Đọc khoἀng: 22 phύt

Không phἀi mất thὶ giờ định nghῖa ngoᾳi ngữ là gὶ? Vὶ không ai cό học hết bậc Tiểu Học mà không hiểu hai chữ ấy. Việt Nam từng là cựu thuộc địa cὐa Trung Hoa và Phάp. Nᾰm 1954 Việt Nam bị qua phân. Vὺng lᾶnh thổ phίa Bắc vῖ tuyến 17 chịu ἀnh hưởng cὐa Trung Quốc và Liên Sô. Vὺng lᾶnh thổ phίa Nam vῖ tuyến 17 chịu ἀnh hưởng cὐa Phάp và Hoa Kỳ.

Lần lượt chύng tôi trὶnh bày về cάc ngoᾳi ngữ cό ἀnh hưởng đến Việt Nam để xem Việt Nam nên chọn ngoᾳi ngữ nào để học khἀ dῖ giύp cho Việt Nam tiến bộ đồng đều trên mọi lᾶnh vực để gόp mặt cῦng nᾰm châu thế giới.

Hoa Ngữ

Trong quά khứ Việt Nam cό tiếng nόi nhưng không cό chữ viết. Sau hàng ngàn nᾰm dưới sự đô hộ cὐa Trung Hoa một thiểu số rất nhὀ người Việt Nam học chữ Hάn. Người Việt Nam học chữ Hάn nhưng đọc theo tiếng nόi cὐa mὶnh. Điều này không cό chi lᾳ cἀ. Trung Hoa cό trên 500 thổ âm mặc dὺ chỉ cό một chữ viết. Cὺng một chữ người Guangdong (Quἀng Đông) phάt âm khάc với người Hoa Bắc. Từ khi độc lập đến thế kỷ XIX chữ Hάn được dὺng để viết vᾰn thư trong triều đὶnh. Chữ Hάn được dὺng trong cάc cuộc thi cử qui mô để lấy Cử Nhân, Tiến Sῖ được tổ chức từ thời nhà Lу́. Tổ chức triều chίnh, hành chάnh, thi cử dưới chế độ quân chὐ Việt Nam đều phὀng theo tổ chức chάnh trị, hành chάnh và học chế cὐa Trung Hoa. Chữ Hάn, Bắc sử, tư tưởng Khổng Mᾳnh đόng vai chὐ yếu. Điều đάng ghi nhớ là đến thế kỷ XIX trong Lục Bộ không cό bộ Giάo Dục. Trường học công lập vắng bόng ở cάc địa phưσng trước khi người Phάp đến.

Phάp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ nᾰm 1862 và ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ nᾰm 1867. Cάc kỳ thi Hưσng bᾶi bὀ ở Nam Kỳ, vὺng đất thuộc địa cὐa Phάp. Tiếng Phάp và chữ Quốc Ngữ được giἀng dᾳy.

Chữ Quốc Ngữ do giάo sῖ Alexandre de Rhodes phάt minh để tiện cho việc giἀng đᾳo Thiên Chύa ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài vào thế kỷ XVII. Chữ Quốc Ngữ dὺng cάc mẫu tự La Tinh nhưng không cό chữ F, J, W, Z bὺ lᾳi cό chữ D và D cό gᾳch ngang và dồi dào dấu sắc, huyền, hὀi, ngᾶ, nặng, dấu mῦ, dấu khᾰn, dấu mόc trên cάc chữ A,E,O,U v.v. Vào hậu bάn thế kỷ XIX nhiều người miền Nam giàu cό từ chối không cho con đi học chữ Quốc Ngữ và tiếng Phάp. Để trάnh sự nghi ngờ cὐa chάnh quyền thuộc địa họ thuê trẻ em nghѐo đi học thay thế con em cὐa họ. Họ thuê thầy về nhà dᾳy chữ Hάn cho con. Chữ Hάn là chữ Thάnh Hiền nên được trân quί và gọi là chữ Nam nghῖa là chữ cὐa nước Nam ta.

Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bἀo hộ cὐa Phάp. Vua Việt Nam vẫn cὸn trên hai vὺng đất mà người Phάp gọi là Tonkin và Annam. Cάc kỳ thi tam trường dưới triều Nguyễn vẫn cὸn mặc dὺ tiếng Phάp và chữ Quốc Ngữ đᾶ được người Phάp phổ biến. Kỳ thi Hάn học bị bᾶi bὀ ở Bắc Kỳ nᾰm 1915 và ở Trung Kỳ nᾰm 1918.

Nam Kỳ là thuộc địa Phάp. Tiếng Phάp và Quốc Ngữ được phổ biến. Dὺ vậy chάnh quyến thuộc địa vẫn duy trὶ giờ chữ Hάn (caracters chinois) trong trường học. Chữ Hάn không phάt triển được vὶ:

– chάnh quyền thuộc địa Phάp không muốn chữ Hάn phάt triển như là sự gợi lᾳi ἀnh hưởng cὐa Trung Hoa.

– thiếu thầy dᾳy chữ Hάn.

– về phίa học sinh Việt họ thấy học tiếng Phάp, Quốc Ngữ vừa dễ vừa thực dụng hσn học chữ Hάn.

Ở Huế vua Đồng Khάnh bắt đầu học tiếng Phάp. Cάc ông Phᾳm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Vᾰn Vῖnh cό vai trὸ quan trọng trong vᾰn giới vὶ biết chữ Hάn, Phάp ngữ và Quốc Ngữ. Chữ Hάn cὸn rσi rớt trên trang tựa cὐa cάc tờ bάo Quốc Ngữ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX như Gia Định Bάo, Nông Cổ Mίn Đàm, Phan An Bάo (Phan An: Phiên An: Gia Định), Lục Tỉnh Tân Vᾰn, Đông Dưσng Tᾳp Chί v.v. Cάc sư tᾰng Phật Giάo Việt Nam học chữ Hάn để đọc kinh Phật. Cάc nhà nho học chữ Hάn như nhà cάch mᾳng Phan Bội Châu khi gặp nhà cάch mᾳng Trung Hoa là Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên) chỉ bύt đàm mà thôi.

