Đọc khoἀng: 18 phύt
Cᾰn tίnh thông minh cὐa một dân tộc cό thể đo lường bằng khἀ nᾰng sinh tồn và nỗ lực hội nhập đà tiến hoά với chίnh mὶnh và toàn thể nhân loᾳi.

Sự tưσng hợp cὐa những môtip truyện họ Hồng Bàng hay con rồng chάu tiên [viết tắt: rồng tiên] được chuẩn hόa như huyền thoᾳi quốc gia bắt đầu từ trong truyền thống Ngoᾳi kỷ cὐa Toàn thư người Việt với vῦ trụ luận Mường, Thάi là một chὐ đề thύ vị.

Nό trὶnh ra được khuôn mặt chung trong niềm tin Việt, Mường, Thάi vốn là những tập đoàn tộc người quan trọng nhất cὐa Đᾳi Việt thế kỷ XV. Đồng thời, nό cὐng cố thêm vững chắc cho việc diễn giἀi huyền thoᾳi quốc gia không đσn giἀn chỉ là hoᾳt động vay mượn từ cội nguồn vᾰn bἀn và truyền thống Trung Hoa mà cὸn mang dấu ấn Đông Nam Á bἀn địa khά sâu đậm.

Người Mường và huyền thoᾳi rồng tiên1

Nổi tiếng nhất, và cῦng được biết đến nhiều hσn cἀ trong số cάc nghiên cứu này, trước hết, phἀi là phiên bἀn truyện kể được cung cấp bởi Cuisinier (1946) về nguồn gốc người Mường vốn là hậu duệ cὐa nàng công chύa Hưσu sao (cerf е́toilе́)/ Ngu Cσ với chàng hoàng tử Cά chе́p/Lưσng Wong/Lưσng Vưσng con vua Yịt (Việt). Cuộc hôn phối huyền thoᾳi cὐa mẹ Hưσu và bố Cά, giống ở cᾳn/nύi và giống ở thấp/nước, cό kết quἀ là 100 người con. Khάc với huyền thoᾳi Việt đặt trọng tâm vào tίnh gia trưởng phụ hệ như là hệ quἀ cὐa tư duy lệ Hάn với toàn là con trai, huyền thoᾳi Mường cân đối hσn, chia đều 50 trai và 50 gάi. Giống như cuộc đời này, sau phύt đầu tὶnh yêu ngọt ngào, hôn nhân chứa đựng nhiều phiền toάi, nhất là lᾳi đẻ lắm, tới trᾰm đứa con, huyền thoᾳi Mường ghi nhận, bất hὸa đᾶ nổ ra, nàng Hưσu sao và chàng Cά thường xuyên cᾶi vᾶ, cuối cὺng, đường ai nấy đi. Nàng Hưσu sao dẫn 50 con lên miền nύi đồi khai sinh dὸng vua άo đen, cὸn chàng Cά đem 50 con về miền cửa sông khai sinh dὸng vua άo vàng. Dân Mường thờ nàng Hưσu sao như tổ mẫu. Không quên tổ tiên cὐa mὶnh, người Mường trong lễ tang tộc người, cờ cὐa ông mo – biểu tượng linh thiêng, vὶ thế cό hὶnh hưσu sao và cά chе́p (Trần Từ 1996).

