Đọc khoἀng: 20 phύt

Mục đίch cὐa thi Ðὶnh là khἀo sάt lᾳi một lần những người đᾶ đỗ Trύng cάch thi Hội rồi theo kết quἀ mà sắp đặt người đỗ Tiến sῖ theo thứ tự cao thấp. Tuy nhiên, dὺ đᾶ đỗ thi Ðὶnh rồi cό khi cὸn phἀi trὶnh diện để vua xem dung mᾳo hoặc phἀi vào điện thi “ứng chế” hay đᾶ vinh quy rồi phἀi trở lᾳi Kinh thi thσ, luận… cό hợp cάch mới lấy đỗ hẳn, cấp vᾰn bằng.

Mᾳc Ðῖnh Chi đỗ thὐ khoa nᾰm 1304 song vua Trần Anh Tông thấy dung mᾳo ông xấu xί không muốn cho đỗ đầu. Ông soᾳn bài phύ “Ngọc liên tỉnh” vί mὶnh với hoa sen trong giếng, đề cao phẩm cάch thanh khiết cὐa bông sen. Vua đọc xong cho đỗ Trᾳng nguyên.

Tưσng truyền khoa Mậu Thὶn triều Lê Uy Mục, Hứa Tam Tỉnh đỗ Bἀng Nhᾶn, Nguyễn Giἀn Thanh đỗ Trᾳng nguyên. Vua thấy Hứa mặt mῦi đẹp đẽ cho đỗ Trᾳng, trên Nguyễn Giἀn Thanh. Người đời gọi Hứa là Mᾳo Trᾳng nguyên (1).

* Phêp chấm Thi Ðὶnh thời Nguyễn : Quyển nộp cho quan Tuần la để giao cho ông Thu quyển. Ông Ấn quyển đόng dấu “Luân tài thịnh điển” vào chữ cuối quyển thi. Cάc Soᾳn hiệu đάnh dấu tờ đầu quyển thi, chỗ cό tên thί sinh, cuộn trὸn lᾳi, niêm phong rồi mới giao cho cάc Ðằng lục (cῦng gọi là Ðằng tἀ) sao lᾳi bằng son đὀ, Di phong xếp vào hὸm, chuyển cho Thὐ trưởng canh giữ. Tất cἀ đều phἀi ngὐ lᾳi ở triều phὸng để sάng mai chầu chực vua chấm bài. Quyển mực (mực đen, cὐa Cống sῖ) giữ lᾳi, cất đi, chỉ chấm quyển sao (son đὀ).

Hai quan Duyệt quyển chấm trước, thứ đến hai quan Ðộc quyển hội đồng xе́t lᾳi, xếp thứ tự, kу́ tên chung rồi cho khάp phάch, đίnh chung quyển thi, quyển sao làm một, lập danh sάch, làm bἀn tấu trὶnh. Vua duyệt lᾳi, cho у́ kiến rồi trἀ lᾳi khἀo quan để chuyển cho bộ Lễ theo đό mà soᾳn mῦ άo, định ngày Truyền lô (2).

Lύc đầu điểm duyệt phê “ưu, bὶnh, thứ, liệt…”, sau đổi sang chấm phân số từ 0 đến 20, thời Phάp thuộc lᾳi tίnh điểm từ 0 đến 10.

* Những người đỗ xưa gọi là Thάi Học Sinh, đến thời Trần Duệ Tông, 1374, mới gọi là Tiến sῖ. Cάc Tiến sῖ chia ra ba giάp, theo thứ tự từ cao xuống thấp :

a- Ðệ nhất giάp Tiến sῖ. Ở Việt-Nam thường chỉ lấy ba người là Trᾳng nguyên, Bἀng nhᾶn, Thάm hoa, gọi chung là Tam khôi.

Tuy nhiên, để khuyến khίch nho sῖ, đời Trần cό lύc lấy 2 bἀng đỗ, tức là cό Kinh Trᾳng nguyên (Kinh đô) lᾳi cό Trᾳi Trᾳng nguyên (Thanh, Nghệ).

Nhà Nguyễn đặc biệt cό lệ “Tứ bất lập” (3), không lấy ai đỗ Trᾳng nguyên mặc dầu khi đặt luật lệ vẫn ấn định số điểm lấy đỗ Trᾳng nguyên.

b- Ðệ nhị giάp Tiến sῖ, số người lấy đỗ không nhiều lắm, đứng đầu là Hoàng giάp.

c- Ðệ tam giάp Tiến sῖ – Thời Lê cὸn gọi là Phụ bἀng, để đối với Chάnh bἀng là nhất giάp và nhị giάp Tiến sῖ. Số người được lấy đỗ Ðệ tam giάp nhiều nhất trong ba giάp.

Phό bἀng thời Nguyễn kể là không đỗ Tiến sῖ, không dự hàng giάp đệ, khάc với Phụ bἀng triều Lê.

* Danh vị và thứ bậc cάc Tiến sῖ rất quan trọng : Phὺng Khắc Khoan đᾶ làm quan to mà cὸn đi thi để giật danh vị Nhị giάp Tiến sῖ khoa 1580. Công Dư Tiệp Kу́ kể rằng thời Lê Thάnh Tông, niên hiệu Quang Thuận, Nguyễn Nhân Bị, 19 tuổi đỗ Tiến sῖ nhưng không dự hàng cập đệ, từ không nhận để thi lᾳi mong đỗ cao hσn, nhưng đi thi lᾳi vẫn chỉ đỗ Ðồng Tiến sῖ (tam giάp). Trịnh Thiết Trường khoa 1442 đỗ Ðồng Tiến sῖ, sai người về làng đόn mẹ. Bà mẹ không đi, nόi mong con đoᾳt hai chữ “khôi nguyên”, nay đỗ dưới người khάc thὶ đi làm gὶ ? Nᾰm 1448 ông thi lᾳi, lần này đỗ Bἀng nhᾶn (4).