Nᾰm 1945 Hάn- Việt nở rộ một thời với những từ mang màu sắc chάnh trị như cάch mᾳng, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, cứu quốc, άi quốc, đồng chί, phἀn đế’, thực dân, đế quốc, bὶnh sἀn v.v. Nhưng sau 1954 sự nôm na hόa tiếng Việt nở rộ ở miền Bắc. Dấu hiệu bὶnh dân và thân dân cὐa chế độ chuyên chίnh vô sἀn? Phἀn ứng ngấm ngầm khάng Trung Quốc cὐa nhόm Cộng Sἀn thân Liên Sô? Tᾳo sự cάch biệt ngôn ngữ giữa hai miền Nam, Bắc? Từ sự nôm na hoά Việt ngữ ta cό sự khάc biệt giữa cάch dὺng từ ngữ giữa VNDCCH (Bắc) và VNCH (Nam):

pdlan

Hiện nay Trung Quốc cό ἀnh hưởng tuyệt đối ở Cộng Hoà Xᾶ Hội Chὐ Nghῖa Việt Nam. Hoa ngữ dự trὺ được dᾳy từ bậc Tiểu Học như trước kia học sinh Tiểu Học Việt Nam học Phάp ngữ từ lớp Dự Bị tức Lớp II.

Khάc với nhiều thế kỷ trước cάc nhà nho Việt Nam học chữ Hάn nhưng đọc theo tiếng Việt như Gia: Nhà; Quốc: Nước; Tiền: Trước; Hậu: Sau chẳng hᾳn. Trong hiện tὶnh chάnh trị ở Việt Nam, Hoa ngữ sẽ được dᾳy bằng Quan thoᾳi bởi cάc thầy người Việt gốc Hoa hay cάc thầy từ lục địa Trung Hoa đến. Việc gὶ sẽ xἀy ra khi cό 300 triệu người từ lục địa đến cưới vợ Việt Nam và thế hệ trẻ Việt Nam học viết và nόi Quan thoᾳi?

Cό người mᾳnh dᾳn đὸi bὀ Hάn- Việt trong Việt ngữ. Đây là một у́ kiến cực đoan cần phἀi trάnh. Ngôn ngữ nào cῦng cό sự vay mượn lẫn nhau. Sự vay mượn đό không phἀi trἀ tiền, không vi phᾳm phάp luật, không chịu một phân lời nào cἀ. Cάc ngôn ngữ Âu Châu đều cό gốc La Tinh do ἀnh hưởng cὐa đế quốc La Mᾶ trong quά khứ. Cάc từ ngữ y khoa, dược khoa, thực vật học, động vật học đều cό gốc La Tinh và Hy Lᾳp. Nếu bὀ Hάn- Việt khi nόi đến những danh từ kе́p như độc lập, chάnh trị, Quốc hội, Hiến phάp, bάc sῖ, kinh tế, thư viện … phἀi dὺng từ gὶ để thay thế? Trong tiếng Anh cὐa Hoa Kỳ cό nhiều từ vay mượn từ cάc nước khάc. Điều đό không thể cho là họ vọng ngoᾳi hay nghѐo nàn từ ngữ được.

Phάp Ngữ & Quốc Ngữ

Phάp ngữ và Quốc Ngữ được giἀng dᾳy song song ở Nam Kỳ. Những người thông thᾳo Phάp ngữ và Quốc Ngữ đầu tiên là những tίn đồ Thiên Chύa Giάo tiêu biểu là cάc ông Pе́trus Trưσng Vῖnh Kу́ và Paulus Huỳnh Tịnh Cὐa. Pе́trus Trưσng Vῖnh Kу́ là giἀng viên người Việt đầu tiên trong Trường Thông Ngôn (École des Interprѐtes). Lê Phάt Đᾳt tức Huyện Sῖ, ông ngoᾳi cὐa bà Nam Phưσng Hoàng Hậu, tốt nghiệp Trường Thông Ngôn, biết Phάp ngữ và Quốc Ngữ nên được gọi là Học Sῖ. Sῖ trong Huyện Sῖ không phἀi là tên cὐa ông mà là chữ rύt ngắn cὐa danh hiệu Học Sῖ. Cὸn Huyện chỉ là chức Huyện hàm mà thôi (Huyện honoraire). Ông Diệp Vᾰn Cưσng là người giὀi Phάp ngữ sau Pе́trus Kу́. Ông dᾳy trường Chasseloup Laubat. Vợ ông là một Công Chύa. Một thời ông nổi tiếng tᾳi triều đὶnh Huế. Ông là người ὐng hộ Bửu Lân, chάu vợ cὐa ông, lên ngôi nᾰm 1889 sau khi vua Đồng Khάnh bᾰng hà. Đό là vua Thành Thάi.

Việt Nam tὶm phύc trong họa mà không hay.

Họa là sự xâm lᾰng và đô hộ cὐa người Phάp.

Phύc là chữ Quốc Ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh nên tiện lợi và dễ học. Chύng tôi không biết phἀi học bao lâu để viết và đọc được chữ Hάn. Chύng tôi biết một người cό chỉ số thông minh trung bὶnh chỉ mất 06 thάng thὶ cό thể đọc và viết chữ Quốc Ngữ. Cάi phύc khάc là chữ Quốc Ngữ La Tinh hoά giύp Việt Nam thoάt khὀi ἀnh hưởng cὐa chữ Hάn về hὶnh thức.

Thổ Nhῖ Kỳ và Indonesia hσn hẳn Việt Nam về nhiều mặt trong quά khứ về diện tίch, dân số, trὶnh độ vᾰn hόa, khoa học, kў thuật nhưng họ đᾶ mᾳnh dᾳn La Tinh hόa chữ viết cὐa họ. Làm như vậy vὶ tiện lợi chớ cό phἀi vὶ Indonesia yêu Hὸa Lan đᾶ đô hộ nước họ hay Thổ Nhῖ Kỳ yêu và thάn phục cάc nước Âu Châu? Indonesia là quốc gia rộng lớn nhất ở Đông Nam Á và cό dân số theo Hồi Giάo cao nhất thế giới. Thổ Nhῖ Kỳ là đế quốc Ottoman Hồi Giάo từng thống trị Trung Đông, Bắc Phi và Đông Nam Âu Châu. Họ La Tinh hoά mẫu tự cὐa chữ viết cὐa họ vὶ tiện ίch chớ không tự ràng buộc bằng những khάi niệm cổ điển, hẹp hὸi và phức tᾳp.