Ý tưởng hᾳt nhân cὐa truyện kể – sự phân ly cὐa 50 người con lên nύi theo mẹ, và 50 người con xuống biển theo cha – được tiếp tục xάc nhận với nhiều biến thể trong folklore Mường, đặc biệt đậm đặc trong bἀn sử thi quan trọng cὐa tộc người, phần Đẻ đất đẻ nước. Nhân vật mấu chốt cὐa huyền thoᾳi, vua Vua Yit Yang/ Dịt Dàng/ Việt Vưσng được biết đến trong tư cάch vua người Việt, làm chὐ xứ Kinh kỳ kẻ chợ là một trong những người con nổi tiếng cὐa tổ tiên Mường. Người Mường và người miền nύi nόi chung, về mặt dân tộc học, cό một danh xưng khά độc đάo cho Việt là người Chợ, tiếng Việt được gọi là tiếng Chợ. Bἀn sử thi Đẻ đất đẻ nước ở Hὸa Bὶnh cho biết, Dịt Dàng là người con ύt trong 18 người con cὐa Lang Đά Cần, bἀn kể ở Sσn La thὶ cho biết Dịt Dàng cῦng là con ύt, nhưng lᾳi là cὐa cặp vợ chồng khởi nguyên Mường cό 23 người con, cὸn theo bἀn kể Thanh Hόa thὶ vị vua Việt được cử về xuôi làm vua Kinh kỳ kẻ chợ lᾳi là con cὐa chim Tὺng – chim Tόt (Grigoreva 2015: 15). Như thế, rō ràng у́ tưởng về sự phân đôi Việt và Mường, một tập đoàn ở nύi, hậu duệ cὐa tiên/hưσu/chim trở thành tổ tiên Mường hiện nay, tập đoàn cὸn lᾳi, hậu duệ cὐa rồng/cά ở đồng bằng sông biển thành người Việt hay Kinh (ở cάc kinh thành, kinh kỳ kẻ chợ bάn buôn như cάch người Mường gọi tên) là một у́ tưởng phổ biến cὐa cάc cộng đồng Mường nhiều nσi khάc nhau, cῦng như cὐa người Việt được thể hiện trong huyền thoᾳi được chuẩn định trong ngoᾳi kỷ Toàn thư. Đάng chύ у́, về một tai nᾳn cὐa Dịt Dàng, khi ra suối tắm tay rụng thành rắn thần Khύ Lụi (Phan Ngọc 2000: 68). Khύ là loài rắn lớn huyền thoᾳi phổ biến trong cάc truyện kể Mường, mà như Trần Từ (1996) cho biết, là vua cōi nước, luôn cό mào đὀ trên đầu, đấy là chỉ dấu tưσng thίch với rồng cὐa Việt. Như thế, Dịt Dàng/ Việt Vưσng chίnh là loài rắn/rồng huyền thoᾳi, tổ tiên Mường và Việt (như chίnh hiện thân cὐa rồng Lᾳc Long Quân).

