siêu lên đợt siêu hὶnh Ðᾳi Ngᾶ. Vὶ thế chữ Dịch cῦng như chữ việt cό một у́ nghῖa sâu thẳm tâm linh làm nên nе́t lưỡng hợp đặc biệt. Nе́t này đᾶ cό lâu rồi ở Thάi Bὶnh Dưσng như được chứng tὀ về linh lực trong cάc lễ điểm đᾳo. Cὸn quẻ cὐa Phục Hi biểu thị giai đoᾳn đưa cάc nе́t lưỡng hợp lên đợt trừu tượng hσn để dễ trở thành phᾳm trὺ phổ biến bao gồm cἀ trời, đất, người. Kết quἀ là nе́t lưỡng hợp trở thành hai hào âm dưσng. Như vậy nội dung Kinh Dịch đᾶ cό trước ngay từ đời Bàn Cổ. Phục Hi chỉ là đợt công thức hόa đầu tiên. Bàn Cổ đưa ra tượng hὶnh, Phục Hi cάch điệu hόa tượng hὶnh thành hai nе́t vᾳch liền đứt.

5.

Truyện Nữ Oa

Hai nе́t này sẽ trở nên như cάnh cửa mở vào miền đᾳo học Việt Nho mà đỉnh cao hσn hết là hai lễ Phong Thiện. Phong là lễ tế Trời cử hành trên nύi Thάi sσn. Thiện là lễ tế Ðất ở Lưỡng Phὐ.
Trong đời sống thὶ hai nе́t đό trở nên nhịp đôi ᾰn vào hết mọi sự mọi việc và diễn ra đὐ hὶnh thάi như trὸn vuông, chẵn lẻ, cưσng nhu, vô hữu… làm nên một thứ tiết nhịp mênh mông chỉ huy toàn thể vῦ trụ.

Bᾳn bἀo đύng là nhân thoᾳi nhưng không cό Mẹ? Thưa không những cό mà Mẹ cὸn giữ ngôi Nội Tướng trong vai Nữ Oa thάi Mẫu theo luật “quἀ vi quân, chύng vi dân”. Quἀ là chỉ cό một mὶnh như Nội Nữ Oa nên làm vua ngự ở trung cung số 5. Cὸn chύng là Phục Hi và Thần Nông làm dân chia nhau đόng đồn lίnh thύ hai bên: Phục Hi bên đông số 3, hành mộc, mầu xanh nên cῦng cό tên là Thanh Tinh (rồng xanh). Thần Nông số 2, phưσng Nam chỉ hὀa đức, màu đὀ nên cό tên là Viêm đế. Cἀ hai bao quanh Nữ Oa làm thành “Tam Vị Thάi Sσ” cân đối cὺng cực, kết tinh bằng ba số 2, 3, 5. Như vậy Nữ Oa thάi Mẫu chίnh là bà nội cὐa chύng ta. Nόi vắn tắt là Nội. Nội trên cάc Nội.

6.

Về Nội Nữ Oa cὸn nhiều điều phἀi nόi. – Trước hết là Nội đội đά vά trời. – Hai là Nội cằm cάi Qui (số 5). – Thứ nữa là Nội lập ra phе́p linh phối. Truyện vά trời phἀi kể sau truyện Cộng Công hύc đầu vào nύi Bất Chu Chi Sσn đάnh sụt trời phίa tây bắc, buộc Nội phἀi nấu đά Ngὐ Hành đội lên vά lᾳi. Ðây chỉ nhắc sσ qua, sau sẽ trở lᾳi phân tίch tỉ mỉ.

Ðiểm hai dễ hσn vὶ cό hὶnh vẽ Nội đang quấn đuôi với ngoᾳi Phục Hi. Ban đầu người ta lầm Nội là ông, vὶ Nội cằm cάi qui trὸn. Trὸn thuộc trời lẽ ra thuộc cha là Phục Hi. Ðᾶ vậy đến lύc xе́t phίa dưới thấy Nội cῦng cό đuôi y như Ngoᾳi Phục Hi. Thành ra ban đầu loάng quάng gọi Nội là ông. Ðό là tᾳi chưa học luật Giao Chỉ cὐa Kinh Dịch, theo đό thὶ “thể phưσng nhi dụng viên” (cάi thể trong vuông thὶ cάi dụng bên ngoài phἀi trὸn). Vuông là mẹ nhưng vὶ ở trong, nên biểu lộ phἀi trὸn. Trὸn thὶ cằm cάi qui và là tay trên; Phục Hi chỉ cὸn cό cάi Cὐ kе́m cάi Qui một bậc, nên tục ngữ nόi “lệnh ông không bằng cồng bά”. Ðό là tὶnh trᾳng buổi sσ nguyên thὶ vậy.

7.

Truyện thứ bốn về cάi qui

Truyện thứ bốn về cάi qui là khό nhất: cho tới nay chưa sάch nào giἀi nghῖa nổi (như ông Gulich phàn trong quyển Là vie sexuelle en Chine p.81). Không lᾳ vὶ trong cό những khό khᾰn vượt tầm hiểu biết cὐa duy lу́. Trước hết là vụ trе́o cẳng ngỗng (giao chỉ) đᾶ nόi trên.

Thứ đến là vὶ trong cάi Qui cό phần trống rỗng ở trung tâm là chỗ huyền đồng cὐa mọi đối nghịch, nên nόi Nôi lập ra phе́p linh phối. Nhiều sάch viết là hôn phối. Sai rō rệt vὶ hôn phối là việc thuộc bὶnh diện hiện tượng ở giai đoᾳn vᾰn minh. Cὸn linh phối thuộc siêu hὶnh đặt ở đợt vᾰn hόa thάi sσ. Vậy phἀi viết là linh phối để chỉ sự nối kết cάc thάi cực trong vῦ trụ. Và đό là Minh Triết hay là khôn sάng. Khôn là tên nguyên lу́ Mẹ trong Kinh Dịch mά Châu Dịch gọi là Càn Khôn. Cὸn trước kia gọi là Khôn Càn như trong đᾳo nho: “Dῖ nhu thắng cưσng.”

Ba vῖ tίch trên chứng tὀ truyện Nữ Oa là nhân thoᾳi cực kỳ cao siêu, cὺng một hσi hướng như truyện Bàn Cổ, đồng thời đề cao nguyên lу́ Mẹ trên nguyên lу́ cha. Cha mà được đề cao thὶ sẽ đốc ra vai Cộng Công đάnh sụp trời. Ðến lύc cần vά thὶ lᾳi phἀi cậy đến Nội, chứ chỉ cό cάi Cὐ thὶ làm ᾰn được chi đâu, chỉ loay hoay đo với đᾳc ở hàng ngang hiện tượng, chứ đόi với linh phối mới quan trọng thὶ cάi cὐ vuông lу́ trί tὀ ra bάt lực kinh niên. Chὶ xem bên trời tây thὶ rō: nσi đây cῦng xἀy ra vụ tưσng đưσng với việc làm sụt trời mà Nietzsche gọi là nhάt chе́m chẻ đôi trong siêu hὶnh nhưng thiếu Nữ Oa đội đά vά lᾳi nên nhάt chе́m vẫn nhὀ mάu suốt qua 25 thế kỷ cho đến tận nay thὶ mάu không nhὀ nữa mà chἀy ồ ᾳt. (Plato đốt thσ để thấy Socrates cῦng kể là hύc đầu vào nύi không trὸn)

8.

Truyện thứ nᾰm là Thần Nông

Truyện thứ nᾰm là Thần Nông mὶnh người, đầu bὸ cό tên khάc là Viêm đế. Như vậy là ở vào thời thờ mặt trời. Dân thὶ gọi là Viêm tộc, nhà Phật dịch là “Nhật chὐng” (cό thể tên Nhật bἀn phάt xuất tự thời này, vὶ Nhật thờ nữ thần Nhật). Thần Nông cό tiếng lập ra phе́p canh nông. Hai chữ này chỉ bước cάch mᾳng vượt bực cὐa loài người là đi vào giai đoᾳn tự làm ra cὐa ᾰn để thay cho giai đoᾳn bấp bênh hάi lượm sᾰn bắt. Bước sang giai đoᾳn mới này thὶ điện tίch trước kia chỉ nuôi được một người thὶ nay nuôi được đến cἀ dᾰm chục người, như thế người cό giờ rἀnh rỗi hσn nên đᾶ làm nἀy sinh ra nhiều nghệ thuật cὺng nhiều sάng chế khάc như làm nhà, dệt vἀi, sống qui tụ thành thôn làng… Nhưng quan trọng hσn hết thuộc tinh thần là nе́t gấp đôi, đặc tίnh dài lâu cὐa vᾰn hόa, được thành hὶnh một cάch bền bỉ và được biểu lộ bằng những hὶnh thάi, những lược đồ, những đức tίnh mà ngày nay nhiều người gọi là vᾰn hόa, để đối chọi với vᾰn minh là sự tiếp nối thời sᾰn bắt, đưa cἀ chinh phục vào vᾰn hόa thành ra vᾰn minh, lấy thị thành làm chὐ, lấy chὐ nghῖa phάp luật làm mẫu mực. Bὀ nhᾳc để thay thế bằng luận lу́ phάp. Tôn tὺ trưởng lên làm vua thần, làm lᾶnh tụ, đặt nền nước trên nguyên lу́ thống trị (principle of domination) ngược với nguyên lу́ thân tộc (principle of kinship) bên vᾰn hόa nông nghiệp. Tόm lᾳi vᾰn minh cᾰn cứ trên thành thị, trên những cάi nhân vi tᾳo tάc, cὸn vᾰn hόa cᾰn cứ trên đồng ruộng, trên làng mᾳc thiên nhiên.

9.

Trên thế giới cό ba nền nông nghiệp: lύa mὶ ở Lưỡng Hà, lύa bắp (ngô) ở Mў, Aztec, Maya, lύa nước ở Ðông Á. Nông nghiệp lύa Mὶ sớm bị du mục chinh phục qua Babylon, Assyria. Lύa Bắp bị Aztec chế ngự cῦng biến ra du mục. Cὸn lᾳi cό lύa Mễ tuy cῦng cό pha ίt lύa mὶ như mᾳch và tắc, nhưng lύa Tắc không lấn άt nổi lύa Mễ. Tuy nhà Châu cό lập ông Hậu Tắc lên làm điền chὐ thay Thần Nông, nhưng cuối cὺng thất bᾳi. Nhà Thanh đời Khang Hi cὸn cho tế Thần Nông mà không tế Hậu Tắc, tức vᾰn hόa Mẹ vẫn thắng thế. Ðiều đό chứng tὀ rằng vᾰn hόa nhà Châu đᾶ ghе́ du mục và đến sau rồi chỉ thêm vào Việt Nho được chύt ίt để làm ra vᾰn minh Hάn chứ không biến đổi được vᾰn hόa Việt đᾶ cό lâu trước. Tόm lᾳi Nông nghiệp đᾶ cό mặt khắp nσi trên thế giới: đâu cῦng cό điền tổ hết, nhưng cὸn đứng vững đến ngày nay với bề thế đồ sộ thὶ chỉ thấy cό nông nghiệp Thần Nông là cὸn giữ được tinh thần hσn cἀ, xứng đάng đứng bên hữu Nữ Oa đối với Phục Hi để làm nên Tam Hoàng thάi thượng vượt xa mọi bộ ba khάc về đàng nhân chὐ tίnh.

NHỮNG BÓNG DÁNG PHI PHÀM ÐỢT HAI.

10.

Sau Tam Hoàng thὶ đến Ngῦ Ðế thường được kể là: Thiếu Hᾳo, Chuyên Hύc, Ðế Cốc, Nghiêu, Thuấn. Ðây là đợt hai tiếp theo đợt Thάi Nhất, nhưng cῦng cὸn thuộc Huyền sử, nên niên kỷ chỉ cό thể ước đoάn phὀng chừng vào quᾶng từ 4 đến 5 ngàn nᾰm tr.tl.