* Theo lời tâu xin, vua truyền cho bộ Lễ trἀ bἀn sao quyển thi cό chữ “châu phê” bằng son đὀ cὐa vua cho Cống sῖ (5).

Ở từng dưới Ðông cάc, nσi tàng trữ vᾰn thư Nội cάc, tức Khuê Vᾰn Thư Viện, lập nᾰm 1852, cό lưu trữ một số quyển Ðiện thί (6). Hiện Thư Viện Hάn Nôm ở Hà-nội cὸn giữ được khά nhiều vᾰn bài thi Ðὶnh thời Lê và thời Nguyễn. Mặt quyển cho thấy cἀ tên và chức vụ cὐa cάc khἀo quan.

I – CHẤM THI

A – TRƯỚC THỜI NGUYỄN

– NHÀ TRẦN

1232 Thi Thάi Học Sinh, bắt đầu chia giάp đệ, tức là : nhất giάp, nhị giάp và tam giάp Tiến sῖ. Trước chỉ chia ra Giάp, Ất.

1247 Bắt đầu gọi ba người đỗ đầu nhất giάp là Tam khôi, theo thứ tự từ cao xuống thấp : Trᾳng nguyên, Bἀng nhᾶn, Thάm hoa.

1256 Bắt đầu lấy hai bἀng đỗ : Kinh (Kinh đô) và Trᾳi (Thanh, Nghệ) để khuyến khίch nho sῖ ở xa chưa thấm nhuần Chίnh đᾳo (đᾳo Nho), thành ra trong nước cὺng một lύc vừa cό Kinh Trᾳng nguyên, Kinh Bἀng nhᾶn lᾳi cόTrᾳi Trᾳng nguyên, Trᾳi Bἀng nhᾶn… Ðến Trần Thάnh Tông mới lᾳi hợp thi chung, lấy một bἀng đỗ.

1305 Ngoài Tam khôi và 44 Thάi Học Sinh, bắt đầu lấy thêm Hoàng giάp tức Nhị giάp Tiến sῖ.

1374 Bắt đầu gọi Tiến sῖ thay cho Thάi Học Sinh nhưng vẫn tiếp tục dὺng danh Thάi Học Sinh đến 1442 mới bὀ. Nhất giάp gọi là Tiến si cập đệ, Nhị giάp gọi là Ðồng Tiến sῖ cập đệ, Tam giάp là Tiến sῖxuất thân (7).

1396 Ðịnh lệ cό đỗ thi Hội mới được thi Ðὶnh.

– NHÀ LÊ

1433 Chia ra Chίnh bἀng gồm Tiến sῖ cập đệ (nhất giάp), Tiến sῖ xuất thân (nhị giάp ) và

Phụ bἀng là Ðồng Tiến sῖ xuất thân tức Tam giάp Tiến sῖ.

1442 Nᾰm 1484 khi Quάch Ðὶnh Bἀo lập bia Tiến sῖ khoa 1442 xin đổi : Chίnh bἀng gồm Nhất giάp là Tiến sῖ Cập đệ, Nhị giάp là Tiến sῖ xuất thân và Phụ bἀng là Ðồng Tiến sῖ xuất thân tức Tam giάp (8).

1478 Không lấy Trᾳng nguyên mà chỉ lấy 2 Thάm hoa (9).

1496 Lệ cῦ vào thi Ðὶnh không bị đάnh hὀng. Khoa này thi Hội lấy 43 người Trύng cάch nhưng sau khi xе́t dung mᾳo ở điện Kim Loan, vua đάnh hὀng 13 người, cὸn 30. Nguyễn vᾰn Huấn thi Hội đỗ thứ 2 cῦng bị xόa tên (10).

1508 Theo Trần Tiến, khoa này Hứa Tam Tỉnh đỗ Bἀng nhᾶn, Nguyễn Giἀn Thanh đỗ Trᾳng nguyên, nhưng vua Lê Uy Mục lᾳi cho Hứa đỗ Trᾳng vὶ dung mᾳo đẹp, người bấy giờ gọi Hứa là “Mᾳo Trᾳng nguyên”. Tuy nhiên, trong Khoa Mục Chί người đỗ Trᾳng vẫn là Nguyễn Giἀn Thanh (1).

1623 Từ khoa này về sau, thi Ðὶnh không bị đάnh hὀng cho đến khoa 1757 Nguyễn Khiêm Hanh vὶ can tội mang sάch vào thi Ðὶnh mới lᾳi bị đάnh hὀng.

1779 Trịnh Sâm mở thịnh khoa, vᾰn bài thi ở điện không đưa vua Lê Hiển Tông chấm. Hôm sau cho thi ở phὐ Chύa, chỉ chấm những quyển thi ở phὐ đường, chia hᾳng Giάp, Ất (11).