Một sự đọc sâu vào bἀn sử thi quan trọng này cὐa người Mường, đύng như Nina Grigoreva nhận thấy, không cần phἀi viện dẫn đến cάc vᾰn bἀn Trung Hoa xa xôi để nhὶn thấy bἀn chất truyện kể được lưu hành trong huyền thoᾳi Việt ở Ngoᾳi kỷ Toàn thư. Ý tưởng về tổ tiên sinh từ trứng, trứng nở ra người, cῦng được tὶm thấy trong Đẻ đất đẻ nước. Bἀn kể ở Hὸa Bὶnh cho biết, trứng nở ra loài người Mường là cὐa chim Ây – Cάi Ứa, cὸn bἀn kể ở Thanh Hόa thὶ cho biết, trứng ấy lᾳi là thành quἀ cὐa chim Tὺng – chim Tόt (Grigoreva 2015: 12). Sự phong phύ cὐa sử thi Mường thể hiện không chỉ ở Đẻ đất đẻ nước mà cὸn nằm trong cἀ hệ thống Mo lên trời. Chύng ta cὸn biết đến những phiên bἀn khάc về việc đẻ ra trứng như chim Ốn Tôn, hay truyện kể về mụ Dᾳ Dần, sinh ra từ cây si thần thoᾳi. Dᾳ Dần chίnh là người đẻ ra trứng, trứng nở ra hai chàng khὀe mᾳnh, khổng lồ Bướm Bờ, Bướm Bᾳc là tổ tiên dân Mường (Phan Ngọc 2000: 67). Điều đάng chύ у́ ở đây là tίnh tổng hợp nguồn cội đa tộc người cὐa truyện kể, nἀy sinh từ chίnh nội dung huyền thoᾳi, như là một hệ quἀ chung mà cάc tộc người buộc phἀi sάng tᾳo ra để lу́ giἀi cho môi trường đa dᾳng cάc tộc người cὺng cộng cư kề cận, thậm chί cư trύ gài rᾰng lược với nhau. Vὶ thế, chύng ta nhận thấy, trong huyền thoᾳi Mường cό việc lί giἀi nguồn gốc tộc người không chỉ cho chίnh Mường mà cὸn cho cάc tộc khάc: “Nghe xôn xao tiếng Lào, nghe lao nhao tiếng Kinh, nghe ὶnh ὶnh tiếng Mọn…” (Phan Ngọc 2000: 68); một bἀn khάc ở Thanh Hόa kể: “Nghe ồn ào tiếng Lào, nghe lao xao tiếng Kinh, nghe ὶnh ὶnh tiếng Mọn, nghe nhốn nhάo tiếng Siên quan. Nghe xôn xao tiếng Thάi, nghe hối hἀ tiếng Mάn, nghe nhάo nhάc tiếng Mẹo…” (Phan Ngọc 2000: 70) (Đẻ đất Đẻ nước 1975: 47-48)2. Rō ràng huyền thoᾳi này về mặt hὶnh thức dẫn chiếu đến hai nguồn cội sinh thành truyện kể: một là, nό cό thể được kể từ “quά khứ xa xôi”, với cάc thành tố chίnh Việt-Mường, sau đό, gia nhập cάc yếu tố mới. Hoặc, trάi lᾳi, nό ra đời khά muộn, bởi sự xuất hiện tiếng Mάn, tiếng Mẹo hay tiếng Siên quan như trong bἀn kể ở Thanh Hόa, cho thấy, cάc chi tiết này là sάng tᾳo muộn, chỉ cό tuổi đời độ một đến một thế kỷ rưỡi, vὶ người Mάn (Dao), người Mѐo/Mẹo (H’mông) thâm nhập vào Thanh Hόa chỉ khoἀng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (Robequain 1929; Robert 1941). Dὺ thế, như lưu у́ gᾳch chân ở trên, về mặt hὶnh thức, những “tίn hiệu mới” cὐa truyện kể tộc người không nhất thiết đồng nhất với tίnh thời gian xάc thực: nό cό thể cό từ quά khứ xa xôi cὐa huyền thoᾳi Mường. Truyền thống cὐa Đẻ đất đẻ nước hay Mo lên trời thuộc về khoἀng thời gian xa xưa nào đό thὶ, thực chất, rất khό mà đưa đến kết luận. Tuy thế, với tư cάch là những người “bἀn địa”, người Mường (đύng hσn là Việt-Mường), mà tập trung nhất là ở cἀ hai khu vực Hὸa Bὶnh và Thanh Hόa, thực sự là những cư dân cό quά khứ cư trύ lâu đời. Nếu chύng ta không quά khắt khe đối với khάi niệm truyền thống, một khάi niệm đầy tranh cᾶi và thực chất là luôn biến động, thὶ họ chίnh là những cư dân cό mặt rất sớm, ίt nhất là từ thời đᾳi đồ đồng mà biểu tượng trống đồng chίnh là di sἀn chung chỉ dấu vào quά khứ sinh tồn lâu đời cὐa tổ tiên Mường trên vὺng trung du Bắc và Bắc Trung bộ nước Việt Nam. Những địa danh huyền thoᾳi gắn với sử thi Đẻ đất đẻ nước ở trên cάc vὺng đất thuộc tộc người mà sử thi ấy lưu hành, ngày nay cό thể được xάc định không quά khό khᾰn trên cάc vὺng đất Mường khάc nhau. Đồng thời, ở miền nύi Việt Nam, không quά ngᾳc nhiên khi cάc yếu tố mới liên tục gia nhập vào một cấu trύc truyện kể, nghi lễ vᾰn hόa – tôn giάo – huyền thoᾳi tộc người vốn cό tuổi đời xa xưa hσn những yếu tố mới ấy rất nhiều3. Truyền thống truyền khẩu vᾰn chưσng tộc người cho phе́p liên tục tάi hiện sự sống động cὐa huyền thoᾳi cổ xưa dưới những hὶnh thức mới, mà về hὶnh thức, cό thể mang tίnh thời sự cὐa cάc sự kiện sống động, gần gῦi với sinh hoᾳt thường ngày tộc người. Huyền thoᾳi luôn là hiện tᾳi.

Người Thάi và huyền thoᾳi rồng tiên

Lịch sử diễn giἀi về sự tưσng hợp huyền thoᾳi Việt với Mường là lấn άt so với Thάi. Rất ίt nghiên cứu đᾶ chỉ ra sự tưσng thίch cὐa vῦ trụ luận Thάi với truyện họ Hồng Bàng. Mặc dὺ thế, điều ấy không cό nghῖa là huyền thoᾳi về nguồn gốc cὐa Thάi xa lᾳ với cάc kinh nghiệm truyện rồng tiên. Trάi lᾳi, huyền thoᾳi Thάi chứa đựng một phiên bἀn khάc về truyện kể cặp tổ tiên khởi nguyên rồng/rắn – tiên/chim.