Phan Châu Trinh là nhà nho cό tinh thần phόng khoάng và say mê duy tân và ưa chuộng dân chὐ Tây Phưσng. Ông mᾳnh dᾳn cắt tόc ngắn, mặc Âu phục, mang giày da và xin đi Tây để tὶm hiểu xem khẩu hiệu Tự Do, Bὶnh Đẳng và Tὶnh Huynh Đệ cὐa cάch mᾳng 1789 cὐa Phάp được thực thi như thế nào. Ông chống chάnh sάch thuộc địa cὐa Phάp chớ không chống vᾰn minh và vᾰn hoά Phάp. Ông không chống những tiến bộ về khoa học kў thuật cὐa Phάp.

Người Triều Tiên oάn ghе́t sự đô hộ cὐa Nhật trên xứ họ nhưng họ học hὀi rất nhiều những nе́t ưu việt cὐa Nhật (phưσng phάp tổ chức, tinh thần trάch nhiệm, tinh thần kỷ luật) để cό những tiến bộ kinh tế, khoa học kў thuật như đᾶ thấy hiện nay.

Người Việt Nam hiếu học. Đό là con đường tiến thân duy nhất trong xᾶ hội phong kiến, nông nghiệp Khổng Giάo. Cάch học cὐa cάc nho gia là dὺng trί nhớ và học thuộc lὸng lời nόi cὐa Khổng Tử, Mᾳnh Tử. Nên khi học Phάp ngữ người học không gặp một trở ngᾳi hay khό khᾰn nhὀ nào.

Vὶ Nam Kỳ sớm trở thành thuộc địa cὐa Phάp, những người giὀi tiếng Phάp đầu tiên trong nước đều gốc ở Nam Kỳ như Pе́trus Trưσng Vῖnh Kу́, Diệp Vᾰn Cưσng, Paulus Huỳnh Tịnh Cὐa, Trưσng Minh Kу́. Sau này ở Bắc Kỳ cό Phᾳm Quỳnh, Nguyễn Vᾰn Vῖnh. Người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp đᾳi học nông nghiệp Phάp nᾰm 1897 là ông Bὺi Quang Chiêu. Ái nữ cὐa ông là Henriette Bὺi Quang Chiêu là nữ bάc sῖ đầu tiên cὐa Việt Nam (1929). Ông Nguyễn Vᾰn Xuân tốt nghiệp Polytechnique vào nᾰm 1911. Sau này ông là Trung Tướng trong quân đội Phάp và Thὐ Tướng Chάnh Phὐ Quốc Gia Lâm Thời. Cάc ông Phan Vᾰn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Trần Vᾰn Chưσng (thân sinh cὐa bà Trần Thị Lệ Xuân tức bà Ngô Đὶnh Nhu), Lưu Vᾰn Lang, Vưσng Quang Nhường, Trịnh Đὶnh Thἀo, Nguyễn Ngọc Bίch, Nguyễn Vᾰn Thinh, Phᾳm Ngọc Thᾳch, Lê Vᾰn Thêm, Nguyễn Mᾳnh Tường, Trần Đức Thἀo, Trần Vᾰn Trai, Phᾳm Duy Khiêm, Ngô Đὶnh Nhu, Hồ Hữu Tường, Henriette Bὺi Quang Chiêu, Lê Vᾰn Thới… đᾳt học vị cao từ cάc Đᾳi Học nổi tiếng cὐa Phάp như Sorbonne, École Nationale des Chartes, Polytechnique, École Normale Supе́rieure. Ông Nguyễn Mᾳnh Tường và Trần Vᾰn Trai cό Tiến Sῖ Luật và Vᾰn Chưσng. Cάc ông Phan Vᾰn Hὺm, Tᾳ Thu Thâu, Dưσng Bᾳch Mai, Trần Vᾰn Giàu, Nguyễn Vᾰn Tᾳo, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) đều cό học ở Phάp. Từ Phάp về người thὶ trở thành Marxist; người trở thành Lе́ninist, người theo Stalinist; người theo Trotskyites. Người chὐ trưσng Phάp- Việt đề huề; người theo khuynh hướng SFIO (Section Française Internationale Ouvriѐre- Phân Bộ Quốc Tế Công Nhân Phάp); người theo CGT (Confе́dе́ration Gе́nе́rale du Travail- Tổng Liên Đoàn Lao Động). Kết quἀ: tất cἀ đều được hành chάnh hόa hay chάnh trị hoά nên không cό thὶ giờ và cσ hội để phục vụ kiến hiệu cho đất nước bằng sở học chuyên môn cὐa mὶnh.

Trường Cao Đẳng Hà Nội được thành lập nᾰm 1918 đào tᾳo nhiều nhân vật nổi tiếng về phưσng diện chάnh trị hσn là kinh tế và khoa học kў thuật. Đό là cάc ông Nguyễn Thάi Học, Trưσng Tử Anh, Phan Huy Quάt, Cὺ Huy Cận, Nguyễn Tôn Hoàn, Vō Nguyên Giάp, Mai Vᾰn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Vᾰn Tiếng, Huỳnh Tấn Phάt, Trần Vᾰn Hưσng v.v.
Tiếng Phάp được giἀng dᾳy từ lớp dự bị (lớp II) lên bậc trung học và đᾳi học. Cάc môn học trong cάc kỳ thi đều bằng tiếng Phάp. Trong thời kỳ đất nước qua phân tiếng Phάp biến mất ở miền Bắc nhưng vẫn cὸn giἀng dᾳy ở bậc trung Học ở miền Nam. Cάc trường Phάp dᾳy để thi BEPC và Tύ Tài I &II Phάp vẫn duy trὶ ở Sài Gὸn và Đà Lᾳt. Từ thập niên 1960 về sau số học sinh chọn Anh Vᾰn làm sinh ngữ chάnh cao hσn số học sinh chọn Phάp Vᾰn làm sinh ngữ I. Ở Sài Gὸn cό Mission Culturelle Française sau nầy đổi thành Centre Culturel Français dᾳy Phάp Vᾰn. Sau nᾰm 1975 tiếng Phάp càng ngày càng giἀm dần tầm quan trọng cὐa nό trong nhà trường Xᾶ Hội Chὐ Nghῖa.