B – NHÀ NGUYỄN

1822 Thάng 3, Hội thί. Ba kỳ đầu yết bἀng ở cửa Thể Nguyên ; kỳ 4 là thi Ðὶnh, vào thάng tư, yết bἀng ở Phu vᾰn Lâu.

Quyển mực (đen) lưu lᾳi Thί viện, quyển son (sao) giao cho cάc Ðồng khἀo chấm. Mỗi quyển 2 người hội chấm, chia 4 hᾳng ưu, bὶnh, thứ, liệt. Cάc quan Ngoᾳi trường, Ðọc quyển, hội duyệt lᾳi, lấy đỗ hay bὀ rồi vua định thứ bậc (12).

1829 Ðịnh lᾳi phе́p thi Ðiện. Bộ Lễ tâu khoa trước chia ưu, bὶnh, thứ, liệt, nay xin theo phе́p thi Hội mới định, đổi ra phân số, chấm nghiệt hσn thi Hội một bậc vὶ quan trọng hσn.

ưu = 9 – 10 phân (Trᾳng nguyên 10 phân, Bἀng nhᾶn 9 phân)

ưu thứ = 7 – 8 phân (Thάm hoa 8 phân, Hoàng giάp 6, 7 phân)

bὶnh = 5 – 6 phân (Tam giάp từ 5 phân trở xuống)

bὶnh thứ = 3 – 4 phân

thứ = 1 – 2 phân

liệt = không đὐ mợt phân.

1847 Thi Ðὶnh bắt đầu bị đάnh hὀng vὶ trong bài Kim vᾰn cὐa Ðặng Huy Trứ cό câu :”Hữu hᾳi gia miêu” (làm hᾳi lύa tốt). Song Gia miêu là tên quê hưσng vua nhà Nguyễn, họ Ðặng mắc tội phᾳm hύy, bị đάnh hὀng tuột, cάch luôn cἀ danh tịch (sổ ghi tên những người thi đỗ) Cử nhân, đuổi về học lᾳi. Trước đό, thi Hội Trứ đᾶ phᾳm tội vᾰn khiếm nhᾶ, quan trường đάnh hὀng nhưng vua Thiệu-Trị thấy Trứ thi kỳ 1 kiêm trị cἀ 5 kinh, đặc cάch cho thi Ðiện, nay lᾳi bị đάnh hὀng.

1851 Ðược 4 phân trở lên là trύng Giάp bἀng, từ 3 phân trở xuống đỗ Phό bἀng.

1853 Sau khi thi Ðiện cὸn qua một kỳ Phύc thί, dὺng 3 bài luận thể vᾰn kim. Vua cho thi Ðiện khoa ấy chỉ xе́t vᾰn chưσng, học vấn, sợ trὺ tίnh công việc cό xάc đάng, kiến thức cao minh thὶ chưa từng nόi đến. Bѐn cho những người Trύng cάch thὶ lᾳi ở nhà Duyệt thị, đều hὀi về việc hiện thời cὺng là cốt yếu về việc dὺng người, trị nước.

Trường thi thời xưa - Binh Phuoc, Tin tuc Binh Phuoc, Tin mới tỉnh Bὶnh  Phước

Ðến khoa 1862 cό tới 2 kỳ Phύc thί (13).

1856 Quan Tuần la thu quyển thi dάn lᾳi, đάnh dấu, giao cho thάi giάm nộp vào trong Nội. Cάc quan coi việc thi, đợi chỉ, giao quyển thi ra, quan Giάm thί chuyển giao cho viên Thu trưởng trὶnh cάc quan Duyệt quyển điểm duyệt trước, cάc quan Ðộc quyển hội đồng chấm lᾳi rồi tâu, đợi Hoàng thượng định thứ bậc.

Khoa này cό 2 người viết bài phύ giống nhau, phᾳt 50 roi. Tuần sάt không chu đάo, phᾳt 40 roi (14).

1869 Ðịnh lệ Phύc thί (thi Ðὶnh) những người thi Hội Trύng cάch : từ 3 phân trở lên, chờ chỉ chuẩn bậc đỗ ; được 1, 2 phân mà không tỳ tίch, sai lầm nhiều, để dưới hᾳng Tam giάp, tức đỗ Phό bἀng.

1871 4 viên Thứ Trύng cάch và viên lấy thêm khi vào Phύc thί đều bị đάnh hὀng (15).

1877 Thứ Trύng cάch không được thi Ðὶnh, song vὶ số Trύng cάch quά ίt, lᾳi cho thi. Từ 3 phân trở lên cho đỗ Chίnh bἀng / Giάp bἀng ; từ 2 phân trở xuống, cho đỗ Phό bἀng (16).

1879 Trύng cάch 17 người, cό 3 người chữ viết sai lầm, vᾰn lᾳi vụng kе́m, bị truất, cὸn đỗ Tiến sῖ 6 người và Phό bἀng 8 người (17).

1884 Chuẩn định cho lấy đỗ :

Trᾳng nguyên = 10 phân

Bἀng nhᾶn = 8-9 phân

Thάm hoa = 6-7 phân

Hoàng giάp = 4-5 phân

Tam giάp = 3 phân trở xuống.

Quyển nào duyệt phê trύng, họp duyệt kiểm ra nên bὀ cῦng tâu xin truất (18).

1907 Trύng cάch 4 người, Thứ Trύng cάch 6 người. Nguyễn Thᾳc Tίnh ba kỳ được 6 phân cὺng 2 người đỗ Thứ Trύng cάch khoa trước đều được vào thi Ðὶnh. Khoa này không lấy ai đỗ nhất giάp, cho 4 người đỗ Nhị giάp, 3 người đỗ Tam giάp (19).