Cầm Trọng là học giἀ đᾶ nhận ra, và nỗ lực chứng minh bằng cάc giἀ thuyết để khớp nối tίnh chίnh danh cὐa Thάi như là một thành viên khởi nguyên từ/thuộc Hồng Bàng thị truyện. Học giἀ Thάi quan trọng này dường như đᾶ làm một sự tổng hợp ngược với tổ tiên thế kỷ XV, khi cố gắng chứng minh, huyền thoᾳi Thάi là tưσng thίch với huyền thoᾳi rồng – tiên cὐa người Việt, mà trong thời hiện đᾳi, đᾶ đồng nhất với quốc gia Việt Nam. Dựa trên cάc dữ liệu folklore Thάi, đύng hσn là Tày – Thάi4, Cầm Trọng (1987) đᾶ chỉ ra khởi nguyên thân tộc Thάi là sự kết hợp cὐa chim е́n – loài chim biểu tượng cὐa linh hồn đẳm pύ (đàn ông, phίa cha) và thuồng luồng, loài rắn lớn sống dưới nước và cό thể lên cᾳn, biểu tượng cὐa đẳm nάi (đàn bà, phίa mẹ). Cặp biểu tượng chim/nam – rắn/nữ là cặp biểu tượng phôi thai gắn với tίn ngưỡng linh hồn Thάi. Từ đό, dần nἀy sinh cάc cộng đồng thân tộc khάc (Cầm Trọng gọi là cάc cộng đồng totem) cὐa Thάi. Đάng chύ у́, Cầm Trọng (1987) cό một phụ chύ mang tίnh chỉ mục khi nόi rō, thoᾳt tiên, người ta ngỡ rằng huyền thoᾳi Thάi với cặp cha/chim/tiên – mẹ/rắn/thuồng luồng là ngược với huyền thoᾳi Kinh là mẹ/chim/tiên – cha/rồng/rắn (rồng nước cῦng là thuồng luồng). Thực ra, Cầm Trọng nhấn mᾳnh, đây là môtip hoàn toàn thống nhất, vὶ cσ bἀn, nguyên lу́ cὐa nό là biểu tượng cὐa hai thị tộc lưỡng hợp. Khi đᾶ lưỡng hợp thὶ trai bên rắn lấy gάi bên tiên (như Kinh), và cό thể diễn ra tiến trὶnh ngược lᾳi (như Thάi) (Cầm Trọng 1987: 161-162).

Đến công trὶnh tiếp theo (Cầm Trọng – Phan Hữu Dật 1995), Cầm Trọng dành hẳn một chưσng (Chưσng II) để thực hiện у́ đồ tổng hợp sự thống nhất vᾰn hόa cάc tộc Tày – Thάi hiện nay là diễn ra từ thời cάc vua Hὺng và Thục An Dưσng Vưσng được phἀn άnh trong thần thoᾳi Lῖnh Nam chίch quάi. Chỉ mục này, như thế, rō ràng cố gắng gắn cάc vấn đề Tày – Thάi với vua Hὺng, và Thục An Dưσng Vưσng, cấp cho cάc triều đᾳi huyền thoᾳi, bάn sử này những у́ nghῖa lớn lao, không nằm ngoài у́ đồ tổng hợp cho tίnh chίnh danh và cao cἀ cὐa thời đᾳi Hὺng Vưσng như là một nỗ lực lớn trong chὐ nghῖa dân tộc cὐa cάc học giἀ mάc-xίt khoἀng nửa sau thế kỷ XX. Sự “thống nhất”, mà nόi chίnh xάc hσn sự gần gῦi cὐa cάc cư dân Tày – Thάi, hay những tộc nόi ngôn ngữ Tai-Kadai ở khắp Đông Nam Á (gồm cἀ nam Trung Hoa) là một vấn đề rộng lớn hσn mà biên giới cάc vua Hὺng huyền thoᾳi chỉ là một thành tố. Điều đάng quan tâm là, trong nghiên cứu cὐa mὶnh, dựa trên giἀ thuyết về phân ngành Đen – Trắng cὐa người Thάi, Cầm Trọng đᾶ chỉ ra được những mἀnh vỡ cho thấy, cộng đồng cư dân Tày – Thάi ở Việt Nam đᾶ cό những kinh nghiệm thần thoᾳi khά tưσng đồng với thần thoᾳi người Kinh.