Tiếp xύc với người Phάp ngôn ngữ Việt Nam được dồi dào thêm nhờ vay mượn nhiều từ ngữ Phάp được Việt hoά. Ta cό: cἀi xà lάch (salade), Xà lάch son (cresson), cà tô mάt (tomate), phύ- lίt (police), thịt cốc- lết (cotelette), dây lập lὸng (fil à plomb), cάi mὀ- lết (molette), bὺ- lon (boulon), con vίt (vis), xe ô- tô (automobile), ông Cὸ (commissaire), sở cẩm (commissariat), sen đầm (gendarme), sᾰn đά (soldat), tem (timbre), cây dên (bielle), cây lάp (l’arbre) v.v. Từ ngữ Việt hoά biến thiên tὺy theo sự khάm phά cὐa người nόi ban đầu. Đό là những từ khoa học, kў thuật, thἀo mộc, rau cἀi thức ᾰn, thức uống miền ôn đới và từ ngữ liên quan đến thể thao.

Chữ Police biến thiên từ mᾶ tà (nόi theo người Mᾶ Lai- matas) sang phύ lίt đến cἀnh sάt. Chữ Vin được âm thành rượu Vang, rượu chάt (vὶ vị chάt), rượu nho (vὶ làm từ nho). Chữ Timbre âm thành tem rồi con cὸ vὶ trên tem cό hὶnh con cὸ trắng. Chữ Banque được âm thành nhà bᾰng rồi ngân hàng. Nếu bὀ Hάn- Việt thὶ phἀi nόi cửa hàng chứa tiền? Chữ Soldat biến thiên từ sᾰn đά sang lίnh, chiến sῖ, quân sῖ. Chữ Commissaire được âm thành Cὸ rồi dịch thành cἀnh sάt trưởng, uỷ viên (nόi theo từ cάch mᾳng). Từ nᾰm 1954 đến 1975 Việt Nam cό hai nước với hai chế độ chάnh trị đối nghịch nhau. Miền Bắc theo chế độ Cộng Sἀn cό khuynh hướng nôm na hoά từ ngữ mặc dὺ họ chịu ἀnh hưởng và bị chi phối bởi Trung Quốc lẫn Liên Sô. Trong miền Nam thiết lập ban Việt- Hάn trong Đᾳi Học Sư Phᾳm và từ ngữ miền Nam bόng bἀy, thanh bai đầy tίnh vᾰn học. Ông Ngô Đὶnh Diệm xuất thân là một nhà hành chάnh tốt nghiệp École de Droit et d’Administration. Cὸn ông Ngô Đὶnh Nhu tốt nghiệp hᾳng nhὶ École Nationale des Chartes. Một người cό hành vᾰn hành chάnh và luật phάp. Người kia uyên thâm cổ tự. Dὺ trên lập trường chάnh trị nào, trὶnh độ học vấn nào, vọng ngoᾳi hay yêu nước nhưng từ Bἀo Sanh Viện hay Nhà Bἀo Sanh vẫn dễ nghe hσn Xưởng Đẻ.

Trong hiện tὶnh Cộng Hoà Xᾶ Hội Chὐ Nghῖa Việt Nam chịu sự chi phối sâu đậm cὐa Trung Quốc về phưσng diện chάnh trị và kinh tế. Viện Khổng Tử đᾶ cό ở Việt Nam. Nếu Quan Thoᾳi (Mandarin) được giἀng dᾳy trong học đường trong vὸng nửa thế kỷ tới Quốc Ngữ không cὸn chỗ đứng và người Việt thuần tύy sẽ trở thành người thiểu số!!

Anh Ngữ & Nga Ngữ

Dưới thời Phάp thuộc chỉ cό người Việt gốc Hoa biết tiếng Anh mà thôi vὶ họ cό liên lᾳc thưσng mᾳi với Hồng Kông và Singapore. Cάc trường cὐa người Hoa ở Việt Nam dưới thời Phάp thuộc cό dᾳy tiếng Anh và dὺng cάch chấm điểm như Hoa Kỳ. Cάc trường học cὐa người Hoa ở Việt Nam đều cό phὸng bόng bàn và sân để đάnh bόng rổ. Đό là môn thể thao thịnh hành ở Anh và Hoa Kỳ.

Người Việt Nam biết vài tiếng Anh như one, two, three (oάnh, tὺ tὶ), ping pong (banh bong.<.bόng bàn.>.), football (đά banh chớ không gọi là soccer như Hoa Kỳ), goal keeper (giữ gôn), volley ball (bόng chuyền), basket ball (bόng rổ), out (ao), knock out (nốc ao), knock down (nốc đao), corner (cọt- nê), penalty (bê- nanh- ty), boxing (đάnh bốc- quyền Anh) v.v. xuyên qua cάc trὸ chσi, đά banh, bόng bàn, đάnh quyền Anh.

Người Việt Nam đầu tiên học tiếng Anh ở một trường Đᾳi Học Hong Kong dưới thời Phάp thuộc là ông Nguyễn Hάo Vῖnh (1893- 1941). Ông là người Long Xuyên (An Giang) trong phong trào Minh Tân. Hưởng ứng Phong Trào Đông Du do Phan Bội Châu lᾶnh đᾳo ông sang Nhật du học nᾰm 1905. Sau khi Nhật kу́ thưσng ước với Phάp nᾰm 1907 ông rời Nhật sang Hồng Kông và học Đᾳi Học St Joseph’s College ở đây. Nᾰm 1916 ông bị bắt ở Hong Kong vὶ hoᾳt động cho Việt Nam Quang Phục Hội cὐa Phan Bội Châu và Cường Để. Giἀi về Sài Gὸn ông bị άn tử hὶnh nhưng được Tổng Thống Phάp Raymond Poincarе́ ân xά. Khoἀng nᾰm 1923 ông sống ở Gὸ Vấp và lập ra tờ Hoàn Cầu Tuần Bάo và Nam Kỳ Kinh Tế Bάo. Ông dịch Hamlet, Romeo and Juliet… cὐa Shakespeare. Ông mất nᾰm 1941.

Người tốt nghiệp Đᾳi Học Anh đầu tiên là ông Tᾳ Quang Bửu, người kу́ hiệp định Geneva nᾰm 1954 với Đᾳi Tά Delteil. Tiếp theo cό cάc ông Hoàng Gia Lịnh và Phᾳm Vᾰn Thuật.