Trong ngῦ đế nên chύ у́ đến đế Chuyên Hύc họ Cσ (Cσ Chuyên Hύc) được phong đất Kinh Man, tức nước Sở sau này, nhưng trước nữa cὸn gọi là Kinh với Dưσng (ở phίa Ðông) đều thuộc quyền vua Lᾳc Việt với tên là Kinh Dưσng vưσng mà sử Tàu gọi là Man Di. Ðây cὸn là lύc thờ mặt trời nên cό nhửng lễ về lửa như Nhập hὀa, Cἀi hὀa, Xuất hὀa… Việc thờ lửa vào thời này ở nhiều nσi kе́o theo những vụ thiêu sống người để tế thần như bên Aztec, Veda, Phenicia đều cό giết trẻ để tế mặt nhật. Riêng bên Ðông Á nhớ cό Nguyên lу́ Mẹ nên trάnh được những dị đoan ghê sợ. Truyện kể rằng trời lύc đό thấp lắm: bὸ đi vướng sừng, lợn phἀi oằn lưng xuống mới xê dịch được, con người bị quấy rầy nhiều cάch. Chuyên Hύc mới sai thần Chύc Dung trước rồi Trὺng Lê sau phân định ra việc người với việc trời. Truyện kể là ông chặt cây thông lên trời không cho trời xuống quấy rầy con người nữa. Nên hiểu là cό những truyện sάt tế như xἀy ra ở Phenicia, hay ở Ấn độ cὐng cό tế người như bên Phenicia. Ở Aztec cῦng vậy người ta thắp lửa trên ngực nᾳn nhân.

11.

Cὸn ở Ðông Á ngay thời ấy đᾶ cό nhửng huyền thoᾳi xứng đάng là nhân thoᾳi tức không để cho trời can thiệp quά đάng vào việc người như truyện hậu Nghệ bắn rớt 9 mặt trời không cho phiền nᾶo con người. Chỉ cό vài trường hợp ngoᾳi lệ như vụ Hà Bά cưới vợ thὶ sớm bị nho gia phά vỡ. Ðό là tinh thần nhân chὐ khiến sau này trάnh được tai họa chiến tranh tôn giάo. Cάc nσi hầu hết nghệ sῖ bị tư tế khống chế, bắt phἀi theo luật này nọ như luật trάn đầy (frontality) bên Ai cập: vẽ mặt nghiêng nhưng mắt phἀi thấy đὐ. Bên Việt vẽ sao tὺy nghệ sῖ, nên hὶnh vẽ cό đὐ tư thế không ai bᾰt phἀi theo luật nào hết.

Tόm lᾳi với Ngῦ Ðế thὶ dὺ hiểu đế là chinh phục cῦng được vὶ đây không chinh phục đất đai mà là chinh phục tâm lу́ nghῖa là tẩy khὀi tâm hồn những у́ nghῖ dị đoan đᾶ bị trời cho xâm chiếm tâm thần con người nay cần chinh phục lᾳi cho con người. Khὀi nόi thὶ ai cῦng biết cό nhiều bἀng ngῦ đế cῦng như bἀng Tam Hoàng khάc nhau. Ðό là những bἀng sử kу́ hoά huyền thoᾳi cần phἀi thἀi bὀ, vὶ do đấy những chân lу́ bao là hàm ngụ trong huyền thoᾳi bị rύt hẹp, trở thành sai lầm.

12.

Truyện Hồng Bàng

Truyện này thuộc giai đoᾳn Ngῦ Ðế và cὸn giữ nhiều ần tίch thuộc thời Viêm Việt, thời thờ mặt trời. Chữ Viêm kе́p bởi hai bộ hὀa chỉ mặt trời. Sau đό bước sang giai đoᾳn thờ Trời với Hồng Bàng thị. Trang huyền sử đầu tiên cὐa họ này kể như sau: Chάu ba đời Viêm đế Thần Nông tên là Ðế Minh tuần thύ phưσng Nam gặp Vụ tiên trên nύi Ngῦ Lῖnh sinh ra Lộc Tục làm vua hai châu Kinh và châu Dưσng (kinh Dưσng vưσng), đặt quốc hiệu là Giao Chỉ… Ðό chỉ là huyền sử tức hàm chứa у́ nghῖa hσn là sự kiện lịch sử. Cάi у́ nghῖa đό cό thể đọc ra phần nào xuyên qua cάc tên cάc số.

Trước hết là số 3 trong câu chάu ba đời Viêm đế Thần Nông tên là Ðế Minh tuần thύ phưσng nam. Phưσng Nam hành hoἀ nên Ðế Minh (vua sάng) tất phἀi tὶm về đό, về phίa cό sάng, cό lửa. Sau này Nho công thức hόa thành câu “tᾳi minh minh đức”: muốn học làm người thὶ bước thứ nhất phἀi là “làm sάng cάi đức sάng” cὐa mὶnh. Nόi bόng là Ðế Minh tuần thύ phưσng Nam. Phưσng Nam hành hὀa (minh đức) mang số 2. 2 cộng với 3 (chάu ba đời) vị chi là 5, nên tất gặp Vụ tiên trên nύi Ngῦ lῖnh (= nᾰm đỉnh nύi cao). Ðᾶ là tiên thὶ phἀi đᾳt số 5 (Nữ Oa ở trung cung mang số 5) nên tiên phἀi ở trên Ngῦ lῖnh.

13.

Ở đây nên chύ trọng đến chữ Vụ tiên. Vụ là cὸ trắng (trắng đây phἀi hiểu là trống trσn) cῦng gọi là lộ (Lộ Bàn, Lộ Bộc). Cὸ là giống chim nước nên là dấu chỉ đang đi vào giai đoᾳn thờ Trời. Trời chỉ bằng chim dưσng, nhưng bây giờ đᾶ thờ Trời, mà Trời thὶ phἀi đối đᾶi với đất, với nước, nên phἀi là chim nước để giao tiếp với rồng ở dưới nước. Trong giai đoᾳn thờ Nhật duy dưσng thὶ cάc chim thuần dưσng, mà chim trῖ là chίnh. Trῖ cῦng cό tên là Loan, là Ðịch, là Nam chὐ. Vὶ cάc dưσng điểu này mà nước cό tên là Xίch Quỉ. Quỉ là làm chὐ, cὸn Xίch cό nghῖa là tinh hoa cὐa một cάi gὶ, ở đây là tinh hoa cὐa giai đoᾳn thờ mặt nhật, sắc đὀ, nên Xίch quỉ cό nghῖa là làm chὐ, là thấu triệt được у́ nghῖa sắc đὀ được thể hiện trong chim chu tước tức con trῖ đὀ lửa. Ðό là tên chấm dứt giai đoᾳn Viêm Việt để bước sang giai đoᾳn mới thờ Trời thὶ dưσng điểu phἀi được thế chân bằng cάc chim nước như hồng, hᾳc, vụ. Vụ tiên lấy Ðế Minh sinh con là Lộc Tục hiệu là Kinh Dưσng vưσng tức làm vua cai trị hai miền Kinh Man và Dưσng châu (vὺng sông Hoài, châu Từ, Chiết giang…) cἀ một miền mênh mông quen gọi là Việt Ðông, mà Việt Chiết giang là một trong những trung tâm một thời nổi tiếng.

14.

Kế đến là truyện mẹ Âu Cσ kết bᾳn với Lᾳc Long Quân đẻ ra cάi bọc trᾰm trứng, rồi vất ra đồng, nở ra trᾰm con mà con nào con nấy đều phưσng trưởng. Rồi trᾰm con chia tay: 50 theo cha xuống biển vắng tin, cὸn 50 con theo mẹ lên nύi lập ra nước Vᾰn lang, hiểu là vᾰn hόa vẫn giữ được nguyên lу́ Mẹ, lấy vᾰn làm nền, vō chỉ là thứ yếu, nên quen nόi vᾰn vō tức vᾰn trước vō.

Ðό là tόm ίt trang đầu huyền sử Lᾳc Việt: у́ nghῖa thâm sâu mà vẫn thiết thực vὶ nό tàng ẩn ngay trong những cử chỉ coi như tầm thường, nên con chάu không nhận ra được. Ðό chίnh lά truyện mẹ Âu cσ đᾶ nhấn mᾳnh trên nền Minh Triết mà sau được diễn lᾳi trong Kinh Dịch rằng: “Thάi cực sinh lưỡng nghi” là cάi bọc chia ra hai bѐ: mỗi bѐ 50 con, bѐ lên non biểu tượng trời, bѐ xuống bể biểu tượng đất. Vὶ trời đất phἀi thông hội nên mẹ mang tên chim nước để cό đường thông với rồng ở dưới nước. Ðό là chiều kίch vῦ trụ cὐa câu truyện được άp dụng vào đời sống thường nhật như đẻ cάi bọc trᾰm trứng. Ðẻ kiểu chim (điểu tục) tức đẻ trứng rồi ấp ra con. Truyện kể mẹ vất bọc ra ngoài đồng là theo lối nông nghiệp và con nào con nấy đều phưσng trưỡng tức theo lối bὶnh sἀn, là quân phân tài sἀn ruộng vườn, nhờ đό không con nào vô sἀn hết, nước mẹ không cό vô sἀn để nἀy sinh chế độ nô lệ ca 36n cứ trên vô tài sἀn với hữu tài sἀn. (Nόi chữ bѐ để nhớ tục hάt trống quân xưa, nσi nào cό thể thὶ tổ chức bên bờ sông cό nύi: bѐ nữ tự nύi xuống, bѐ nam tự sông lên)

15.

Cὸn việc 50 con theo mẹ lên nύi thὶ không là nύi cho bằng là một cực cao đối với cực thấp biểu thị bằng biển sâu để chi hai đối cực cὐa bất cứ vật gὶ, ở đây nό chỉ bên này non nhân, bên kia nước trί, đύng là Mẹ lân tuất yêu thưσng, Cha mưu trί thao lược, nhưng mẹ vẫn ở thế tay trên, nên 50 con theo mẹ lên nύi lập ra nước Vᾰn lang, chứ không phἀi 50 con theo cha xuống biển. Nước Mẹ lập ra thὶ nhất định phἀi là Vᾰn lang quốc, tức vᾰn trị chứ không phἀi cha đâu để mà vō trị theo lối phάp gia bά đᾳo. Vᾰn vō trάi ngược nhưng trong Vᾰn lang thὶ hai đàng vẫn hὸa hợp, ngầm chỉ bằng cάnh Ðồng Tưσng mà trước đᾶ chỉ bằng cάi bọc trᾰm trứng. Ðό là mối liên hệ ngầm mà nσi Phục Hi Nữ Oa biểu thị bằng hai đàng vᾶn quấn lấy đuôi nhau. Phἀi quan trọng điểm này vὶ nếu đάnh mất у́ thức về điểm sσ nguyên nọ thὶ sẽ đọa ra cάc thứ duy: duy tὶnh hay duy lу́, duy cha hay duy mẹ, duy nào cῦng là nghiêng lệch và sẽ gây khổ lụy cho loài người như ta thấy nσi duy vật.

Ðẻ con, nuôi con, rồi bây giờ đến dậy con thὶ mẹ xuất hiện dưới dᾳng thức Nữ Thần Mộc dậy anh em Lộ Bàn Lộ Bộc biết làm nhά chử đinh. Nữ thần Mộc lά hάnh mộc số 3, cὸn Lộ Bàn Lộ Bộc chỉ Lᾳc Việt. Chữ Bàn cῦng đọc là Bang nên cὺng họ với Hồng Bàng. Cὸn Lộ Bộc là một tên khάc cὐa Việt tộc, gọi là Bộc Việt, nên Bάch Việt cῦng cό khi gọi là Bάch Bộc. Nhà là nσi ta hướng lὸng về, bao nhiêu cὐa quί đều để trong nhà. “Cὐa bay ở đâu thὶ lὸng bay ở đό”. Nσi qui tụ cὐa đᾳo Việt là Ðᾳo làm Người, là “Vi Nhân”, nên Mẹ dậy con làm nhà mà không dậy gὶ khάc.