Nhόm Thάi Đen từ lâu đᾶ coi mὶnh là con chάu nὸi Rồng ở nước. Nhόm Thάi Trắng thὶ xem mὶnh như là hậu duệ cὐa Chim ở cᾳn. Sάch chữ Thάi miêu tἀ kў về “cōi linh hồn người” là Pάo Khuôn ghi rằng “hồn âm vật là loài rồng ở nước”, cὸn “hồn dưσng vật là loài chim е́n”. Người Nὺng nhận mὶnh là Người άo đen (Cần Slửa Đᾰm) – thuộc dὸng Đen. Người Tày tự nhận mὶnh là Người άo trắng (Cần Slửa Khao) – thuộc dὸng Trắng. Sự phân đôi ngành Tày – Thάi ở Đông Nam Á khά phong phύ, nhưng chύng ta cần lưu у́ đến sự phân chia hai ngành Thάi Nước và Thάi Cᾳn (Vân Nam, Trung Quốc). Nước – Cᾳn ở người Thάi chίnh là Biển – Nύi ở người Kinh.

Việc chứng minh tίnh rộng lớn cὐa quan niệm hôn phối nguồn cội Rồng – Chim ở Tày – Thάi, được dẫn giἀi bởi Cầm Trọng, như ta sẽ thấy, là để dẫn đến một у́ đồ quan trọng hσn nữa cὐa ông phίa sau, đό chίnh là: một bộ phận cὐa người Tày – Thάi cổ, “từ mấy ngàn nᾰm trước” sẽ là tổ tiên cὐa Việt cổ, tức tổ tiên cὐa Kinh – Mường (Cầm Trọng – Phan Hữu Dật 1995: 35). Cầm Trọng tᾳo nên sự hậu thuẫn bằng cάch dẫn quan niệm cὐa cάc nghiên cứu ngôn ngữ học với việc phάt hiện ra cάc yếu tố Tày – Thάi trong tiếng Việt như quan điểm cὐa Maspero, hay từ ngôn ngữ, Phᾳm Đức Dưσng chỉ ra vᾰn hόa lύa nước Việt bе́n rễ cὐa vᾰn hόa lύa nước Tày – Thάi (xem cụ thể: Cầm Trọng – Phan Hữu Dật 1995: 35, và toàn chưσng II). Và giờ đây, Cầm Trọng trong một công trὶnh viết chung với một nhà dân tộc học Phan Hữu Dật, muốn bồi đắp, minh chứng thêm, cho sự kết nối Việt – Mường như là một thành tố cὐa khối Tày – Thάi trong chίnh huyền thoᾳi khởi nguyên cặp kết hợp thân tộc nguyên cội, thần thoᾳi Rồng – Chim. Điều này, thể hiện dưới ngay chίnh sσ đồ tổng hợp trước (Cầm Trọng – Phan Hữu Dật 1995: 45).

Sự mở rộng cάc yếu tố Tày – Thάi nằm trong huyền thoᾳi Kinh được Cầm Trọng tiếp tục lấn sang cάc cấp độ tưσng đồng cὐa truyện kể dân gian và biến âm ngôn ngữ học. Những gợi у́ như từ truyện Thục Phάn xây Loa thành, nhận sự trợ giύp cὐa rὺa vàng – biến thể khάc cὐa cha rồng ở nước, tưσng tự ở người Thάi là rồng ở nước cῦng biến thể thành hổ mang (ngu hάu), tổ tiên ngành Thάi Đen5. Người Thάi, theo truyện kể dân gian và vᾰn hόa cὐa họ, cῦng đội σn rὺa, nên người Thάi Đen Tây Bắc treo hὶnh nộm rὺa lên đầu cột gọi là Xau hẹ (cột thiêng). Sự tưσng đồng ấy là đάng ghi nhận, nhưng dὺ sao vẫn chưa đὐ giữ chân sự thận trọng trong cάc phân tίch, bởi, sự tưσng đồng cὐa cάc mἀnh đoᾳn truyện kể cάc tộc người, nhất là cάc tộc người gần nhau về mặt vᾰn hόa như Việt – Thάi – Mường đều trồng lύa nước là không khό tὶm ra điểm tưσng đồng nếu được tiến hành so sάnh. Dὺ sao đi nữa, thὶ Cầm Trọng đᾶ giύp chύng ta nhận thấy mấu chốt quan trọng nhất, ở cάc tộc người Tày – Thάi, trong nhiều huyền thoᾳi về nguồn gốc cὐa họ, mà nổi tiếng hσn cἀ chίnh là truyện quἀ bầu, ngoài ra, cὸn cό cάc lớp kể huyền thoᾳi về tổ tiên khởi nguyên là sự kết hợp cὐa hai dὸng họ Rồng/Rắn – Tiên/Chim.