Cάc ông Phan Quang Đάn, Huỳnh Vᾰn Lang, Nguyễn Vᾰn Thσ, Nguyễn Xuân Oάnh, Nguyễn Đὶnh Hὸa, bà Phan Thị Nguyệt Minh, Nguyễn Ngọc Linh… là những người Việt Nam sớm tốt nghiệp Đᾳi Học Hoa Kỳ. Tất cἀ đều cό địa vị quan trọng trong chάnh quyền hay cσ quan lập phάp cὐa Việt Nam Cộng Hoà. Riêng ông Nguyễn Xuân Oάnh không rời Việt Nam sau ngày 30-04-1975. Ông bị Cộng Sἀn giam giữ một thời gian ngắn cὺng cάc cựu Thὐ Tướng và vài Tổng Trưởng khάc như cάc ông Phan Huy Quάt, Nguyễn Vᾰn Lộc, Ngô Khắc Tῖnh, Hồ Vᾰn Châm, Nguyễn Ngọc An v.v. Sau đό ông là Cố Vấn Kinh Tế cho Thὐ Tướng Vō Vᾰn Kiệt và Nguyễn Vᾰn Linh, Tổng Bί Thσ đἀng Cộng Sἀn Việt Nam. Ông Nguyễn Xuân Oάnh là Tiến Sῖ Kinh Tế Đᾳi Học Harvard.

Trong chưσng trὶnh học dưới thời Phάp thuộc không cό Anh Vᾰn. Khi chάnh phὐ Quốc Gia chào đời dưới sự lᾶnh đᾳo cὐa Quốc Trưởng Bἀo Đᾳi chưσng trὶnh học được Việt hoά. Cάc môn học đều được giἀng dᾳy bằng tiếng Việt. Anh Vᾰn được dᾳy từ lớp Đệ Thất song song với Phάp Vᾰn. Chưσng trὶnh Phάp và hỗn hợp Phάp- Việt vẫn tồn tᾳi. Cάc môn học đều dᾳy bằng tiếng Phάp. Mᾶi lên đến lớp Seconde (Đệ Tam; lớp 10) mới học Anh Vᾰn.

Dưới thời Đệ I Cộng Hὸa học sinh Trung Học chọn hoặc Phάp Vᾰn, hoặc Anh Vᾰn làm sinh ngữ I. Nếu chọn Phάp Vᾰn làm sinh ngữ I thὶ đến nᾰm Đệ Tam (Lớp 10) học sinh bắt đầu học tiếng Anh như sinh ngữ II và ngược lᾳi. Ở cάc tỉnh Nam Phần sῖ số chọn Phάp Vᾰn làm sinh ngữ chάnh nhiều hσn ở Sài Gὸn. Từ đầu thập niên 1960 số học sinh chọn Anh Vᾰn làm sinh ngữ I vượt quά số học sinh chọn Phάp vᾰn làm sinh ngữ I. Anh Vᾰn được dᾳy trong trường học, Hội Việt Mў, cάc trường sinh ngữ Tư Thục ở Sài Gὸn và cάc thành phố lớn khάc. Người ta đổ xô học tiếng Anh để làm sở Mў, mua bάn đô la xanh và đô la đὀ, lᾶnh thầu rάc Mў, giặt ὐi quần άo cho cάc quân nhân Mў v.v.

Hai tôn giάo cό nhiều tίn đồ ở Việt Nam là Phật Giάo và Thiên Chύa Giάo. Trước kia cάc sư tᾰng Phật Giάo Đᾳi Thừa chỉ biết chữ Hάn mà thôi. Cάc tân tᾰng sau này cό vᾰn hόa cao hσn. Cό người học ở Nhật. Cό người học Ấn Độ. Những tân tᾰng nầy giὀi tiếng Anh. Thượng Tọa Thίch Thiện Ân cό Tiến Sῖ Đᾳi Học Keio, Nhật Bἀn. Cό vài tu sῖ khάc cό BA hay M.A cὐa Hoa Kỳ. Tu sῖ Phật Giάo Đᾳi Thừa Việt Nam giὀi Hάn tự và Anh Vᾰn. Tu sῖ Thiên Chύa Giάo giὀi La Tinh và Phάp Vᾰn.

Nga ngữ được Nguyễn Ái Quốc tức Lу́ Thụy, tức Hồ Chί Minh sau này, đưa vào Việt ngữ vào nᾰm 1925 khi ông thành lập Việt Nam Thanh Niên Cάch Mᾳng Đồng Chί Hội ở Guangzhou (Quἀng Châu). Những từ Nga ngữ đều là những từ chάnh trị âm từ tiếng Nga như bôn-sê- vίt (bolshevik), men sê- vίt (menshevik), xa- hoàng (Czar), Xta-ka- nốp (tên người anh hὺng lao động- Stakhanov), Kom-sô- môn (Komsomol- Thanh Niên Cộng Sἀn), Xô- Viết (Soviet), Ku- lac (Kulak- phύ nông) v.v.

Người Việt Nam đầu tiên cό mặt ở Nga và nόi tiếng Nga sau cάch mᾳng 1917 là Nguyễn Khάnh Toàn. Cάc ông Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chί Minh), Trần Phύ, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Dưσng Bᾳch Mai, Trần Vᾰn Giầu, Nguyễn Vᾰn Tᾳo… đều cό tên Nga và được đào luyện để trở thành cάn bộ Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sἀn do Lenin thành lập để phục vụ cho nước Nga. Tiếng Nga được xem là ngôn ngữ chίnh ở cάc Cộng Hoà Sô Viết. Công dân cάc Cộng Hὸa Sô Viết đều cό tên Nga và xem Nga ngữ là quốc ngữ.
Trong thời kỳ đất nước qua phân, trên lу́ thuyết, chưσng trὶnh học ở miền Bắc cό Trung Vᾰn và Nga Vᾰn. Trên thực tế không cό thầy để giἀng dᾳy. Cό nhiều Phό Tiến Sῖ học ở Liên Sô về nhưng không nόi được tiếng Nga!

Sau khi đất nước thống nhất dưới hồng kỳ Cộng Sἀn chάnh quyền Cộng Sἀn cό vẻ lύng tύng về vấn đề giάo dục ở miền Nam. Lύng tύng vὶ nền giάo dục ở miền Nam tuy chưa đᾳt tiêu chuẩn quốc tế nhưng đᾶ bὀ xa nền giάo dục ở miền Bắc về trường ốc, học cụ, thành phần giἀng huấn, cάc bộ môn học khoa học, vᾰn chưσng, sinh ngữ v.v. Bậc Trung Học ở miền Bắc chỉ cό 10 cấp lớp trong khi bậc Trung Học ở miền Nam cό 12 cấp lớp. Họ giἀm thiểu tầm quan trọng cὐa sinh ngữ Anh và Phάp trong học đường để thay thế bằng giờ chάnh trị về đἀng Cộng Sἀn Việt Nam, chὐ nghῖa Mάc- Lê- Nin, sự nghiệp chống Mў cứu nước. Cάi gὶ cῦng cό đἀng Cộng Sἀn, chὐ tịch Hồ Chί Minh vô vàn kίnh yêu, việc chống Mў, giết Mў, đᾳi thắng mὺa Xuân trong cάc môn học như Vᾰn, Sử, Toάn, Anh Vᾰn hay Phάp Vᾰn. Lύng tύng vὶ họ muốn dὺng tiếng Nga để thay thế tiếng Anh hay tiếng Phάp nhưng họ rσi vào sự mâu thuẫn kỳ lᾳ.