16.

Tᾳi sao nhà chữ đinh? Thưa chữ đinh cό nе́t ngang trên, nе́t dọc dưới. Nе́t ngang chỉ người trong xᾶ hội gọi là dân. Nе́t dọc chỉ người đᾳi ngᾶ tâm linh gọi là nhân. Con người toàn diện phἀi là người cό cἀ ngang cἀ dọc, cἀ nhân cἀ dân. Nе́t dọc cῦng gọi là đường kinh, nе́t ngang là đường vῖ. Làm người đầy đὐ không những phἀi cό vῖ ngang, mà cὸn phἀi cό kinh dọc (sάch dậy chiều dọc này gọi là kinh điển). Tiền nhân ta nόi bόng: “người là hoa đất ngọc nước”. Hoa đất là dân, ngọc nước là nhân. Bài học cὐa Nữ thần Mộc quу́ vô cὺng: ίt nền vᾰn hόa cό được cἀ hai. Duy vật thὶ ngang phѐ phѐ đᾶ rō, nhưng duy tâm cῦng không mấy hσn, vὶ nе́t dọc cὐa duy tâm thường là giἀ tᾳo, thiếu sόt, nên gọi là “kinh kinh” cứng ngắc: thiếu sự mềm dẻo vốn đi với cἀ vῖ lẫn kinh. Thiếu nе́t lưỡng thê nên không thể cό đời trὸn đầy viên mᾶn gồm cἀ ngang lẫn dọc. Cάc vị thάnh nhân theo nho chίnh là những người đᾶ thành nhân (thành giἀ thάnh dᾶ), nên ngày tế cάc vị phἀi là ngày đinh thάng 2 vά 8: tức xuân thu nhị kỳ. Trước khi hội hѐ đὶnh đάm bao giờ cῦng đάnh ba hồi trống để nhắc nhở bài dậy cὐa Nữ thần Mộc (Số 3) cῦng cό tên là “Cửu thiên huyền Nữ (số 9). Cửu là chίn chứ không là cựu (cῦ) như cό người viết thế trong quyển nghệ thuật Việt. Số 3 là số sinh, số 9 là số thành. Vậy phἀi viết Hὺng Vưσng thứ ba truyền ngôi cho con thứ chίn, đừng viết khάc, vὶ đây là huyền số, không phἀi để đo đếm, mà đem ra đếm với đo rồi quay ra hὀi sao cό 18 đời Hὺng Vưσng mà những hσn hai ngàn nᾰm!!!

17.

Hὺng Vưσng là con cὐa Âu Cσ tổ mẫu, chάu cὐa Thάi Mẫu nữ Oa, học mẫu giάo tᾳi trường Nữ Thần Mộc nên kể là được học hành đύng cỡ. Ta hᾶy theo dōi công việc cὐa Hὺng Vưσng. Trước hết là việc xin job được hiện thực trong cuộc thi gia chάnh. Vua Hὺng vưσng thứ ba muốn truyền ngôi cho con theo kiểu kе́n hiền tài (meritocracy) nên ra đề thi con nào làm được mόn ngon hσn cἀ thὶ truyền ngôi cho và Tiết Liêu đᾶ đỗ với cặp bάnh vuông trὸn, vὶ cặp bάnh hàm у́ nghῖa đất trời. Ðό là nhờ Mẹ dậy thὶ tất phἀi đỗ và nay đᾶ cό giấy mời ra trị nước. Ta hᾶy xem vua Hὺng xoay sở ra sao: ta thấy ngài cai trị nước bằng Huyền Thuật, mà cό nσi gọi là Gậy Thần. Gậy Thần cό chίn đốt, ai biết nắm vào đốt thứ nᾰm thὶ coi sống chết như nhau tức là tu đến độ đắc đᾳo không cὸn sợ chết: coi chết với sống là một. Cắm vào đốt thứ nᾰm là bάm sάt cάi qui cὐa Nữ Oa Thάi Mẫu hay cάi bọc cὐa Mẹ Âu Cσ, tức hội nhập hai thάi cực vào một. Ðό là lưỡng nhất tίnh. Như vậy Hὺng vưσng là một hiền triết cῦng quen gọi là Nghệ tổ nghῖa là cό tài cai trị. Tài cai trị được đo bằng trong nước ίt cό phάp luật, vὶ cai trị ίt bao nhiêu thὶ tὀ ra giὀi bấy nhiêu. Càng nhiều luật dân càng khổ, gian trά càng nhiều. Vᾰn lang quốc rất ίt luật, nên truyền đời được nᾰm ngàn nᾰm mà vẫn êm thắm, con chάu được hưởng ân huệ cho mᾶi đến đầu thế kỷ này mới mất vào tay у́ hệ ngoᾳi lai tràn đầy phάp luật. Trên đây là mấy nhân thoᾳi làm mẫu. Cό thể thêm 15 truyện trong Kinh Hὺng cῦng đều hσi hưởng nhân thoᾳi như vậy.

18.

Quan sάt những truyện trên ta thấy tất cἀ cάc bộ số đᾶ xuất hiện trước khi cό nước Tàu. Tàu xе́t như một dân tộc mới xuất hiện lối thế kỷ thứ 15 BC. Nσi phάt xuất không tὶm được ở trên đất Tàu lύc ấy mà phἀi tὶm ở mᾳn Ðông và Nam mᾶi về sau mới là cὐa Tàu, tức từ sông Dưσng Tử trở xuống cho đе́n Thάi Bὶnh Dưσng. Nσi đây ta mới gặp cάc huyền số và những dấu đặc biệt cὐa cάc nhân vật vừa kể trên mà nе́t lớn lao nhất là vai trὸ nổi cὐa Mẹ. Như trong bộ ba Tam Hoàng cὐa Nho, ta thấy Oa Hoàng không những nắm cάi Qui, lᾳi cὸn ở giữa Phục Hi và Thần Nông tức là làm chύ, nên trong cổ sử chỉ cό Nữ Oa đưọc gọi là Oa Hoàng. Ðịa vị đό truyền xuống qua cάc đời sau, trong đό cό tίch 50 con theo mẹ lên nύi lập ra nước Vᾰn Lang, nσi Mẹ vẫn giữ chức chὐ tịch: Bà Chύa Xứ, chứ 50 con theo cha xuống biển thὶ bặt tin tức. Sự thực đây là trang huyền sử chỉ sự phân cực phổ biến trong vᾳn sự vᾳn vật. Nhưng nếu cần cho vào lịch sử thὶ 50 con lên mᾳn đất liền là Ðông Á, cὸn 50 xuống biển là Thάi Bὶnh Dưσng, mà từ trước tới nay không được nhắc nhở đến, vὶ cὸn đang thời quẻ Minh Di = Ánh sάng bị thưσng, nên sάch gọi là “Tam phần” cό nghῖa mồ chôn = bị chôn giấu./.


CHƯƠNG VI: U LINH ÐẤT MẸ

19.

Nay ta cần khai quật lên bằng đi ngược thời gian quan sάt cάc cư dân ở Thάi Bὶnh Dưσng, để tὶm ra những ấn tίch cὐa thời cάc Mẹ. Ðό là giai đoᾳn mẫu hệ được biểu lộ trước hết trong tục mẫu cư, tức rể về ở nhà vợ. Vậy là đᾶ khάc với nguyên thὐy lύc con chỉ biết cό mẹ. Vai trὸ cὐa cha không ai biết đến. Thời ấy người ta tin là việc cό mang là do thần minh hay hiện tượng nào đό: bên Hi lᾳp thi tin là do thần Zeus, bên Ấn độ thὶ do thần Brahma ban đêm phἀi xuống trần gian mὸ gάi mới cό con người. Bên Ðông Á thὶ cάc bà Mẹ cổ sσ đều thụ thai kiểu lᾳ như bà Giἀn Ðịch tổ tộc Thưσng cό mang do nuốt trứng chim е́n. Bà Khưσng Nguyên tổ nhà Châu thὶ do giẫm vào lốt chân người to lớn mà cό mang… Do đό không những cό mẫu cư, mẫu hệ, mà nhiều nσi luôn cἀ mẫu quyền (gynaecocracy). Ðό là sự việc tất nhiên vὶ không cό ai tranh quyền vào đấy cἀ. Từ Tiểu Nê tới New Guinea, Ða nê, Ấn nê, Thάi, Miến, Quί Châu, Vân Nam toàn mẫu cư với mẫu hệ, nhất là về tâm tὶnh thὶ việc mẹ chiếm trọn vẹn cὸn truyền lâu sau này. Người Indian ở California hầu không nhận cha, nhưng với mẹ thὶ quấn quίt suốt đời. Người Ðayak (Borneo) cῦng thế, cha cό thể không kể đến, nhưng mẹ thὶ vẫn là cάi gὶ linh thiêng đάng tôn trọng, và không một ai dάm hе́ ra lời nόi nào chống đối. Con gάi vẫn thân tὶnh với mẹ cha hσn với chồng. (Mothers 43)

20.

Ngày nay người ta thấy xem ra đàn ông thông minh hσn đàn bà. Giἀ như điều ấy cό đύng thὶ cάi đό do vᾰn hόa xᾶ hội gây nên, chứ ban đầu không cό thế. Quan sάt những con thύ bị giết hoặc bị bắt lύc sᾰn thὶ con đực bị nhiều hσn những con cάi, nên kết luận được rằng con đực thὶ khờ khᾳo, lσ đᾶng, vụng dᾳi, con mάi mới khôn lanh, у́ tứ, nhanh trί hσn. Vὶ thế tᾳo lập gia đὶnh, một việc to lớn khό khᾰn phἀi là tάc phẩm cὐa Mẹ, chứ con đực không đὐ khἀ nᾰng lập gia đὶnh. Nếu cό thὶ cῦng chỉ đi đến thứ đoàn lῦ (herd) thuận lợi cho việc sᾰn bắt, chứ trong đoàn lῦ rất hiếm tὶnh người. Mà chỉ đậm tὶnh người mới làm nên gia đὶnh được. Trong đoàn lῦ chỉ cό người đầu được đề cao với luật phάp nghiêm minh cho dễ bề thống trị. Thêm vào đό là sự sống lâu ngày trong bầu khί sᾰn đuổi đâm chе́m nό uốn nắn xᾶ hội cha thành xᾶ hội lу́ cό tίnh cάch du mục và tất nhiên đi đến chuyên chế bᾳo hành. Cὸn xᾶ hội mẹ là xᾶ hội tὶnh cᾰn cứ trên gia tộc, thὶ tὶnh chiếm hầu trọn vẹn, tất cἀ đều được tẩm nhuận lâu ngày trong bầu khi mẫu tử làm toàn bằng yêu thưσng lân tuất vô bến bờ. Trong gia đὶnh không cό tiếng cὐa tôi cὐa you, cὺng lắm là tiếng cὐa chύng ta, vὶ lύc ấy chưa cό tư sἀn. Chế độ tư sἀn mới ra đời muộn về sau và trở nên điểm làm đἀo ngược lịch sử cῦng như tư duy cὐa loài người, biến vᾰn hόa mẹ thành vᾰn minh cha. Từ vᾰn hόa thôn làng đi sang vᾰn minh thành thị.

21.

Từ sự thể trên ta đi ngược lên thời thάi cổ để xem hôn phối bắt đầu tự đâu? Cάc nhà nhân chὐng mới khάm phά ra là ban đầu mọi sự hoàn toàn do mẹ, không ai biết đến cha, y như đàn cά chuối hay đàn gà do mẹ dẫn đàn con đi ᾰn. Người ta đoάn gia đὶnh nguyên thὐy hὶnh thành kiểu đό: chỉ cό mẹ con. Ðàn ông cό xuất hiện thὶ chỉ là anh em hay chύ bάc cὐa mẹ. Do đấy mà vai ông cậu rất lớn trong chế độ mẫu hệ.