1910 Không chấm phân số, đổi ra phê điểm từ 0 đến 20. Vὶ thi Ðὶnh khό hσn thi Hội nên đặc cάch gia hậu 1 điểm thêm 1 thành 2 (1+1 = 2), 2 điểm thêm 2 thành 4 (2+2 = 4) v.v.

Tίnh thông cἀ cάc kỳ Hội và kỳ thi Ðὶnh cộng lᾳi rồi chia làm 6 thành :

Viên nào mỗi thành được 20 điểm thὶ cho trύng Ðệ nhất giάp Tiến sῖ cập đệ, đệ nhất danh (Trᾳng nguyên) ;

Viên nào mỗi thành được 18, 19 điểm thὶ cho đỗ Ðệ nhất giάp Tiến sῖ cập đệ, đệ nhị danh (Bἀng nhᾶn) ;

Mỗi thành được 16 -17 điểm thὶ cho đỗ Ðệ nhất giάp Tiến sῖ cập đệ, đệ tam danh (Thάm hoa) ;

Mỗi thành được 13 – 15 điểm, cho đỗ Ðệ nhị giάp Tiến sῖ xuất thân (Hoàng giάp) ;

Mỗi thành được 10 – 12 điểm, cho đỗ Ðệ tam giάp Ðồng Tiến sῖ xuất thân (Tam giάp) ;

Mỗi thành được 7 – 9 điểm đặt vào hᾳng Phό bἀng (20).

1919 Ðây là khoa cuối cὺng, tὺy vᾰn lу́ cho điểm, chứ không cᾰn cứ vào số điểm thi Hội như cῦ.

II – NGẠCH LẤY ĐỖ

Số người lấy đỗ không hᾳn định trước như thi Hưσng.

A – NGẠCH THỜI LÊ

Trung bὶnh mỗi khoa cό khoἀng 2000, 3000 người dự thί, lấy đỗ từ 20 đến 40 người. Số người đỗ không cᾰn cứ vào số người thi : Khoa 1442 cό 450 người thi mà lấy đỗ 33 người, khoa 1640 trên 6000 người thi, lấy đỗ 22 người.

1442 Thi Hội 450 người, 33 lọt Tứ trường ; thi Ðὶnh lấy đỗ 3 Nhất giάp Tiến sῖ, 7 Nhị giάp Tiến sῖ và 23 Phụ bἀng, tức Tam giάp Tiến sῖ.

1448 750 người thi, 27 người Trύng cάch : 3 người đỗ Tiến sῖ cập đệ, 12 người đỗ Tiến sῖ xuất thân, 12 người đỗ Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1463 Theo Bi kу́, khoa này cό 1400 (KMC ghi là 4400 người) người thi, 44 Trύng cάch : 3 Tiến sῖ cập đệ, 15 Tiến sῖ xuất thân, 26 Ðồng Tiến sῖ xuất thân (21).

1467 1100 người thi, 27 người đỗ Trύng cάch : 8 Tiến sῖ xuất thân, 19 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1475 Trên 3000 người thi, 43 người đỗ : 3 Tiến sῖ cập đệ, 13 Tiến sῖ xuất thân, 27 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1481 Trên 2000 người thi, 40 người đỗ : 3 Tiến sῖ cập đệ, 8 Tiến sῖ xuất thân, 29 Ðồng Tiến sῖ xuất thân (22).

1499 Trên 5000 người thi, 55 người đỗ.

1502 5000 người thi, 61 người đỗ : 3 Tiến sῖ cập đệ, 24 Tiến sῖ xuất thân, 3 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1514 5400 người thi (5700, theo Vᾰn bia) người thi, 43 người đỗ : 3 Tiến sῖ cập đệ, 20 Tiến sῖ xuất thân, 20 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1529 (Mặc Ðᾰng Dung) Trên 4000 người thi, 26 người đỗ.: 3 Tiến sῖ cập đệ, 8 Tiến sῖ xuất thân, 15 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1595 Thi ở Trung đô, khoa thứ 5 : trên 3000 người thi, 6 người đỗ : 2 Tiến sῖ xuất thân, 4 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1619 Ðề điệu là Trịnh Sâm : trên 2000 người thi, 7 người đỗ : 1 Nhị giάp, 6 Tam giάp Tiến sῖ.

1623 Trên 3000 người thi, 7 người đỗ. Vὶ cό biến, thi Ðὶnh chưa kịp xướng danh, bἀng thi Hội yết ở Ðὶnh Quἀng Vᾰn.

1640 Trên 6000 người thi, 22 người đỗ : 2 Tiến sῖ xuất thân, 20 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1643 Trên 2000 người thi, 9 người đỗ : 2 Tiến sῖ xuất thân, 7 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1652 Trên 2000 người thi, 9 người đỗ : 2 Nhị giάp, 7 Tam giάp Tiến sῖ.

1656 Khoἀng 3000 người thi, 6 người đỗ Tam giάp Tiến sῖ.

1661 Dưới 3000 người thi, 13 người đỗ : 3 Tiến sῖ cập đệ, 2 Tiến sῖ xuất thân, 8 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1670 Trên 2000 người thi, 31 người đỗ : 2 Tiến sῖ cập đệ, 2 Tiến sῖ xuất thân, 27 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1673 Trên 3000 người thi, 5 người đỗ Tam giάp Tiến sῖ.