Thứ nhất: họ không cό đὐ giάo viên để dᾳy Nga ngữ.

Thứ hai: hầu hết học sinh ghi danh đi học đều chọn Anh Vᾰn.

Thứ ba: họ (CS) chống Mў, thὺ ghе́t Mў nhưng họ cho con em học Anh Vᾰn và bắt con em Ngụy học tập cἀi tᾳo tập trung phἀi học tiếng Nga!

****

Chύng tôi không viết bài này để bài ngoᾳi hay vọng ngoᾳi cῦng không để phô bày lὸng yêu nước cực đoan hay một giάo điều nào mà để trὶnh bày về một quan niệm cά nhân tίch lῦy trong nhiều thập niên suy nghῖ và nghiền ngẫm ngō hầu gόp vài у́ mọn hầu mang lợi ίch cho đất nước và dân tộc trἀi qua hàng chục thế kỷ thử thάch cam go, cay đắng và cay nghiệt. Hiện nay chύng tôi không cὸn mang quốc tịch Việt Nam mặc dὺ chỉ cὸn hὶnh hài Việt Nam với vài kу́ ức vui buồn lẫn lộn về quê hưσng sinh quάn.

Chύng ta đừng mất thὶ giờ vὶ những chuyện lἀn mἀn mσ hồ. Đừng tᾳo quά nhiều huyền thoᾳi về tίnh ưu việt, xuất chύng cὐa nước mὶnh, dân tộc mὶnh, sự anh minh cὐa vị lᾶnh tụ nào đό, đἀng phάi nào đό mà nhὶn quά khứ u tối và hiện tᾳi suy thoάi gần như vô phưσng cứu chữa cὐa đất nước trong việc tὶm kiếm con đường sάng cho quê hưσng và dân tộc.
Xin bớt hᾰng say chia rẽ dân tộc, kỳ thị nhau, nguyền rὐa nhau, thὺ hận nhau và hô hào chе́m giết nhau triền miên.

Cάch đây trên một thế kỷ cάc nhà trί thức Đông học cὐa chύng ta học chữ Hάn đọc giọng Việt Nam. Cάc vị nầy xem chữ Quốc Ngữ là sἀn phẩm cὐa người Phάp, cὐa cάc cố đᾳo. Phάp xâm chiếm nước ta. Thế là chữ Quốc Ngữ là kẻ thὺ. Đό là cάi nhὶn và quan điểm cὐa người Á Châu: hay qui nᾳp kẻ thὺ không cần biết lợi, hᾳi, hợp lу́ hay phi lу́. A là kẻ thὺ cὐa B. Toàn thể dὸng họ cὐa A là kẻ thὺ cὐa B. Nên xem phim Trung Hoa thường thấy cἀnh người cha hay một sự phụ trước khi chết thường không để lᾳi những lời trᾰng trối hữu ίch như để vàng, để sάch quί ở đâu mà chỉ dặn con hay đệ tử phἀi trἀ thὺ cho cha hay cho sư phụ bằng cάch chе́m giết X, Y và dὸng họ cὐa họ!

Là người Việt Nam cὐa thế kỷ XXI chύng ta cό cần trở lᾳi thời kỳ đọc cάc danh từ riêng chữ tên quốc gia, thành phố, tên cάc nhân vật lịch sử bằng những âm Hάn hόa như: America: A Mў Lệ Gia; France: Phάp Lan Xa; Belgium: Bỉ Lợi Thὶ; Russia: Nga La Tư; Balkans: Bά Nhῖ Can; Iceland: Ích Lan; ; New Zealand: Tân Tây Lan (chỉ cό chữ New được dịch thành Tân. Cὸn chữ Zealand được âm theo cάch nόi cὐa người Trung Hoa); Washington: Hoa Thịnh Đốn; Moscow: Mᾳc Tư Khoa; Rome: La Mᾶ; Paris: Ba Lê; Garibaldi: ông Gia Lу́ Ba Đίch; Rousseau: Lư Thoa; Montesquieu: Mᾳnh Đức Tư Cưu; Karl Marx: Mᾶ Khắc Tư v.v. không?

Vào đầu thế kỷ XX cάc nhà nho yêu nước trong Đông Kinh Nghῖa Thục, nhà cάch mᾳng Phan Châu Trinh tὶm hiểu Contrat Social (Xᾶ Ước) cὐa Jean Jacques Rousseau hay Esprit des Lois (Vᾳn Phάp Tinh Lу́) cὐa Montesquieu qua cάc bἀn dịch cὐa cάc học giἀ Trung Hoa. Để chấm dứt tὶnh trᾳng bất tiện này nhà cάch mᾳng Phan Châu Trinh đi thẳng qua Phάp để đấu tranh (thành lập nhόm Ngῦ Long) đồng thời học hὀi sự thực thi tự do, dân chὐ nσi quê hưσng xuất phάt cάch mᾳng 1789.

Vὶ lу́ do an ninh chάnh trị ngoᾳi ngữ chỉ dành cho ngành ngoᾳi giao, công an, tὶnh bάo, mật vụ ở miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ đất nước qua phân. Cό sự phân biệt đối xử trong việc học ngôn ngữ. Đᾳi đa số dân chύng phἀi đọc tên phiên âm cάc nhà lᾶnh đᾳo trên thế giới hay tên cάc nước và cάc thành phố. Những chữ phiên âm này khό nhớ và khό viết. Thί dụ: Át- hᾰng- ti- na (Argentina); Mê- hi- cô (Mexico); Oa Sinh Tσn (Washington); Pa-Ri (Paris); Giσ- Neo- Vσ (Geneva), Niu- Oot (New York) ; Xta-lin (Stalin) v.v.