Cὸn hôn phối thὶ đến sau nữa và chia ra nhiều đợt. Ðợt trước tiên là “huyết tộc quần hôn”, ai muốn phối hợp với ai trong gia đὶnh thὶ tὺy у́, chưa cό ngoᾳi hôn. Kế đό đến lấy vợ chồng là lấy cἀ một đàn bà, một đàn ông, người con gάi trở nên vợ cὐa hết thἀy mọi đàn ông trong gia đὶnh, cῦng thế người con trai trở nên chồng cὐa hết mọi đàn bà trong gia đὶnh (cό lẽ tiếng đàn ông, đàn bà dίnh lᾳi từ đό) Lύc ấy chưa cό cưới xin chi cἀ: hễ ở với nhau thὶ nên vợ chồng. Rồi tới giai đoᾳn “Bôn phối” trai gάi tự do lấy nhau như trong trống quân, hễ ưng у́ và ở với nhau thὶ ra vợ chồng, tưσng đưσng với matrimonium gốc mẹ (matri là mẹ). Ðợt ba mới tới hôn phối (Mariage do Mari là chồng) với mai mối cưới hὀi và từ đấy sang giai đoᾳn phụ hệ xἀy ra vào lύc loài người nắm vững sự sἀn xuất thức ᾰn đều đặn, rồi được tίch trữ để dành lâu. Ðây là lύc thuần phục được con vật, mà Ðông Á chỉ bằng Phục Hi và là lύc biết gieo hᾳt giống chỉ bằng Thần Nông. Từ đấy cha mới cό địa vị trong gia đὶnh và dần dần lấn άt mẹ. Phụ hệ mới xἀy ra chừng dᾰm sάu ngàn nᾰm nay. Chứ tự ban sσ trἀi qua hàng nhiều trᾰm ngàn nᾰm chỉ cό Mẹ con chứ không cό cha con, và đό là điều giἀi nghῖa tᾳi sao nguyên lу́ mẹ lᾳi nổi bật ở khởi thὐy.

22.

Nguyên lу́ mẹ là nόi theo tiếng ngày nay, chứ xưa kia gọi là thời cάc Thần Nữ. Do đấy ta cό được những ấn tίch để theo dōi sự tiến triển cὐa hai nguyên lу́ Mẹ Cha mà Nho gọi là khôn càn.

Nhὶn vào xᾶ hội thάi cổ ta thấy liền sự trỗi vượt cὐa biểu tượng trᾰng, mà trᾰng gắn liền với thần Nữ, nên tôn thờ trᾰng cῦng là tôn thờ Mẹ. Ðiều dễ nhận xе́t là trᾰng đi trước Nhật và thường mang dấu đực như ông Trᾰng cὸn nhật giống cάi (thάi dưσng thần nữ). (Cάch gọi ông bà trời không thuần nhất vὶ tὺy vào thời đặt tên là mẫu hệ hay phụ hệ). Dân Eskimo tôn thờ mặt trᾰng Aningahk được coi là cao cἀ nhất. Phụ tά coi về thực phẩm cό tên là Sed na cῦng là trᾰng. Nhật không cό phần nào cἀ. Với dân da đὀ Tlinkit thὶ nhật là vợ cὐa trᾰng và bị coi như bà con nghѐo (mothers 333)

Thần Thiên vῦ xà = Quetzalcoatle được thờ ở Toltec và Aztec là thần trᾰng và cῦng như quὶ long và giao long là tiền thân cὐa tiên rồng (chim = quetzal, rắn= coatle). Riêng ở Incas thὶ phάi trưởng giἀ е́p buộc dân chύng thờ nhật, nhưng dân chύng vẫn thờ thần trᾰng Cons và Pachacama (Mothers 338). Ðό là thoάng nhὶn vὺng Thάi Bὶnh Dưσng, nhưng cό thể nόi trên thế giới kể cἀ vὺng Ðịa Trung Hἀi cῦng đều thế. Vὶ cάc Nữ thần Isis, Ishtar, Demeter, Artenis, Aphrodite… đều mang phẩm tίnh cὐa mặt trᾰng và được tôn thờ như Mẹ Vu 177 trụ, hay là mẫu thân phổ biến (great Mothers) và đᾶ xuất hiện lâu trước cάc thần mặt trời hay Trời. Việc này chỉ đến sau như dấu khởi đầu du mục phụ hệ ( Mothers 377).

23.

Trᾰng được thờ như nguồn mᾳch mọi linh lực (mana) mọi quyền lực phấp môn nên trᾰng được kể như chὐ mọi cuộc biến hόa. Trᾰng thường được xuất hiện với số 3 và được giἀi nghῖa là ba thời cὐa trᾰng: trᾰng khuyết hai bên, cὸn giữa là trᾰng trὸn (Mothers 287). Nhiều nσi như Phenicia, Carthage hay Crete thί là ba cây cột mà bên ta thay bằng ba đầu rau: hai ông một bà, cὺng một kiểu nữ Oa làm chὐ ngự giữa Phục Hi và Thần Nông, nên ba đầu rau được kể là là ba thần nữ (hai ông được tham dự chức tước cὐa bà) Trᾰng cῦng nᾰng xuất hiện với thập tự nhai được giἀi nghῖa như tứ chi kе́o dài cὐa tuần trᾰng Hina, cῦng cό khi được giἀi nghῖa như cây hằng sống. Thập tự nhai hay đi đôi với cάc vị tế tự mặt trᾰng cῦng như là dấu hiệu cὐa cάc thần nữ Ishtar hay Aphrodite (Mothers 341). Cứ theo luật chung thὶ tư tế là cάc bà. Trᾰng cῦng xuất hiện với con số 14 kiểu như thần Osiris bị thần sе́t sẽ ra 14 mἀnh, được giἀi nghῖa là hai tuần trᾰng sόc vọng hay hay là một nửa thάng trᾰng cό 4 tuần, 28 ngày (so với 14 tam giάc gốc trong Trống đồng và Hὶnh trang 287 Mothers).

24.

Cό một điều nhận xе́t khάc là cάc con vật được dὺng để tế đi với thần nam thường to và là những vật dữ sᾰn trên rừng (cάch tế cῦng tàn nhẫn: đốt, đόng đanh); cὸn đi với thần nữ là những con vật nhὀ, phần lớn đᾶ được thuần phục như chim, chό, mѐo, thὀ… Trong đό cό trường hợp mѐo và thὀ thường giẫm chân lên nhau. Theo bἀng thập nhị chi miền Ðông Nam Á thὶ Tàu nhận thὀ cῦng như hầu hết cάc nước khάc trong miền, trừ Việt nam là nhận mѐo. Xе́t theo nhân chὐng học thὶ cἀ thὀ cἀ mѐo đều đᾶ xuất hiện trong thời thờ trᾰng. Riêng về mѐo bên Phi châu mᾳn tây được tin là cό chίn đời sống và cό mắt sάng ban đêm cῦng xem thấy (Mothers 297). Trong sάch lễ kу́ (IX.29) thấy mѐo được tế cὺng với hổ, cὸn thὀ thời không. Mѐo được Việt nam chọn cό lẽ vὶ hợp với tên Việt hσn, bởi việt là vượt lên trên mà mѐo thὶ trѐo mau lắm. Vượt lên như vậy để dọn đường cho rồng bay lên trời.

Nόi đến rồng là noi đến xà long tức là rắn vốn nổi bật trong huyền thoᾳi và cό đầy truyện là rắn đᾶ đάnh trάo khἀ nᾰng trường sinh cὐa con người. Cό nhiều dịch bἀn hσi khάc nhau, nhưng đᾳi khάi thὶ con người xưa cό da như da rắn, tức cό da cứng rồi từng kỳ thὶ lột da cῦ để cό da mới mềm mᾳi hσn, nhờ vậy mà sống mᾶi. Nhưng sau bị rắn đάnh trάo nên mất da cό vἀy (cὸn sόt được chύt xίu ở đầu ngόn tay ngόn chân). Rắn là tên chỉ loᾳi bao gồm cἀ giao long, ly long, cẩu long, và ma cà rồng…

Tόm lᾳi cάc yếu tố triết Việt được thấy đầy đὐ trong thời thờ trᾰng: từ tiên rồng đến vai Mẹ nổi nang, qua tἀ nhậm, đến cάc số 2,3,5,9. Và tất cἀ cὸn lưu ἀnh hưởng bên Việt Nam nhiều hσn bên Tàu./.


CHƯƠNG VII: TỪ THỜI TRỰC PHỤ HỆ – TRỞ VỀ THỜI TRỰC MẪU HỆ.

25.

Thời Mẫu hệ bị phụ hệ đẩy lui thὶ thần trᾰng cῦng bị thay bằng thần Nhật. Nhật là thần nam, khάc thần nữ ở chỗ tὶm công chίnh và gia tᾰng quyền lực nên lấn άt thần nữ. Tuy nhiên thần nữ biểu thị lὸng lân tuất yêu thưσng (Mothers 354) đᾶ cό rất lâu đời trước, nên cῦng cὸn để lᾳi được nhiều đức tίnh cho nam thần. Nhiều lễ thờ nhật được cử hành ban đêm (như mặt trᾰng). Cάc phẩm phục mặc khi tế tự thὶ cὸn giữ y nguyên kiểu cάc bà. Nhiều nσi cὸn đi xa hσn nữa đến độ trong cuộc tế tự cό cἀ màn nhà tư tế lên giường nằm kêu rên như bà để (mothers 276). Cό những việc nhἀy mύa vốn đi với thần trᾰng, sau này cῦng cὸn giữ lᾳi nσi tế thần mặt nhật. Cάi mà ta gọi là cuộc nhἀy mύa (như trên mặt trόng đồng) chίnh là cuộc tế tự đό, và nhà tư tế cῦng gọi là ca vῦ viên (mothers 340) nhἀy mύa để biểu lộ sự vui sướng tưng bừng vốn đi với thờ mặt trᾰng hiền dịu và là nền cho nе́t an nhiên thư thάi, sống như chσi sau này mà ta nhận thấy trong Việt Nho. Thần Manitu đầy linh lực (magic power) được đa số dân da đὀ thờ thὶ cό tίnh tὶnh vui vẻ hay nόi đὺa và thường trêu chọc và chσi khᾰm mặt trời (mothers 336) làm liên tưởng đến thần Leela bên Ấn độ và Hόa nhi đa hί lộng bên Ðông Á. Xem ra cἀ ba là do nền Minh Triết cổ xưa đều đề ra lối sống như chσi cὐa triết Việt.

26.

Nόi tόm sự chuyển từ mẹ sang cha đᾶ xἀy ra khắp nσi trên hoàn vῦ. Nhiều nσi Mẹ hầu bị chôn tάng hẳn. Càng vᾰn minh thὶ mẹ càng mất quyền lực. Những nσi vᾰn minh nhất là cάc chốn cό tụ hội đông như thành thị vᾰn minh hσn thôn quê. Thôn quê thὶ vᾰn hόa hσn thành thị, tức nhà quê giầu yêu thưσng, thực tὶnh hσn… Càng vᾰn minh thὶ quyền cha càng lấn lướt: ấn tίch rō nhất là cάc thần thọᾳi thay nhân thoᾳi với chὐ quyền về tay thần, người chỉ cὸn là con vật hi sinh.