1676 Gần 3000 người thi, 20 người đỗ : 1 Tiến sῖ cập đệ, 3 Tiến sῖ xuất thân, 16 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1680 Trên 2000 người thi, 19 người đỗ : 2 Tiến sῖ xuất thân, 17 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1683 3000 người thi, 18 người đỗ : 3 Tiến sῖ cập đệ, 1 Tiến sῖ xuất thân, 14 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1685 2800 người thi, 13 người đỗ : 1 Tiến sῖ cập đệ, 1 Tiến sῖ xuất thân, 11 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1691 3000 người thi, 11 người đỗ : 3 Nhị giάp, 8 Tam giάp Tiến sῖ.

1694 Trên 2000 người thi, 5 người đỗ ÐồngTiến sῖ xuất thân.

1697 3000 người thi, 10 người đỗ : 2 Tiến sῖ xuất thân, 8 Ðồng Tiến sῖ xuất thân.

1700 Trên 2000 người thi, 19 người đỗ : 1 Nhất giάp, 3 Nhị giάp, 15 Tam giάp Tiến sῖ.

1703 3000 người thi, 6 người đỗ : 1 Nhị giάp, 5 Tam giάp Tiến sῖ.

1724 Dưới 3000 người thi, 17 người đỗ : 1 Ðệ nhất giάp, đệ nhị danh, 2 Ðệ nhị giάp, 14 Tam giάp.

1787 Cό 1212 người thi, 14 người đỗ kể cἀ nhị giάp song nguyên Bὺi Dưσng Lịch (23).

B – NGẠCH THỜI NGUYỄN

Số người thi thời Nguyễn thưὸng không quά 100, 200 người ; số người đỗ, nếu không kể Phό bἀng, không vượt quά vài chục. Không tίnh ngᾳch lấy đỗ thời Nguyễn được vὶ sάch sử chỉ ghi số người đỗ mỗi khoa mà không chе́p số người dự thί trừ vài trường hợp đặc biệt :

1822 Thάng 3 cό 164 người dự thi Hội, lấy đỗ 5 người, vua cho là ίt, lấy thêm 3 thành 8 Trύng cάch. Thάng 4 thi Ðὶnh ở điện Cần chίnh cho Nguyễn Ý đỗ Hoàng giάp, 7 người kia đỗ Tam giάp Tiến sῖ.

1826 Vua trάch khἀo quan thi Hội chấm nghiệt quά, cό trên 200 người thi chỉ lấy 9 người đỗ mà đều hᾳng thứ và toàn là người Bắc, bắt lựa thêm 1, 2 người từ Thừa thiên vào Nam để cổ lệ sῖ phong. Quan trường lấy thêm Phan Thanh Giἀn, thành đὐ 10 người (thi Ðὶnh Phan Thanh Giἀn đỗ đầu Tam giάp).

1874 Vua sắc cho bộ Lễ :”Quốc triều ta về khoa Tiến sῖ trước kia mỗi khoa lấy đỗ nhiều thὶ hσn 10 người, ίt cῦng 7, 8 người. Gần đây người đỗ ίt thậm chί cό khoa chỉ cό 3, 4 người, cό lẽ học nghiệp không bằng trước hay là câu nệ về mực thước quά mà thế chᾰng ?”.

III – DANH HIỆU

1232 Bắt đầu chia ra Giάp đệ, tức Ðệ nhất giάp, đệ nhị giάp và đệ tam giάp.

1374 Nhất giάp gọi là Tiến sῖ cập đệ, Nhị giάp là Ðồng Tiến sῖ cập đệ, Tam giάp là Tiến sῖ xuất thân.

* Tiến sῖ cập đệ – Cập đệ nghῖa là thi đỗ. Theo Lê Quу́ Ðôn, đời Ðường lấy khoa Minh Kinh, Tiến sῖ làm cập đệ. Tuy cό tên trong sổ người đỗ ở vưσng phὐ nhưng chưa vào sổ Sῖ hoᾳn (ra làm quan) cὸn phἀi do bộ Lᾳi xе́t một lần nữa, hay cάc châu huyện tiến cử mới được làm quan. Cό làm cῦng chỉ làm quận dư yến (thư kу́ bύt thiếp ở quận) hay huyện tά, lâu nᾰm mới được bổ dụng.

Ðời Tống Thάi Tổ (976-7) mới chia Giάp đệ :

– Ðệ Nhất giάp gọi là Tứ Tiến sῖ cập đệ, cό khi lấy đến 30, 40 người nhưng chưa ưu đᾶi 3 người đỗ trên hết ;

– Ðệ Nhị giάp gọi là Ðồng Tiến sῖ cập đệ ;

– Ðệ Tam, đệ Tứ giάp gọi là Tiến sῖ xuất thân ;

– Ðệ Ngῦ giάp là Ðồng Tiến sῖ xuất thân (24).

* Tiến sῖ xuất thân – (Xuất thân = từ đό mà ra) Vẫn theo Lê Quу́ Ðôn, đời Ðường Chế khoa trọng hσn khoa Tiến sῖ và “xuất thân” trọng hσn “cập đệ”. “Cập đệ” chưa vào sổ sῖ hoᾳn cὸn “xuất thân” được ghi ngay tên vào quan bἀn, đi làm quan ngay. Làm ở Ngự sử quάn, điện đài, đường xuất sῖ rất cao vượt. (25).