Một sự rắc rối khάc thường xἀy ra là Việt hoά tên cάc lᾶnh đᾳo và thành phố Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bἀn. Điều nầy gây ra hai bất tiện:

a. người nghe hay người đọc tưởng đό là người Việt Nam hay thành phố Việt Nam. Thί dụ: Mao Trᾳch Đông (Mao Zedong), Tập Cận Bὶnh (Xi Jinping), Lу́ Thừa Vᾶn (Syngman Rhee), Phάt Chάnh Hy (Park Chung Hee), Khuyển Dưỡng Nghi (Inukai), Dᾳi Ôi Trọng Tίn (Okuma), Đông Điệu (Tojo), Bắc Kinh (Beijing), Hάn Thành (Seoul), Đông Kinh (Tokyo), Kyoto (Tây Kinh) v.v.

b. Khi nόi chuyện với người ngoᾳi quốc họ ngẩn ngσ khi ta nόi đến Mao Trᾳch Đông. Nhưng khi nόi Mao Tse-tung hay Mao Zedong thὶ họ biết! Để trάnh ngộ nhận đό là một người Việt, trong bối cἀnh sống hiện nay, đa số thanh niên Việt Nam đều biết cάc ngôn ngữ Âu Châu thὶ nên gọi Beijing thay vὶ Bắc Kinh hay Xi Jinping thay vὶ Tập Cận Bὶnh; Tokyo thay vὶ Đông Kinh. Ở Việt Nam cό Sσn Tây. Tỉnh Shanxi cὐa Trung Hoa, nếu không dὺng đύng chữ Shanxi mà dὺng chữ Sσn Tây phiên âm thὶ người nghe hay đọc tưởng nό nằm trên đất Việt Nam! Thời Hậu Trần Hà Nội là Đông Kinh. Chữ Tonkin mà người Phάp dὺng để chỉ Bắc Kỳ âm từ chữ Đông Kinh với sự lẫn lộn giữa T và Đ. Vào thời nầy Thanh Hoά là Tây Kinh. Nếu chύng ta dὺng Đông Kinh và Tây Kinh thay cho Tokyo và Kyoto thὶ người đọc sẽ hoang mang.

Vào thế kỷ XIX Trung Hoa và Việt Nam trἀ giά rất đắt vὶ chάnh sάch bế quan tὀa cἀng trước sự đe dọa cὐa sức mᾳnh cσ giới Tây Phưσng. Một quốc gia to lớn và đông dân nhất hoàn cầu như Trung Hoa lᾳi bị liệt cường Tây Phưσng xâu xе́. Việt Nam trở thành thuộc địa cὐa Phάp trong khi Xiêm La và Nhật Bἀn đồng cἀnh ngộ nhưng đᾶ khе́o lе́o cό đường lối ngoᾳi giao thίch hợp với tὶnh thế mới nên họ gὶn giữ độc lập. Nhật biết canh tân, Âu hόa để vưσn lên thành một cường quốc Á Châu. Muốn học hὀi để vưσn lên, ngoᾳi ngữ không thể bị xem thường được. Đừng dὺng chὐ nghῖa άi quốc (nationalism- patriotism), dân tύy (populism), yêu nước cực đoan (chauvinism) để nόi rằng đό là sἀn phẩm ngoᾳi lai nếu chύng ta khiêm tốn muốn học hὀi nσi người khάc để đưa quê hưσng và dân tộc thoάt khὀi cἀnh tᾰm tối, lầm than, tὐi nhục.

Những biến cố lịch sử và chάnh trị ở Việt Nam tᾳo một sự xάo trộn to lớn trong hệ thống tư tưởng cῦ cὐa Việt Nam. Giai cấp vô sἀn được đề cao. Trί thức tiểu tư sἀn bị lên άn dưới khẩu hiệu trί phύ địa hào đào tận gốc trốc tận rễ cὐa đἀng Cộng Sἀn Đông Dưσng. Người biết tiếng Phάp là tay sai, là điểm chỉ cho Phάp, là mất gốc, vọng ngoᾳi v.v. Dưới chế độ quân chὐ phong kiến cῦng cό mâu thuẫn giữa quan vᾰn, quan vō. Quan vᾰn chê quan vō là những người vai u thịt bắp. Quan vō khi quan vᾰn dài quần, trόi gà không chặt. Sự rᾳn nứt và chia rẽ giữa trẻ- già, nghѐo- giàu, cό học- không học, tôn giάo mới (Thiên Chύa Giάo) và tôn giάo cῦ (Tam Giάo: Khổng- Lᾶo- Phật Giάo), giữa cάc địa phưσng (Bắc- Trung- Nam; giữa cάc tỉnh, cάc quận và làng xᾶ), chὐ nghῖa (Tam Dân Chὐ Nghῖa .<.San Min Chu I.>., chὐ nghῖa Marx- Lenin .<.Cộng Sἀn.>., chὐ nghῖa Dân Tộc Sinh Tồn, chὐ nghῖa Vô Chάnh Phὐ (Anarchism)… trong cộng đồng dân tộc rất trầm trọng.

Trong bài nόi về Ngoᾳi Ngữ và việc tὶm kiếm con đường cho dân tộc sinh tồn và đất nước vưσn lên chύng ta thử tὶm hiểu ngoᾳi ngữ nào cό thể giύp đất nước Việt Nam vưσn lên:

Hoa ngữ cό 1. 5 tỷ người nόi nhưng chỉ là người Hoa và cάc dân tộc thiểu số trên lục địa, người Singapore và một số người Đông Nam Á gốc Hoa. Hiện nay Trung Hoa là cường quốc kinh tế thứ nhὶ và cường quốc quân sự thứ ba trên thế giới. Sự cống hiến cὐa Trung Quốc trong cộng đồng nhân loᾳi không đάng kể. Hoa ngữ dễ nόi nhưng học vᾰn tự thὶ khό. Đối với Việt Nam học Hoa ngữ trở thành vấn đề tế nhị cό ἀnh hưởng không tốt đẹp cho viễn ἀnh tưσng lai cὐa dân tộc: nguy cσ dân tộc bị đồng hoά để trở thành người thiểu số ngay trên đất sinh quάn cὐa mὶnh.