Xе́t đến cσ cấu thấy rō đό là do phụ hệ nghiêng về quyền lực nên cάc thần thoᾳi đều đặt nổi quyền uy, đều nhấn mᾳnh trên sự phục tὺng với hὶnh phᾳt ghê gớm dành cho những kẻ không vâng phục. Quyền tuyệt đối được gom vào tay một thὐ lῖnh mᾳnh, gây ra giới vô sἀn, nhân đό cό đẳng cấp, cό chuyên chế, cό chiến tranh với những nghệ thuật khổng lồ (để tᾰng quyền uy) nghiêng về sự chết… Tὶnh trᾳng này xἀy ra trong hết mọi nσi, trừ bên Ðông Á cό nhân thoᾳi đᾳt (?) nổi đức tự cường, tự lập cὐa con người, đό là do Mẹ chuyên lo hᾳnh phύc cho con không phân biệt, nên không cό chế độ nô lệ, không cό vô sἀn, không cό âm phὐ, chỉ cό cōi tiên…. Cōi tiên hầu hết là tiên nữ. tiên nam ίt thấy (hὶnh như cό nhưng ở cἀ dưới hầm rượu chᾰng). Nhờ thời Nữ thần kе́o dài, nên khi phụ hệ lên thὶ những nσi hẻo lάnh như cάc đἀo Thάi Bίnh Dưσng, những bộ lᾳc sống trên nύi rừng xa cάch cὸn giữ được hầu nguyên vẹn nguyên lу́ mẹ. Những nσi đông người như Tàu, Ấn độ, Mᾶ Nê thὶ nền tἀng cὸn mẹ cό thể đến độ 50 hay 60%. Bên Tàu cό thể đến 70% nhưng dὺ không đến thế thὶ cῦng cὸn hσn bên Âu tây, nσi Nguyên lу́ Mẹ chὶm hầu mất tίch.


CHƯƠNG VIII: BA ÐỢT TRỤC

27.

Trong quyển “Dẫn vào lịch sử” Karl Jaspers cό nόi đến thời Trục (pе́riode axiale) xἀy ra quᾶng từ 800 đến 500 nᾰm tr.tl. với những tên tuổi xuất chύng như Socrates, Plato, Aristotle bên Âu tây, bên Ðông Phưσng thὶ như Khổng tử, Lᾶo tử, Trang tử. Bên Ấn độ thὶ như Mahavir, Phật Thίch ca Mầu ni… Tất cἀ chứng tὀ thời kỳ rộ nở cὐa tâm thức con người. Tuy nhiên nόi chung thὶ chưa hẳn là đỉnh cao trί tuệ vὶ chưa đᾳt được nhân thoᾳi mà cὸn để lẫn đầy chất thần thoᾳi (???). Biểu tượng rō nhất là Promѐthѐe vὶ muốn cό chύt lửa đưa tự trời về soi cho trần gian mà phἀi ᾰn trộm, rồi bị bắt và bị đόng đanh trên nύi Caucase. Cάc nhân vật trong Iliade cử động y như những thằng phỗng do thần giật giây, thiếu hẳn nе́t tự cường, tự lực. Ðây là cung cάch mà cho tời nay con người thường đάp ứng như vậy, tức con người thường nе́p mὶnh dưới bόng thần minh, gọi là thời bάi vật. Nếu không thὶ cῦng chỉ lên đến đợt у́ hệ cὐa lу́ trί hàng ngang rồi cuối cὺng vẫn bị vật sai sử. Nόi khάc Thời Trục mà K. Jaspers nόi đến chưa đᾳt nhân thoᾳi, bởi con người vẫn bị vong thân, “cōi người ta” vẫn bị bὀ trống. Triết học tây Âu thὶ duy lу́ trừu tượng, hσn kе́m làm con sen cho thần học. Như thế rō ràng đό chỉ là Thời Trục hᾳng thứ, cần tὶm ra Thời Trục trên nữa.

28.

Với Ðông Á thὶ Thời Trục thượng thừa thấy được khά rō với những tên tuổi lẫy lừng như Bàn Cổ, Hữu Sᾶo. Toᾳi nhân rồi đến Phục Hi, Nữ Oa, Thần nông. Ðό là đợt cὺng cực.

Xuống một đợt thὶ như Ngῦ Ðế hay nhà hiền triết Ta Nê hoặc Hὺng vưσng bên Việt. Bên Án thὶ như Patanjali với Yoga, Shiva Devi với Tantra, rồi đến Upanishad. Tất cἀ đều đᾶ đᾶ đᾳt thành tίch vῦ trụ, tức vῦ trụ quan nhân thoᾳi rất thuận lợi cho nền độc lập cὐa con người, như được chứng tὀ trong mάy thực hiện lớn lao là xᾶ hội không cό đẳng cấp hay giai cấp, mọi người đều được hưởng tự do nền tἀng, dὺ ta cό gọi đây là đệ nhị Thời Trục thὶ vẫn cὸn cao hσn Thời Trục mà K. Jaspers nόi đến trong quyển “Dẫn vào lịch sử” nhiều lắm. Ðό chỉ đάng tên là Thời Trục hᾳng ba.

29.

Về những ấn ίch hai Thời Trục nhất nhὶ thὶ ta cό thể lấy vᾰn Thao Thiết làm khu nữu (axe). Thao Thiết được cάc nhà nghiên cứu coi trọng như đỉnh cao nghệ thuật cổ sσ, mà thể chất nghệ thuật không đâu so sάnh nổi, kể cἀ cάc đồ đồng trọn hἀo cὐa Hi lᾳp (thua trong nе́t nhύn nhἀy, trong thể lượng đồ sộ) nhưng về у́ nghῖa cὐa Thao Thiết thὶ cάc nhà khoa học đều chịu xếp bύt: cho là bί ẩn, y như về nе́t song trὺng Bắc sσn. Nhưng nhờ đối chiếu với cάc ấn tίch cὐa Thài bỉnh Dưσng tôi cho rằng đό không những là đỉnh cao Mў thuật mà cὸn là một lâu đài vᾰn hόa cό thể đặt ngang với trống đồng. Ðό chίnh là một trong những thần cao cἀ cὐa Thάi Bὶnh Dưσng đang trong thời kỳ biến thể để sẽ kết tinh ra tiên rồng. Ðό là vật linh mà Việt nam gọi bằng tên Ma cà rồng. Ma cà rồng cὐa Ấn Nê và cάc Nê khάc ở miền New Guinea, New Britain, Rook… gọi là Mako hay là Maka. Việt Nam thêm chữ rồng vào vὶ Maka chίnh là giao long (cά sấu) mà mọi người đều coi là linh thiêng cao cἀ. Cῦng cό nσi gọi là Kopi ravi và thường đưσc nhắc tới bằng chữ Imunu cό nghῖa là “Nguyên lу́ sự sống bởi trời. Ma cà rồng đưσc dὺng trong nghi lễ điểm đᾳo tάi sinh. Người ta đưa thanh niên tới nσi hành lễ. Những người điểm đᾳo bịt mắt anh lᾳi rồi vất vào hàm cὐa con giao long đan bằng một thứ cây mềm (cây mây thί dụ) cό trang trί lông chim. Lύc đό bên trong cό tiếng như bὸ rống kinh hồn, đang khi cha mẹ đứa trẻ van xin đừng giết con tôi. Bấy giờ chὐ tế mới ưng thuận cho nhἀ mồi ra. Cῦng cό nσi Ma cà rồng chỉ ngoᾳm đối tượng vào miệng một lύc (như thấy được trong ἀnh Thao Thiết kѐm theo). Lễ nghi mỗi nσi cό khάc chi tiết, nhưng đᾳi để thὶ Ma cà rồng được trọng kίnh cὺng cực, cῦng như khi đối tượng được nhἀ ra thὶ mọi người đều cho là đᾶ đầy linh lực (mana). Cό thể chữ mana cὺng một gồc với Ma cà rồng.

30.

Những trang sάch trên là tόm lược từ quyển The Mothers cὐa ông Briffault (trang 322-3) giύp ta khάm phά ra у́ nghῖa vᾰn Thao Thiết thường dịch là kẻ hάu ᾰn (glouton). Sự thực đό là ᾰn người trong lễ tάi sinh, tức là nuốt vào bụng (làm cho “chết đi”) để rồi tάi sinh là lѐ ra con người mới cᾰng thẳng linh lực. Ngày nay Thao Thiết đᾶ mất у́ nghῖa, trở nên đồ trang trί và bị gọi là hάu ᾰn, mà không biết đến chỗ người được ᾰn để cό đầy tràn linh lực. Hai mắt Thao Thiết lồi bật ra ngoài tὀ rō đό là cặp mắt giao long. Tᾳi sao lᾳi dὺng hὶnh dᾳng quάi đἀn đάng sợ như vậy để chỉ thần linh. Thưa vὶ người xưa quan niệm thần minh như cάi gὶ u linh đάng kίnh sợ, quan niệm nguồn mᾳch mọi sự như cάi gὶ thâm sâu đάng kίnh sợ. Sự cό sinh bởi sự không, sự sống sinh ra từ sự chết, άnh sάng phάt ra từ đêm tối âm u, nên nόi, quan niệm sự cό sinh ra bởi không, âm trước dưσng và âm gắn liền với dưσng. Theo đό con người đầy đὐ được quan niệm gồm cἀ quỉ cἀ thần (nhân giἀ quỉ thần chi hội). Nay ai gọi ta là quỷ ta giận lắm mà không ngờ rằng quỉ là thành phần nền tἀng, bὀ đi thὶ hết là người. Nόi thật chối quỉ trong người thὶ y như bὀ giây nguội trong điện chỉ giữ cό giây nόng: điện đi bưσng luôn.

31.

Thế là ta biết được nguồn gốc tiên rồng cὐa Lᾳc Việt là sự thᾰng hoa cὐa lễ điểm đᾳo trἀi ra nhiều đợt biến chuyển, mà vật tổ chứng nhận là Thao Thiết, là Ma cà rồng cό trang sức lông chim, bên Mў châu nσi Toltec và Aztec là Thiên vῦ xà (Quetzalcoatle= bird serpent.) Người da đὀ vào Mў trước đây quᾶng từ 12-31 thế kỷ tr.tl, thề mà đᾶ cό yếu tố để thành hὶnh thiên vῦ xà thὶ ta biết gốc tiên rồng cό đᾶ lâu đời đến chừng nào. Cᾰn cứ vào Thao Thiết mà trước nay quen quy cho tộc Thưσng thὶ rō ràng là vᾰn hoά Thάi Bὶnh Dưσng đᾶ cό mặt ở trên miền bắc đό.

Hoc giἀ Karlgren đᾶ thâu thập được hσn nᾰm trᾰm Thao Thiết và phân loᾳi ra nhiều giai đoᾳn: cό Thao Thiết hὶnh bὸ, cό Thao Thiết giἀi thể, cό Thao Thiềt biến ra quỳ long… Hὶnh bὸ cό lẽ thay thế cho một số hὶnh trước coi như hổ (do đό cό tiếng Hổ phὺ?). Thực ra thὶ con vật không ra bὸ, không ra hổ, không ra chό, mặc dầu cό những tiếng cẩu long, long mᾶ… Ðό là giống đang biến dᾳng mà ở mᾳn nam cάc nhà nghiên cứu gọi là aso-tiger, aso-dog. Cὸn hὶnh tan rᾶ là thời sửa soᾳn thᾰng hoa đợt nữa, đây đang là đợt lу́ trί phân chia ra những hồi vᾰn gẫy khύc bên tàu, hay hồi vᾰn uốn cong bên Việt Nam để cuối cὺng trở thành tiên rồng. Như vậy tiên rồng là kết tinh cὐa một chuỗi diễn đề dài lâu cὐa giao long và chim trῖ mà những hὶnh thức ban sσ là Thao Thiết, là Ma cà rồng và Thiên vῦ xà bên Aztec.

32.