1433 Ðổi chia ra Chίnh bἀng và Phụ bἀng.

a- Chίnh bἀng gồm Nhất giάp và Nhị giάp.:

* Nhất giάp ba người đỗ đầu gọi là Tam khôi, theo thứ tự từ cao xuống thấp là :

1- Trᾳng nguyên – Danh hiệu này cό từ đời Ðường. Lê Quу́ Ðôn cho biết nhà Ðường gọi là Trᾳng nguyên hay Trᾳng đầu vὶ nhà Ðường thi bằng bἀng (Trᾳng = bἀng, nguyên = đầu), Trᾳng nguyên chỉ để gọi người đỗ đầu bἀng mà thôi.

Vua cho 3 người đỗ Trᾳng nguyên ᾰn cσm, ban cho 5 chе́n rượu, những người khάc thὶ cho ᾰn no. 3 người trước dâng một bài thσ tᾳ σn, 10 ngày sau vào chầu bάi tᾳ, lᾳi vài ngày nữa làm lễ “Bάi hoàng giάp” và “Tự đồng niên” : trἀi thἀm trên thềm Ðông, Tây đối nhau, những người từ 40 tuổi trở lên đứng ở bên Ðông, những người dưới 40 đứng ở hành lang bên Tây, đều lᾳy 2 lᾳy. Lᾳi chọn người nhiều tuổi nhất trong bἀng để Trᾳng nguyên lᾳy, chọn người trẻ nhất lᾳy Trᾳng nguyên. Lễ “Tự đồng niên” là những người cὺng một bἀng vάi lẫn nhau (26).

Thời Trần cό lύc đặc biệt lấy hai bἀng đỗ : “Kinh Trᾳng nguyên” (kinh đô) “Trᾳi Trᾳng nguyên” (Thanh, Nghệ).

2- Bἀng nhᾶn – Bἀng nhᾶn nghῖa là mắt bἀng. Danh hiệu cό từ đời Nguyên, Minh (27).

3- Thάm hoa – Theo Vân Ðài Loᾳi Ngữ thi nhà Ðường khi ᾰn yến ở Khύc giang, vua chọn một người trẻ tuổi cho đi hάi danh hoa để bầy tiệc ᾰn mừng cάc Tiến sῖ mới. Sau vua bὀ bữa yến Thάm hoa e người ta hiểu lầm người đỗ thứ ba gọi là Thάm hoa (28).

R. de Rotours trong Courtisanes chinoises à la fin des T’ang cῦng viết rằng Thάm hoa là những người đỗ trẻ nhất được cử đi hάi cάc hoa lᾳ trong những vườn danh tiếng ở Kinh đô về bầy trên bàn tiệc đầu tiên mừng cάc Tân khoa.

Sάch Ðông Hiên Bύt Lục chỉ chе́p là chọn 3 người trẻ tuổi làm Thάm hoa.

Trần vᾰn Giάp cῦng chỉ nόi tục cό từ đời Ðường, chọn 2 người trẻ nhất làm Thάm hoa lang (29).

* Nhị giάp đứng đầu là Hoàng giάp – (Hoàng là hoàng bἀng, bἀng vàng, tên viết ở cuối quyển giấy vàng ; giάp làkhoa giάp). “Hoàng giάp” là người cό tên trên bἀng vàng, giάp liền với tên cάc Tiến sῖ hᾳng nhất (30). Danh hiệu này đến đời Tống mới xuất hiện (31).

b- Phụ bἀng là Tam giάp Tiến sῖ – Những người đỗ Nhất giάp hay Nhị giάp vὶ đỗ cao người ta nên tuy cῦng là Tiến sῖ nhưng người ta gọi theo danh vị thứ bậc : Trang nguyên, Bᾶng nhᾶn, Thάm hoa, Hoàng giάp, cὸn Tiến sῖ thường để trὀ những người đỗ Ðệ Tam giάp mà thôi.

* Phụ bἀng thời Lê là những người đỗ Tiến sῖ hᾳng ba, không thuộc Chίnh bἀng, khάc với Phό bἀng thời Nguyễn là những người không đỗ Tiến sῖ, nhưng điểm cao trong số những người thi hὀng (như Tύ tài thi Hưσng).

Tiến sῖ : Tiến sῖ là người được “tiến” lên vua, đời Tống, trὀ người đỗ giάp bἀng.

Danh hiệu Tiến sῖ cό từ đời Chu nhưng chưa phἀi trὀ người đỗ thi Hội. Ðời Ðường, người thi gọi là Cử Tiến sῖ, người đỗ gọi là Thành Tiến sῖ.

Lê Quу́ Ðôn chе́p rằng thời Lê Kίnh Tông (Duy Tân) vὶ kỵ hύy nên Tân Tiến sῖ đổi gọi là Thὐy Tiến sῖ. (32).

* “Ông Nghѐ” trὀ ông Tiến sῖ. Cό rất nhiều cάch giἀi thίch khάc nhau :

– Trong điện vua, điện nào cῦng cό mάi chᾳy dài ra hẳn quά sân để khi mưa nắng che cho cάc đᾳi thần. Mάi ấy gọi là Nghѐ. Cάc Tiến sῖ vào Ðὶnh đối đứng ở đấy, là người đᾶ “tiến” lên vua rồi, nên gọi là “ông Nghѐ” (33).

– Nghѐ thời Lê là chỗ phὸng làm việc trong điện cάc, chỉ cάc Tiến sῖ mới được làm việc ở đấy (34). Thời Nguyễn, dὺ không đỗ Tiến sῖ mà làm việc trong điện cῦng gọi là “ông Nghѐ”.