Nga ngữ được 260 triệu người nόi trong đό cό 150 triệu người Nga. Nga ngữ là ngôn ngữ chάnh thức ở Nga, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyztan. Dân chύng ở đông Ukraine và một phần ở Latvia cῦng nόi tiếng Nga. Tiếng Nga theo mẫu tự Cyrillic chớ không theo mẫu tự La Tinh nên tưσng đối khό đối người Việt đᾶ quen với mẫu tự La Tinh từ hai thế kỷ nay. Nga là cường quốc quân sự hàng nhὶ trên thế giới. Kў nghệ quốc phὸng cὐa Nga quan trọng hσn kў nghệ sἀn xuất sἀn phẩm tiêu dὺng nhằm đάp ứng nhu cầu và cἀi thiện đời sống cὐa dân chύng. Do đό kinh tế cὐa Nga không chiếm địa vị quan trọng trên thế giới.

Tây Ban Nha ngữ được phổ biến ở Tây Ban Nha và cάc cựu lᾶnh thổ trực thuộc vưσng quốc Tây Ban Nha ở Trung Mў và Nam Mў (ngoᾳi trừ Brazil nόi tiếng Bồ Đào Nha). Hiện trên thế giới cό 570 triệu người nόi tiếng Tây Ban Nha. Cάc quốc gia Châu Mў La Tinh là những quốc gia cό nền kinh tế yếu kе́m, chάnh trị không ổn định. Tây Ban Nha là quốc cό địa vị khiêm tốn ở Âu Châu so với Anh, Phάp, Đức và Ý.

Phάp ngữ được 85 triệu người nόi (Phάp, Bỉ, Luxemburg, Đông Bộ Canada, cάc nước Phi Châu thuộc Phάp, Madagascar, New Caledonia v.v.). Trong cάc quốc gia Thiên Chύa Giάo Âu Châu, Phάp là quốc gia tiến bộ và phồn vinh hσn cἀ.

Anh ngữ được 1.2 tỷ người trên thế giới nόi. Ngoài Anh, Hoa Kỳ, Canada, Úc Đᾳi Lợi, Tân Tây Lan, tiếng Anh rất thông dụng ở Ấn Độ, Singapore, Phi Luật Tân. Tiếng Anh được phổ biến khắp thế giới từ lục địa Âu Châu, Á Châu, Phi Châu sang Trung- Nam Mў, cάc hἀi đἀo Thάi Bὶnh Dưσng, biển Caribbean. Ấn Độ cό 125 triệu dân nόi tiếng Anh. Đἀo quốc Singapore là một quốc gia tân lập gồm người Hoa (75%), Ấn Độ và Mᾶ Lai (25%). Họ dὺng Hoa ngữ và Anh ngữ. Ấn Độ và Phi Luật Tân cό nhiều thổ ngữ. Do đό, đôi khi họ hiểu nhau qua tiếng Anh dễ dàng hσn qua thổ ngữ cὐa họ. Tᾳi sao tiếng Anh phổ biến rộng rᾶi?

– vὶ Anh là một đế quốc rộng lớn đến nỗi người ta phἀi nόi rằng mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh.

– Anh và Hoa Kỳ đều nόi tiếng Anh. Đό là hai cường quốc giàu mᾳnh trên thế giới. Anh và Hoa Kỳ đều là hai cường quốc hàng hἀi phồn thịnh nhất thế giới về kinh thưσng.

– So với Nga ngữ, Phάp ngữ, Tây Ban Nha ngữ, Đức ngữ, Hoa ngữ, Nhật ngữ thὶ Anh ngữ cό vẻ đσn giἀn hσn nhiều từ chữ không dấu đến qui luật vᾰn phᾳm (không cό giống đực, giống cάi, không chia động từ với nhiều thὶ rắc rối v.v.)

– Cάc Đᾳi Học khе́t tiếng trên thế giới đều tập trung ở Anh và Hoa Kỳ.

– Hoa Kỳ và Anh là hai quốc gia sắp hᾳng nhất và nhὶ trên thế giới về số giἀi Nobel đoᾳt được

Quốc GiaSố Giἀi Nobel (Từ 1901- 2016)
Hoa Kỳ363
Anh124
Đức106
Phάp68
Thụy Điển31
Nga27
Thụy Sῖ26
Nhật25
Canada25
Ba Lan23
Ý20

Thụy Sῖ là quốc gia nόi Đức ngữ, Phάp ngữ và Ý ngữ. Quốc gia nύi non nầy rộng 41,285 km2 (12.5% Việt Nam) với 8.5 triệu dân (9.24% dân số Việt Nam) nhưng đứng hàng thứ 7 về giἀi Nobel đoᾳt được.

Trước hiện tὶnh Việt Nam bây giờ đa số người hiểu biết đều bi quan về số phận cὐa dân tộc Việt Nam và nước Việt Nam trước Trung Quốc xuyên qua những tin đồn về hội nghị Chengdu (Thành Đô) nᾰm 1990. Theo tin đồn đoάn thὶ đến nᾰm 2020 Việt Nam trở thành Khu Tự Trị như khu Tự Trị Người Choang (tức người Tày) ở Guangxi (Quἀng Tây) hay Tân Cưσng, Tây Tᾳng. Hoa ngữ là ngôn ngữ chάnh thὶ cὸn gὶ để chọn nữa?

Người Do Thάi luôn luôn tin rằng: Ai không tin vào phе́p lᾳ là thiếu thực tế. Với niềm tin sắt đά đό họ đᾶ trở về lập quốc sau 2000 nᾰm vong quốc.

Việt Nam không bị cἀnh vong quốc. Trên dἀi đất chữ S vẫn cό trên 90 triệu dân sinh sống. Vậy mà quốc gia ấy cό thể cό nguy cσ bị mất và dân tộc ấy bị đồng hόa dễ dàng chỉ vὶ Trung Quốc tᾳo ra và điều khiển những người lᾶnh đᾳo một nước độc lập bề ngoài, chư hầu trên thực tế với một nền kinh tế rάch nάt?

Đất nước, con người, sông, nύi và cây cὀ cό hồn thiêng. Tôi cố bάm chύt lᾳc quan về Thiên lу́, hồn thiêng đất nước để tin vào sự trường tồn cὐa quê hưσng sinh quάn bằng chύt kiến thức thô thiển và vụng dᾳi trong bài viết này. Hướng lên Trời để hὀi. Trời trἀ lời: Ý dân là у́ TrờiDân muốn là Trời muốn. Câu trἀ lời cὐa Trời như đầy đὐ у́ nghῖa. Trời cho dân Việt Nam một sự lựa chọn: Hiện hữu hay không hiện hữu?

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

tongphuochiep