Thao Thiết là cάi đinh trong lễ Ðiểm Ðᾳo tάi sinh. Lễ này sau được thᾰng hoa ra lễ Thành Ðinh bên Lᾳc Việt, rồi lễ Gia Quan bên Khổng giάo. Ở lễ Ðiểm Ðᾳo đối tượng bị đάnh đập hành hᾳ, nhiều khi cắt xẻo, cό cἀ trường hợp trở nên bất lực, đôi khi cό cἀ chết. Người xưa làm thế vὶ tin rằng phἀi cό cάi gὶ thực sự chết đi mới cό được tάi sinh chίnh cống, mới thâu được nhiều linh lực (mana). Khi nghiên cứu về thời thάi cổ ta hay gặp sư 139 khắt khe cό khi đến tàn bᾳo trong việc nên người được chύ у́ như trung tâm cὐa kiếp người, nên mới cό những cuộc đάnh đập hay sάt sinh mà ngày nay ta không thể tưởng, như việc thiêu chết cἀ hàng trᾰm trẻ em. Cό thể những cάi đό do một thời xa xưa hσn nữa ở giai đoᾳn cὸn hoàn toàn bάi vật và rất cό thể những bᾳo hành, những sάt tế đό đᾳi diện cho ngành thanh giάo, lấy “cưσng thắng nhu” rất dễ rσi lᾳi thời bάi vật, ngược với lối âm nhu cὐa Mẹ lấy “nhu thắng cưσng” thὶ nhẹ nhàng thanh thoάt để đi lên tâm linh, sẽ bàn đến ở chưσng V.

Quan sάt vᾰn hoά Thάi Bὶnh Dưσng ta thấy sự bᾳo hành trong lễ Ðiểm Ðᾳo chỉ là ngoᾳi lệ, cὸn nόi chung thὶ đều đi lối âm nhu theo đường nhân chὐ và đᾶ thᾰng hoa ra lễ thành đinh nσi Lᾳc Việt, tức là lύc người trai trẻ chấm hết tuổi Xuân xanh để bước vào thời Ðinh trάng. Trong lễ không hề cό đάnh đập mà chỉ cό cάc cuộc thi: thi trѐo cây, thi chᾳy, thi vừa chᾳy vừa nấu cσm v.v… Ðến lễ gia quan thὶ đᾶ thᾰng hoa cὺng cực, chỉ cὸn cό những lời cha nόi với con cάch hoàn toàn an vi nhân chὐ như: “Cư thiên hᾳ chi quἀng cư. Lập thiên hᾳ chi chίnh đᾳo. Phύ quί bất nᾰng dâm. Bần tiện bất nᾰng di. Uy vō bất nᾰng khuất” Tuyệt nhiên không một lời hứa hẹn hay để lᾳi nào. Nhân chὐ đến vậy là cὺng cực. Trong nghῖa tưσng đối ta cό thể gọi đây là thời vàng son cὐa con người. Ngoài xᾶ hội không cό chế độ nô lệ, không cό vô sἀn. Trong gia đὶnh cό lể nghi trao lᾳi quyền tự chὐ cho con cάi đến tuổi trưởng thành./.


CHƯƠNG IX: NHỮNG HUYỀN SỐ CỦA THỜI LẬP ÐỨC LẬP CÔNG

33.

Những điểm trên chứng tὀ lễ điểm đᾳo đᾶ đặt chân vào ngưỡng cửa tâm linh. Xin nhắc lᾳi triết An vi chia tâm thức con người ra ba giai đoᾳn: Bάi vật, Ý hệ, Tâm linh. Từ bάi vật lên tâm linh phἀi đi qua lу́ trί, nếu không qua lу́ trί bằng học hὀi phἀn minh thὶ dễ rσi vào cἀnh trầm không u tịch. Nếu dίnh vào duy у́ thὶ ra у́ hệ mà truyện cổ Việt gọi là con ba ba vὶ ngậm hᾳt ngọc nên không tiến được. Những người theo chὐ thuyết nào mà dίnh vào đό thὶ bị chὐ thuyết bịt mắt không thấy được chi ngoài. Cὸn qua được giai đoᾳn đό thὶ lên Tâm linh. Dấu qua được là cό cσ cấu. Cσ cấu cῦng là một thứ hệ thống, nhưng hệ thống mà không hệ thống, tức vẫn để quyền tự do quyết định cho mọi người: chẳng phἀi theo chὐ thuyết hay luật phάp nào, chỉ cό dᾰm ba bộ số chi đường. Cάc số đό không chỉ số lượng, mà chỉ những chân lу́ nền tἀng. Sάch Ðᾳi đάi lễ kу́ ghi: 1 trời, 2 đất, 3 người. Theo đό thὶ trời số lẻ, đất số chẵn, người tổng hợp cἀ hai chẵn lẻ. Chẵn lẻ rất quan trọng để chỉ hai đối cực, và vẫn đi đôi để chỉ sự Thάi Hὸa lưỡng nhất riêng biệt cὐa Việt Nho. Bộ số quen được dὺng hσn là 2, 3, 5 trong đό trời 3, người 5, đất vẫn số 2. Số cό thể thay đổi nhưng chẵn lẻ thὶ y nguyên: lẻ nhὀ là trời, lẻ lớn là người. Mỗi khi gặp những tập hợp kỳ lᾳ thὶ nên tὶm у́ nghῖa chứ đừng lo đo đếm, thί dụ 18 đời Hὺng vưσng, Bàn Cổ cai trị 18 ngàn nᾰm. Chim Lᾳc Ðịch cό 8 cάnh 1 chân… thὶ phἀi tὶm ra у́ nghῖa, nhưng cῦng không nên е́p nghῖa vὶ cῦng cό trường hợp số chỉ xuất hiện như con dấu chỉ chân lу́ quan trong, hoặc như con dấu chὐ quyền.

34.

Thế là chύng ta đᾶ liếc nhὶn về thời thάi cổ tuy rất vắn tắt, nhưng tᾳm đὐ tόm thâu được nе́t cốt yếu hσn hết trong thời uyên nguyên mà sau Nho gọi là thời Ðᾳi Ðᾳo, Cάi Ðᾳi Ðᾳo ấy gọi là Ðường đi = the Way, là Ði = the Going hiểu là chỉ cό làm, làm tự động, tự cường, làm đến chỗ cὺng kỳ cực. Hầu không cό lời. Cάi cό thể gọi là kinh điển cῦng không cό lời, không cό chữ, nên gọi là “kinh vô tự” thί dụ Sάch Ước Gậy Thần chỉ cό vài biểu tượng, như hàm у́ rằng chỉ cần vài ba dấu hướng dẫn rồi tự mὶnh mὶnh làm, thành ra việc làm toàn vâng theo những chỉ dẫn cᾰn bἀn Tai họa về sau là nόi nhiều, càng ngày càng nhiều lời thêm, làm che mất Ðᾳi Ðᾳo và trở nên thường nghiệm, nghῖa là làm theo những mệnh lệnh cấp tὶnh cἀm hay lу́ trί. Ðό gọi là vong thân, cῦng gọi là vong bἀn, vong Ðᾳi Ðᾳo, không đến được chỗ chί thiện. Ðường lên đến chί thiện phἀi trἀi qua Ý, Tὶnh, Chί. Hầu hết con người khởi đầu bằng một thứ tὶnh cἀm chưa được gᾳn lọc xuyên qua lу́ trί, chưa đάng gọi là tὶnh, mới là cἀm xύc, nên đi vào nẻo Bάi Vật (sὺng mộ). Sau đό thấy bάi vật thiếu nền mới đi hẳn sang lу́ trί đến độ duy trί: kết quἀ là rσi vào thuyết nọ thuyết kia rất rậm lời, rậm у́, tệ hσn nữa là rσi vào у́ hệ làm cho mὺ quάng, chẳng cὸn thấy cάi chi ngoài у́ hệ mὶnh theo. Hiện nay nhân loᾳi đang trἀi qua giai đoᾳn khὐng hoἀng, tức là đang vỡ mộng (desillusion) để sửa soᾳn vào thời “du ư nghệ” mà triết lу́ an vi gọi là “sống như chσi”. Ðό là con đường thường tὶnh mà những dân vᾰn minh trἀi qua, và thường trὶnh bày thành bốn đợt: 1/’emotional. 2/ Metaphysique. 3/ desillusion. 4/ Esthetique. (Số 3 không cần, hoặc đᾶ cho thὶ phἀi cho một nữa sau 1/. Bἀng này về nội dung cό thể giόng bἀng cὐa An Vi (1/Bάi vật. 2/ Ý hệ. 3/ Tâm linh) miễn bὀ mục Vỡ mộng. Nên nhận xе́t rằng sở dῖ cό Bάi vật và Ý hệ là vὶ những nhu yếu không được đάp ứng. Ðâu cό Nho là không cό Bάi vật về Ý hệ vὶ mọi nhu yếu thâm sâu đᾶ được đάp ứng rồi.)

35.

Vậy khi về thᾰm quê mẹ ta không gặp thời Bάi Vật hay Ý hệ, mà gặp liền giai đoᾳn sống như chσi (esthetique). Ðύng ra thὶ cῦng cό những tάc động lẻ tẻ thuộc bάi vật hay у́ hệ nhưng không đὐ để làm nên một thời hay môi sinh. Ở đây là môi sinh an vi thanh thoάt như được minh họa cάch rực rỡ trong trống Ðông Sσn: nσi cό cuộc sống tung tᾰng như cά nước, và nhởn nhσ như chim trời, phἀn chiếu đύng cάi vῦ trụ quan không cό trời đάnh, thάnh vật, mà chỉ cό “Hόa nhi đa hί lộng” (Manitu cὐa dân da đὀ, Leela bên Ấn đều cὺng một gốc). Ðến lύc soάt lᾳi con đường đᾶ đi thὶ quἀ là đύng Ðᾳo gồm đὐ cἀ ba yếu tố là: Ý, Tὶnh, Chί.

A] Ý: Ý thuộc Trί đi đầu, theo đύng thứ tự “trί, nhân, dῦng”: Trί đầu tiên. Vὶ khởi bằng Trί nên trάnh được Bάi vật. Chứng cớ là không cό thần thoᾳi, chỉ cό nhân thoᾳi, và trong toàn khối hầu không cό thần quyền chuyên chế.

B] Tὶnh: Thi thật là chί tὶnh. Cὸn gὶ thâm thiết và mênh mông cho bằng tὶnh mẹ. Thật là bao là như biển Thάi Bὶnh Dưσng, và trong thực tế cἀ Thάi Bὶnh Dưσng bάt ngάt đều là vưσng quốc cὐa Mẹ, nên hết mọi con đều được hᾳnh phύc sống dưới bόng Mẹ hiền: không một ai phἀi vô sἀn, hay phἀi nô lệ.

C] Chί: Chί đây là chί Nhân, chί tάc, chί hάnh cὐa một nền nhân chὐ oai nghi vô cὺng đưσc biểu lộ cάch huy hoàng không thể hσn được : “Hỗn mang chi sσ Vị phân thiên địa”. Bàn cổ thὐ xuất Thὐy phάn Âm dưσng.” Thật là nhân chὐ cὺng cực: tự cường, tự lực đến trời đất cῦng không kể tới. Thật không thể mở đầu nguồn gốc một nền Minh Triết hay hσn./.

Trên đây là thời thάi sσ Ðᾳi Ðᾳo. Hai chưσng III và IV sẽ cho thấy từ Ðᾳi Ðᾳo trụt xuống nhân nghῖa như thế nào. Chưσng III do duy lу́, chượng IV do phἀn động lᾳi lу́ trί..Chưσng V cố nόi đᾳo xưa bằng đường у́, tὶnh, chί.


CHƯƠNG X: TRỞ VỀ TÔ THẮM QUÊ MẸ

Cuộc du nhập từ phίa tây nam

1.

Tây Nam đây là Ấn độ đối với tây bẳc là Âu châu. Ðό là hai nền vᾰn minh đối lập như một không một cό kẹp lấy Ðông Á ở giữa gồm cἀ cό lẫn không. Bài III đᾶ nόi về cuộc xâm nhập cὐa vᾰn minh du nhập cὐa cực vô từ Tây Bắc mang số 4-1. Chưσng này sẽ nόi về cuộc du nhập cὐa cực vô từ Tây Nam, mang số 1-4 với đᾳi diện là Phật Giάo. Phật Giάo là một thực thể rất phiền toάi vὶ vừa là một nền triết vừa là một tông giάo và tuy phάt xuất từ Ấn Ðộ nhưng hồn lᾳi từ Ðông Á, lᾳi du nhập vào nhiều nσi như Tàu, miền Ðông Nam (cάc nước tiểu thừa) và Việt Nam. Chίnh sự du nhập ở nhiều nσi này giύp tὶm ra những nе́t then chốt trong Phật Giάo, giύp cho thấy mối liên hệ giữa Phật Giάo và Việt Nam cό tίnh cάch họ mάu hàng dọc, được chứng tὀ bằng những lâu đài vᾰn hόa cao cἀ không đâu cό được như vậy. Xứng đάng là mô thức cho cάc cuộc giao thoa vᾰn hόa khάc. Ta sẽ lần lượt xе́t sσ qua.