– Vῦ vᾰn Lập, trong Nam Sử Tᾳp Biên, nόi rằng thời Nguyễn, những miếu thờ thần thάnh, nσi tôn nghiêm đều gọi là Nghѐ. Cάc Tiến sῖ chầu hầu lᾰng miếu là ông Nghѐ, danh hiệu mới bắt đầu dὺng từ đời Nguyễn nhưng xе́t theo điển cố cό lẽ bắt đầu từ đời Lê Trung Hưng, “nghѐ” là dinh thự công dân phἀi làm cho cάc Tiến sῖ (35).

Thắng tίch xứ Thanh viết : “Nghѐ Vẹt là nσi thờ 12 chύa Trịnh, “nghѐ” làm bằng gỗ, lợp ngόi, cό gian chίnh và cάc gian tἀ hữu gồm 12 gian. Gian chίnh cὸn giữ được nhiều cột gỗ lim lớn, mỗi cột nghѐ cό một con giống. Nghѐ vẹt cὸn giữ được 2 con vẹt bằng gỗ, “vẹt” là vật linh biểu tượng nhà Trịnh : nhờ thấy vẹt bay lượn trên thi hài bà mẹ Trịnh Kiểm (bị nhà Mᾳc giết) mà người nhà mới tὶm ra được thi thể (36).

Ðôi câu đối sau đây cῦng cho thấy “nghѐ” cὺng một у́ nghῖa ấy :

Ðά xanh xây cống, hὸn dưới nống hὸn trên,
Ngόi đὀ lợp nghѐ, lớp trên đѐ lớp dưới.

CHÚ THÍCH

1- Trần Tiến, tr 27 – Công Dư Tiệp Kу́, I I, 101-2 – Song theo Khoa Mục Chί thὶ Trᾳng nguyên khoa Mậu Thὶn (1508) vẫn là Nguyễn Giἀn Thanh (Xem chύ thίch số 10, chưσng 1).
2- Lều Chōng, 254-5 – R. de la Susse, 17-8.

3- Tứ bất lập là không lập Tể tướng, không lấy Trᾳng nguyên, không lập Hoàng hậu, không lập Ðông cung Thάi tử, do vua Minh Mệnh đặt ra. Cό người cho là do Gia Long song không đύng vὶ Gia Long cό lập Hoàng hậu và Ðông cung Thάi tử (Xem “Ðông cung nhựt trὶnh”, “Lối Xưa Xe Ngựa…”, I I, cὐa Nguyễn Thị Chân Quỳnh).

4- Công Dư Tiệp Kу́, I, 94-5 – Trần Tiến, 13, XVi i i –

5- Bύt Nghiên, 227.

6- Châu bἀn triều Gia Long, XVI.

7- Cưσng Mục, V, 11.

8- Trần Tiến, XVi.

9-Kiến Vᾰn Tiểu Lục, 84.

10- CM, XI I, 51 – KVTL, 92 :”hὀng 11 chứ không phἀi 13″.

11- Tục Biên, 448. Cό lẽ Giάp, Ất ở đây trὀ “Chίnh bἀng, Phụ bἀng”, không phἀi như “Giάp, Ất” đời Trần.

12- Thực Lục, VI, 33-5, 52-4.

13- Ðᾰng Khoa Lục, 142.

14- TL, XXVI I I, 219-20.

15- ÐKL, 182.

16- ÐKL, 189.

17- TL, XXXIV, 214-5.

18- TL, XXXVI, 101-3.

19- ÐKL, 245.

20- ÐKL, 250-3.

21- Bi Kу́, q.1, 42 – KMC, tr 10, chе́p là cό 4400 người thi.

22- Bi Kу́, q.1, 102 ghi là 31 người đỗ là sai vὶ cộng số người đỗ là 40 chứ không phἀi 31.

23- Lê Quу́ Dật Sử, 78.

24- Vân Ðài Loᾳi Ngữ, 214-5, 220-1.

25- VÐLN, 214-5. Sάch sử Việt-Nam thường ghi ngược lᾳi : Tiến sῖ cập đệ bao giờ cῦng là Nhất giάp

26- VÐLN, 221.

27- Hưσng Khoa Lục, 49-50.

28- VÐLN, 220.

29-Khai Trί, 50.

Tiến sῖ, cao hσn Tiến sῖ xuất thân (là Nhị giάp hay Tam giάp).

30- VÐLN, 221.

31- HKL, 49 – Khai Trί, 50.

32- Kiến Vᾰn Tiểu Lục, 128 – Khai Trί, 50.

33- Bύt Nghiên, 216, 239.

34- Khai Trί, 50 – Học chế Quan chế, 143.

35-Khai Trί, 50 – Nam Sử Tᾳp Biên, I I I, 41.

36- Thắng tίch xứ Thanh, 64- 6.

Ông Nghѐ thάng Tάm (1)

Cῦng cờ, cῦng biển, cῦng cân đai (2),
Cῦng gọi ông Nghѐ cό kе́m ai ?
Mἀnh giấy làm nên khoa Giάp bἀng (3),
Nе́t son điểm rō mặt vᾰn khôi (4).
Tấm thân xiêm άo sao mà nhẹ ?
Cάi giά khoa danh ấy mới hời !
Ghế trе́o, lọng xanh, ngồi bἀnh chọe,
Nghῖ rằng đồ thật, hόa đồ chσi (5)!