2.

Ấn là xứ tᾳp chὐng gồm hai thứ dân chίnh là Dravidien và Aryan Dravidien là dân bἀn thổ cư ngụ trên đất Ấn đᾶ từ rất lâu trước, với nền vᾰn hόa nhân chὐ cὐa cάc dân cổ sσ Thάi Bὶnh Dưσng.

Rồi tới vài ba ngàn nᾰm trước Tây lịch thὶ cό dân Aryan từ phίa Tây Bắc xâm nhập. Họ thờ thứ thôn giάo bάi vật hoàn toàn vụ ở nghi lễ, không cό chύt chi kiểu thiền: hoàn toàn hữu vi thσ ba thần khί tượng là lửa, sấm, đất (Agni, Indra, Surya) với tίnh bốc đồng hay thay đổi, y như cάc thần khί tượng đầy όc chuyên chế, du mục. Chίnh όc du mục này đᾶ hướng dẫn nền thống trị cὐa Aryan trên đất Ấn bằng đặt ra đẳng cấp, tiêu diệt tinh thần nhân chὐ cὐa dân bἀn thổ bằng kết tinh trong nhân thoᾳi Manusya và đᾶ giύp cho Veda vưσn lên đợt cao hσn thành Ấn Giάo với ba thần mới cό tίnh cάch vῦ trụ đό là Brahma, Vichnou và Shiva. Tuy nhiên chưa được cao tột cὺng, nên cὸn cần một cuộc cάch mᾳng mới là Upanisad.

3.

Upanisad được dịch là “Áo nghῖa thư” hay là “sάch rừng” vὶ chống nghi lễ tôn giάo Balamon, nên thầy trὸ phἀi nόi nhὀ vào tai nhau, hoặc đưa ra nσi vắng vẻ (trên rừng, thί dụ) để trάnh sự dὸm ngό cὐa thần quyền từ nay gọi là Balamon. Upanisad đᾶ vưσn lên tinh thần nhân chὐ trong câu kết tinh “Tat van asi = cάi đό chίnh là mày, chίnh mày là cάi đό”. Âu này giống như câu trong nho “thiên lу́ tᾳi nhân tâm”. Nhưng bên Nho không cό tίnh chất cάch mᾳng vί đây là miền cὐa nhân chὐ: ai cῦng cό thể cἀm nghῖ như vậy rồi. Người nόi lên được câu đό chẳng qua là cό у́ thức sâu sắc hσn, nên gọi tên sự thể ra được vậy thế thôi, không cό nguy hiểm gὶ hết, vὶ không cό thần quyền không cό hàng tᾰng lữ. Cὸn Ấn Ðộ thὶ không những cό hàng tᾰng lữ mà cὸn nắm cἀ quyền cai trị, nên cῦng là một thứ vua thần, nhưng tὀa ra trong một đẳng cấp, nên nguy hiểm hσn cho cάch mᾳng. Vὶ thế mà thầy trὸ phἀi rỉ tai nhau, nόi kiểu bί mật gọi là “Áo nghῖa thư”, hay đưa nhau lên rừng gọi là “lâm thư”. Ðây là những kiểu đάnh du kίch ẩn ẩn nấp nấp, nên đᾶ tάc động mᾳnh làm cho Veda phἀi biến đổi dần để trở thành tôn giάo Balamon thay cho Veda. Chίnh nhờ vào sự va chᾳm với vᾰn hόa Dravidien mà tôn giάo Veda bὀ được bộ mặt thô đᾳi cὐa đựt thần khί tượng để vưσn lên đựt phổ biến. Nhưng đây là thứ phổ biến một chiều duy tâm, nên không gây σn ίch cho xᾶ hội tức không phά nổi đẳng cấp, thành ra cῦng không cό dân chὐ và đẳng cấp, cứ tha hồ đâm rễ sâu hσn đâu hết.

4.

Do đấy cần cό đợt cάch mᾳng thứ hai cὐa Upanisad mà đỉnh cao chόt vόt là Ðức Thίch Ca với câu nόi đầy tự lực tự cường “Cάc bᾳn hᾶy tự thắp đuốc lên mà đi” câu này tưσng đưσng với câu “tᾳi mὶnh minh đức” trong Ðᾳi học. Cό thể đây là tiếng trἀ lời cho câu hὀi do Upanisad đặt ra. Upanisad biết được chίnh con người là “cάi ấy”. Chίnh mὶnh mang cάi đức sάng ấy (minh đức), cάi άnh linh quang cὐa trời ngay trong mὶnh. Vậy thὶ phἀi làm gὶ bây giờ đây? Thưa “hᾶy tự thắp đuốc mὶnh lên mà đi” hiểu là sự cứu rỗi không ở trong việc tế thần lửa, không trong nghi lễ rườm rà tốn kе́m, mà chίnh ngay trong việc tự mὶnh làm lấy, ai cῦng làm được: ai cῦng cό Phật tίnh trong mὶnh, chỉ cần nhận thức ra là được. Thế là nhất định nhận thức, nhất định thắp đuốc, nhưng thắp bằng cάch nào? Thưa vào tᾰng hội đang được hὶnh thành chung quanh Phật tổ, nếu cό phἀi bên Ðông Á thὶ thưa tᾳi “tu, tề, trị, bὶnh”. Nhưng bên Ấn không cό thứ môi sinh nhập cuộc đό mà chỉ cό thứ môi sinh xuất thế do Phật tổ lập ra đό là tᾰng hội một trong tam qui: “Quy y Phật. Quy y Phάp. Quy y tᾰng.” Ðây là đợt phάt triển đầu tiên gọi là tiểu thừa được khai mᾳc trong bài giἀng chuyển phάt luận.

5.

Ðợt sau gọi là đᾳi thừa cho rằng tiểu thừa mới “độc thiên kỳ thân” cὸn cό thể tiến xa hσn được, đό là đợt “tự giάc nhi giάc tha” với hᾳnh Bồ Tάt là hoᾶn vào Niết Bàn, để cứu độ hết thἀy chύng sinh trước đᾶ. Ðό là quan niệm cὐa đᾳi thừa. Ðᾳi thὶ to hσn tiểu rồi chứ gὶ, nhưng lᾳi không được coi là cao hσn do tinh thần tiểu thừa cὸn đứng vững. Tinh thần này lấy việc thoάt khὀi bάnh xe luân hồi làm cứu cάnh, nên không coi trọng bất cứ việc nào, vὶ hễ cὸn cό việc thὶ cὸn sinh quἀ, mà đᾶ cό quἀ thὶ lᾳi phἀi trἀ quἀ gọi là trἀ nghiệp: không vào được Niết Bàn. Cό phἀi vὶ thyết đό hay là hoàn cἀnh không cho phе́p mà Phật không lên άn chế độ nô lệ đᾶ được Balamon đặt vào cσ cấu tinh thần tức phἀi sinh ra tự thân thể Brahma mới được kể là người tự do. Theo ông W. Durant (Civ I. 396) Phật làm σn cho Balamon trong đό nên tuy Phật giάo là một cuộc cάch mᾳng, mà không làm lung lay nền tἀng đẳng cấp do Balamon thiết lập. Về sau Balamon xuyên qua triết gia Shankara cὸn bὸn rύt hết tinh hoa Phật vào làm phong phύ cho đᾳo mὶnh. Cό lẽ lу́ do sau này đύng tức Phật thấy không làm chi được Balamon nên không đụng đến cσ cấu triết lу́ để đổi đời, mà đi liền vào tu trὶ, đi vào tâm lу́; cὸn về cσ cấu triết vẫn hầu như nhận hệ thống tứ tố cὐa Samkya, mà đᾶ không đổi cσ cấu thὶ xᾶ hội vẫn nằm trong tὶnh trᾳng cῦ mặc dầu tinh thần đᾶ đổi, nhưng không tάc động được vào thể chế, nên kể là duy tâm và vẫn không phά được sự chia đôi hai bờ. Lẽ này cό thể đύng hσn vὶ về sau ta thấy Balamon đᾶ tống khứ Phật Giάo ra khὀi Ấn Ðộ (bằng cάch cấm mọi nghề, chỉ cho làm giầy dе́p, nhưng giầy dе́p phἀi cό da, muốn cό da phἀi sάt sinh… Phật giάo làm sao nổi) và Balamon vẫn nắm độc quyền vᾰn hόa cὐa kẻ thống trị tuyệt cὺng. Tiếng Sanskrit đẹp thực, nhưng cῦng là một quάi tượng vὶ cό những động từ lê thê, 34 mẫu tự dân chύng không thể hiểu. Cὸn di hᾳi sâu xa ở chỗ rύt tinh hoa Phật vào làm giầu cho Balamon khiến không ai thấy cần theo Phật vὶ những giά trị cὐa Phật đᾶ “cό” trong Balamon rồi, không ai cό thể dựa vào Phật mà công kίch Balamon nữa. Dân làm sao hiểu được chỗ lắt lе́o đό.

6.

Phật Giάo là đᾳo từ bi cao độ, đầy ắp nguyên lу́ Mẹ, lẽ ra không cό sự kỳ thị phụ nữ. Vậy mà sao lᾳi cό, thὶ đό là điều ta cần phἀi tὶm biết mới hiểu được tầm mức cάch mᾳng trong vụ Phật Mẫu bên Việt Nam. Vậy ban đầu Phật giάo không nhận đàn bà vào hàng tᾰng lữ là vὶ bầu khί cὐa Balamon kỳ thị đàn bà như lối du mục duy dưσng. Sinh con trai thὶ nào kẹo, bάnh, nào nến hoa chᾰng kѐn thổi; cὸn sinh con gάi thὶ chẳng cό một tί gὶ, ông bố ngồi dài mặt ra thuồn thuột. Không buồn sao được vὶ sau này đi lấy chồng thὶ bị kể như “tài sἀn” cὐa chồng, nhỡ chồng chết trước thὶ phἀi lên giàn hὀa (sutee) theo chồng. Chίnh vὶ όc kỳ thị phụ nữ nặng nề như thế mà ban đầu Phật không nhận đàn bà vào tu. Sau nể bà mẹ nuôi lắm đành phἀi nhận vào thὶ tiên tri là Phật giάo sẽ chỉ chinh truyền được cό 500 nᾰm thay vὶ 2500 nᾰm. Và quἀ thật sau 500 nᾰm thὶ Phật giάo bị Balamon tống xuất ra khὀi Ấn. Lύc trước họ sợ nhất là uy tίn Phật tổ quά ư lớn lao, nên không dάm động đến. Lâu ngày thὶ uy tίn kia lu mờ thế là họ đuổi, và đuổi cάch tàn nhẫn kể cἀ đốt sống, và do đό mà Phật Giάo tὀa lên Tây Tᾳng, sang Ðông Á tận Nhật Bἀn cῦng như tύa thêm xuống vὺng Ðông Nam Á.

7.

Phίa Ðông Nam như Miên, Thάi, Mên, Lào v..v.. là một bἀn địa không thuận lợi lắm cho Phật vὶ chưa nhận được nho đᾶ công thức, lᾳi cὸn bị Balamon nên chỉ tiếp nhận được cό tiểu thừa, lᾳi cὸn bị dưới nữa thức chỉ cό cάi tên là Phật thôi, chứ nội dung là Balamon: rō nhất nσi chὺa thάp (Angkorvat) mà tiền nhân ta quen gọi rất trύng là “Ðế Thiên Ðế Thίch”. Ðế Thiên tức là vua thần phάt xuất từ bên Iran (Perse). Thần là thiên, cὸn đế là vua gọi là vua vῦ trụ (chakravatin). Vua thần đi với những đền điện khổng lồ. Trên thế giới thὶ đền Angkor khổng lồ hσn hết.

  • Thứ đế l vẫn du mục cὺng cực: không cό một tượng nữ nào. Lệ thiêu sống bà gάo (Sutee) vẫn thi hành dài dài.
  • Thứ ba hướng về cōi chết. Angkorvat chίnh là mồ tάng xάc vua thần cὐa Ðế Thiên. Cὸn Ðế Thίch bị đày xuống hàng thứ, đᾶ vậy cὸn khάc cho cάi tên chẳng Phật tί nào cἀ đό là Ðế Thίch. Ðức Thίch Ca đᾶ từ bὀ ngai vàng rồi cὸn gάn chức đế cho Ngài làm chi: đό chỉ là để làm bung xung che đậy chất du mục cὐa Ðế Thiên nên dân vẫn là nô lệ gần như bên Ấn Ðộ. Vὶ những lẽ đό nên miền này chỉ tiếp nhận được cό tiểu thừa tức là giai đoᾳn đầu, thiếu hẳn những mở mang sau này cὐa Ðᾳi Thừa như Bάt Nhᾶ. Duy Thức rời Mật giάo. Trάi lᾳi vẫn tiếp nối tίnh chất khổng lồ cὐa du mục như thάp chὺa Angkorvat và Borobodour bên Ấn Nê. Dân nước vẫn bị giam cầm trong đόi tύng, chỉ hσn Ấn Ðộ được cό chύt đỉnh.

8.

Khi tryền vào Tàu thὶ khά hσn nhiều, cό cἀ tiểu thừa lẫn đᾳi thừa, và đᾳi thừa đi qua cἀ ba chặng Bάt Nhᾶ, Duy Thức và Mật tông. Lᾳi đᾶ đẩy Thiền đến trὶnh độ cao đẹp nhất như chứng tὀ trong bài ca lừng danh “Tίn tâm minh” cὐa Tᾰng Sάn tố thứ ba sau Ðᾳt Ma. Chίnh người Ấn Ðộ phἀi công nhận bài “Tίn tâm minh” vượt xa Upanisad Isa mà Isa được kể là hay nhất trong số 108 Upanisad. Rồi cό Quan Âm và Ðức Di Lᾳc với những lâu đài vᾰn hόa cao đẹp như Thiên Thai tông hay Thiền tông cὐa tổ Huệ Nᾰng v..v.. đὐ làm nên nền giάo Phật cὐa Tàu mà không chỉ là Phật bên Tàu như ban đầu khi mới dịch từ Ấn Ðộ sang chưa kịp tiêu hόa. Tuy nhiên cῦng chưa là lу́ tưởng vὶ cὸn gặp Khổng Giάo và Lᾶo Giάo. Lᾶo giάo ban đầu giύp Phật giάo rất nhiều danh từ trong việc dịch kinh sάch, nhưng sau đᾶ trở nên một tay cᾳnh tranh lợi hᾳi gây ra hầu hết những cuộc phάp nᾳn sau này. Lᾳi cὸn những đὸn chống bάng kết thành thuyết “Hόa Hồ” cho rằng về gia Lᾶo đᾶ sang truyền giάo bên Hồ (tức Ấn Ðộ) và trong số môn đệ thὶ cό Thίch Ca. Ðàng khάc mấy lâu đài vᾰn hόa như Thiên Thai, Quan Âm, Di Lặc đều phάt xuất từ địa bàn tổ Việt, và đᾶ được tiên tri ở trang huyền sử Man Nưσng Phật Mẫu cὐa Việt rồi. Trong thực tế thὶ Phật giάo được truyền vào Việt Nam trước bên Tàu, và được chấp nhận liền ở đợt cao nhất cὐa Ðᾳi Thừa là cἀ Bάt Nhᾶ lẫn Mật Tông tức là đợt siêu việt hợp với tên Việt và nhất là đᾶ không hề cό chống đối mà cὸn đưa Phật giάo vào đời: hὸa mὶnh vào với việc xᾶ hội làm cho Phật giάo nἀy nở được hết khἀ nᾰng tiềm ẩn chưa được phάt triển ở cάc nσi khάc, thὶ đến Việt Nam đᾶ được phάt triển đến độ đᾶ kết tinh thành trang huyền sử thâm sâu “Man Nưσng Phật Mẫu” hàm у́ rằng chỉ khi đến Việt Nam thὶ Phật giάo mới thực sự được sinh ra, tức được gặp môi trường thuận lợi nhất để nἀy sinh những vῖ nhân cân đối siêu tuyệt như Trύc Lâm chίnh là vua Trần Nhân Tôn đᾶ hai lần thắng quân Mông Cổ một đᾳo quân đᾶ thắng trận cὺng khắp nσi từ Âu sang Á mà khi xuống đến Việt Nam phἀi chịu thua. Chỉ vὶ xἀy ra trong Việt Nam là một tiểu nhược quốc, nên người ta không chύ у́ đến sự vụ sάch cân xứng, chứ thực sự đό là một kỳ công. Và kỳ công đό đᾶ cό là nhờ sự gặp gỡ giữa hai nền vᾰn hόa Ðông Tây: Ấn-Việt. Cuộc gặp gỡ đό được huyền sử gọi là biến Phật kim ra Phật mộc (xem Kinh Hὺng khἀi triết hài Vang Vọng nước Vᾰn Lang).

9.

Muốn hiểu chỗ sâu xa cὐa câu trên ta phἀi nᾳi đến cσ cấu “ngῦ hành” mới thấy được ngῦ hành là con số 5, mà số 5 thὶ cό đầy trong cάc dân và được quί trọng lắm vὶ nό biểu thị phе́p hôn phối, nhưng lύc xе́t thấu đάo mới thấy không phἀi như thế, vὶ sự thực nό chỉ là tứ tố. Ðợi khi cό thêm khί thứ 5 như Sankhya bên Ấn Ðộ hay Aristotle bên Hi Lᾳp thὶ là khί Ether, tuy cό tinh tế hσn nhưng vẫn cὺng trên bὶnh diện khί, như vậy hôn phối cάi nỗi gὶ: đύng là đồng tὶnh luyến άi. Vὶ hầu hết cὺng từ số 4 duy địa. Phἀi trở về Thάi Bὶnh Dưσng mới cό phối hợp thực sự, và không cὸn là hôn phối mà là linh phối vὶ 5 là phối hợp giữa 2 với 3. Và 1 nằm ngầm trong 3 hay 5 chỉ thị số không không tức là rất khάc biệt với cό chỉ bằng số 2 hay 4. Và vὶ cό với không giao thoa nên ta mới cό ngῦ hành chίnh tông, nό sẽ bao gồm cἀ mὺa, cἀ phưσng, cἀ âm thanh, mὺi, vị, đầy đὐ như trong bἀn Nguyệt lệnh. Cό thấy những điề u đό mới hiểu được tᾳi sao nόi Ngῦ hành là một lâu đài vᾰn hόa cao cἀ cό thể dὺng làm thước đo cuộc tiến hόa nhân loᾳi, và dὺng được làm lược đồ cho phưσng ngôn “Chί trung hὸa”. Vậy mà Veda theo tứ tố./.


KẾT: HỘI CÁC MẸ CỦA ÐẠO THẤT

Vᾰn minh nay quά nghiêng về lу́ trί với nguyên lу́ thống trị, đưa đến những cuộc đấu tranh đẫm mάu giữa những xᾶ hội xâu xе́ tranh giành, nên đang bị khὐng hoἀng trầm trọng. Cần tὶm ra nền vᾰn minh nào khάc đặt cσ sở trên tὶnh người, trên yêu thưσng với nguyên lу́ thân tộc.

Thiết nghῖ gốc rễ nền vᾰn minh ấy cό thể tὶm được trong vᾰn hόa Thάi Bὶnh dưσng, nσi cὸn giữ được nhiều ấn tίch Mẹ hσn cἀ (sẽ được trὶnh bày trong quyển Thάi Bὶnh Minh triết, một thứ triết thiết thực được diễn bằng châm ngôn, huyền thoᾳi, đồ άn, số độ, và đối chiếu kiểu cσ cấu luận với uyên tâm, và sẽ được đưa ra sống thư trong cάc Ðᾳo Thất. Hậu quἀ sẽ là những công thể cό bầu khί gia tộc, hay là tὶnh huynh đệ phổ biến nhưng không chỉ mộng tưởng mà được thực thi. Phưσng thức cό thể là hệ thống Ðᾳo Thất. Ðό sẽ là những nhà cὐa cάc Mẹ xây nên cho cάc con Mẹ ở đặng mà học nên người cὐa vᾰn minh mới làm bằng yêu thưσng chân thật. Ðύng ra phἀi nόi cha mẹ, nhưng xin được chỉ chung bằng Mẹ cho hợp kiểu nόi cὐa Thάi Bὶnh Minh Triết, nσi cῦng cό xἀy ra nᾳn quά lу́ trί, rồi Mẹ Nữ Oa phἀi đội đά sửa lᾳi. Vὶ câu truyện tόm tắt tinh hoa vᾰn hόa Thάi Bὶnh dưσng, cῦng như gợi у́ cho việc đi tὶm cha mẹ đỡ đầu cho dự άn Ðᾳo Thất, nên được kể lᾳi trong một chưσng cὐa quyển Thάi Bὶnh Minh Triết nhan đề để con cό mẹ, để mẹ cό con. Ðể dễ hiểu у́ cὐa huyền thoᾳi Nữ Oa xin ghi nhận ίt điểm sau:

Vᾰn hόa quά lу́ trί chỉ bằng:

A/ số 1, hὶnh trὸn, phίa Bắc. Cό thể gọi là duy thiên, cột chống trời, hay nύi không trὸn chỉ cάi biết một chiều duy tâm, duy trί hay duy lу́.

B/ Số 4, hὶnh vuông, phίa Tây, Cό thể gọi là nύi không trὸn chỉ cάi biết một chiều duy địa, hay duy vật, cῦng là duy у́, duy niệm, như у́ hệ.

C/ Luyện đά Ngῦ Hành là hὸa hợp số 2 đất với số 3 trời thành 5. Hὶnh “mẹ trὸn con vuông” chỉ vᾰn minh quân bὶnh gồm cἀ tinh thần lẫn vật chất.

Tinh thần phἀi trên vật chất nόi bόng là mẹ. Vật chất chỉ là con. Ðά Ngῦ Hành cῦng gọi là cάi biết Chu Tri (holistic knowledge) sẽ chỉ huy nền giάo dục thi thố trong Ðᾳo thất gồm cἀ Ý, Tὶnh, Chί.

  • Ngῦ Hành được cσ cấu hόa như sau: (hὶnh ngῦ hành)
  • Thần Cộng công xύc Bất Chu Chi Sσn=chỉ nᾳn nhân cὐa nền giάo dục một chiều, chỉ biết chύi đầu vào To Have, mà phế bὀ To Be, họac nόi bόng bἀy như ngᾳn ngữ Phάp là “ông Công bόp cổ bà Thông”= Mr.Le Fѐbre е́touffe Madame Le Sage”
  • “Ðội đά vά trời” chỉ lὸng quἀng đᾳi bao là dάm nhận lấy trάch nhiệm nâng đỡ việc vά lᾳi trời cῦ quά dột chἀy xuống toàn mάu và nước mắt.
  • Nữ Oa thάi mẫu= thάi cό nghῖa như Thάi Bὶnh= mênh mông cao cἀ, nên Thάi Mẫu chỉ những Big, very Big Mothers or Supreme Mothers.
  • Let us pray: Hail Mary, you know well that we are shipwrecked and helpless, give us many big angels to be our Big Mothers like You. Amen.

Triết gia Lương Kim Định.

Thái Bình Minh Triết.