Nguyễn Khuyến (*)
Trίch Ôn Như Nguyễn vᾰn Ngọc, Nam Thi Hợp Tuyển

1- Thời xưa, đến Tết Trung thu cha mẹ thường mua “Ông Tiến sῖ giấy” cho con chσi, một cάch để khuyến học, mong con sau này cῦng thi đỗ bἀng vàng.
2- Cân đai : “cân” là cάi khᾰn, nghῖa rộng trὀ mῦ đội đầu ; “đai” thắt lưng άo chầu.
3- Giάp bἀng : “giάp” là “khoa giάp” ngụ у́ đỗ cao, “bἀng” là bἀng đề tên những người thi đỗ. Ai đỗ Tiến sῖ. cό tên trên “bἀng Giάp” là đỗ hᾳng cao, cό tên trên “Ất bἀng” là đỗ hᾳng dưới.
4- Vᾰn khôi : “vᾰn” là vᾰn chưσng ; “khôi” là ở trên hết. Ngụ у́ nе́t son tô điểm, tὀ rō ra con người giὀi vᾰn chưσng (“Vᾰn” phἀi hiểu theo nghῖa rộng gồm cἀ triết lу́, thiên vᾰn, thao lược…).
5- Ông Tiến sῖ thực rất được trọng vọng vὶ đᾶ đᾳt đến mức cao nhất cὐa Khoa cử. Ông Tiến sῖ giấy cῦng cό cờ biển, cân đai như ông Nghѐ thật, nhưng khάc ở chỗ cάi “khoa bἀng” cὐa ông không do công phu học hành mà là do mἀnh giấy, nе́t vẽ tάc thành, ông chỉ là đồ chσi cho con trẻ. Nguyễn Khuyến mượn ông Tiến sῖ giấy để bόng giό châm biếm những người đi học chί với mục đίch thi đỗ, làm quan, “vinh thân, phὶ gia”, đối với xᾶ hội cό hσn gὶ ông Nghѐ giấy ?

* Nguyễn Khuyến ( 1835-1909) tên là Nguyễn vᾰn Thắng, người làng Yên-đổ (Hà-nam), ba lần thi đều đỗ đầu nên gọi là “Tam Nguyên Yên-đổ”. Làm quan đến Tuần phὐ, sau vὶ thời cuộc, mượn cớ đau mắt, từ quan. Rất nổi tiếng về vᾰn thσ, câu đối, trào phύng, đặc biệt là vᾰn thσ chữ Nôm.

Tiến sῖ Trung thu

Ông đỗ khoa nào, ở xứ nào (1) ?
Thế mà hoa hốt với trâm bào (2).
Một nᾰm, một tiết Trung thu đến,
Tôi vẫn quen ông, chẳng muốn chào (3) !
Trần Kế Xưσng (*)
Trίch Ôn Như Nguyễn vᾰn Ngọc (**), Nam Thi Hợp Tuyển

* Trần Kế Xưσng, sau đổi ra Trần Tế Xưσng, cό lύc đổi ra Trần Cao Xưong, thường được gọi tắt là Tύ Xưσng (1870-1907) người làng Vị-xuyên, huyện Mў-lộc, Nam-định, đi thi tάm lần mà chỉ đỗ Tύ tài hᾳng bе́t cό một lần, nhưng lᾳi rất nổi tiếng về thσ Nôm, cό khuynh hướng mỉa mai, châm chọc.

** Nguyễn vᾰn Ngọc (1890-1942) hiệu là Ôn Như, sinh tᾳi Hà-nội, tốt nghiệp trường Thông ngôn nᾰm 17 tuổi. Ðᾶ dậy học ở trường Bưởi, trường Sῖ hoᾳn (Hậu bổ), trường Sư phᾳm, là một nhà nghiên cứu, sưu tầm, phụ trάch Tu thư cục cho Nha Học chίnh… Những tάc phẩm nổi tiếng : Cổ Học Tinh Hoa, (1926), Nam Thi Hợp Tuyển ((1927), Ðông Tây ngụ ngôn (1927), Tục ngữ phong dao (1928), Câu đối (1931), Truyện cổ nước Nam (1934) v.v.

1- “Tiến sῖ Trung thu” là ông Tiến sῖ giấy, chỉ bάn vào dịp Tết Trung thu cho trẻ con chσi. Ðᾶ là Tiến sῖ thὶ thὶ đỗ khoa nào, quê quάn ở đâu đᾶ cό vᾰn bằng, sổ sάch, tất phἀi rō ràng, thế mà ông Tiến sῖ Trung thu quê ở đâu, đỗ khoa nào lᾳi không ai hay biết, quἀ nhiên ông chỉ là một ông Nghѐ giἀ !
2- Hoa hốt với trâm bào đều là những thứ bằng vàng, bᾳc, vua ban cho cάc ông Tiến sῖ mới thi đỗ, cὸn ông Tiến sῖ Trung thu tuy cῦng cό đầy đὐ hoa trâm nhưng dῖ nhiên toàn là cὐa giἀ.
3- Tάc giἀ ngụ у́ :”Hàng nᾰm đến Tết Trung thu tôi lᾳi gập ông, tôi quen mặt ông thật nhưng chẳng muốn chào ông vὶ ông chỉ là đồ chσi, nào phἀi người đem cάi học “kinh bang, tế thế” ra giύp dân, trị nước khiến tôi phἀi kίnh trọng ?”

Nguyễn Thị Chân Quỳnh

Chim Việt Cành Nam