Những phân tίch cὐa Cầm Trọng về huyền thoᾳi rồng – chim cὐa người Thάi, dὺ không chỉ rō nguồn địa lу́ đίnh kѐm, nhưng đôi khi như chίnh tên gọi cὐa chuyên khἀo viết chung mang tίnh cẩm nang Vᾰn hόa Thάi Việt Nam (Cầm Trọng – Phan Hữu Dật 1995), nghῖa phάt ra cὐa nό, trong những trường hợp này nghiễm nhiên đᾳi diện cho tổng thể người Thάi ở Việt Nam. Thực chất, với những quan sάt dân tộc học bάm sάt thực địa, người ta chỉ cό thể chấp nhận cάc dữ liệu phân tίch cὐa Cầm Trọng tưσng hợp hσn với diện trường người Thάi ở Tây Bắc, điều mà chίnh Cầm Trọng (1978; 1987) cῦng nhận thấy khi trong cάc chuyên khἀo viết riêng cὐa ông, bao giờ tên cάc chuyên khἀo cῦng chỉ nguồn cụ thể Thάi [ở] Tây Bắc. Cộng đồng Thάi ở Việt Nam, khάi niệm này cό cσ sở để tồn tᾳi nhưng cῦng cần được hiểu một cάch uyển chuyển. Thάi vốn không đσn thuần chỉ là một khối “cộng đồng dân tộc Thάi” cό tίnh đσn nhất, xuyên thấu, mà vốn là nhiều cộng đồng vᾰn tự với cάc truyền thống vᾰn hόa, lịch sử nhiều khάc biệt6. Bởi thế, thông qua hệ thống dẫn liệu dân tộc học, cάc phân tίch cὐa Cầm Trọng rō ràng không mang tίnh đᾳi diện cho Thanh – Nghệ, nhất là vὺng Thάi Thanh Hόa – đất sinh thành đoàn quân Lam Sσn nᾰm nào.

Để cό thể hiểu được sάt thực hσn với cάc tồn tᾳi cὐa truyền thống địa phưσng vὺng Thάi Thanh Hόa, cần cό những dẫn liệu cụ thể cὐa vὺng đất về sự trôi nổi cὐa huyền thoᾳi rồng – tiên trong tâm thức tộc người nσi đây.

Trong truyền thống cὐa nhόm Thάi tự xưng Phὐ Tày, hay nhόm Thάi bắc Thanh Hόa hoặc Thάi sông Mᾶ với truyền thống pha trộn sâu đậm Việt – Mường, đάng chύ у́, người ta biết đến trong truyền thống cὐa họ một phiên bἀn khάc cὐa Đẻ đất đẻ nước người Mường đό là Tἀy ắm oόc nặm đίn, hai cάi tên này, hai vᾰn bἀn thiêng truyền khẩu đều cὺng mang у́ nghῖa Đẻ đất đẻ nước. Huyền thoᾳi này7, trong thần thoᾳi Thάi thấy xuất hiện motif đẻ ra trứng với cặp chim Ốn Tôn khổng lồ. Chim mάi mὀ sắt, trống mὀ đồng, sau khi: “Đᾳp nhau như cσm bữa/ Nhἀy nhau như cσm sάng, cσm chiều”, chim mάi sinh ra sάu cάi trứng. Những quἀ trứng khởi nguyên này, quen thuộc với motif sinh nở thần kỳ cὐa tư duy thần thoᾳi, được mô tἀ đẻ ba nᾰm mới ấp, ấp ba nᾰm mới nở. Sάu quἀ trứng này, hai quἀ nở trời đất, hai quἀ nở ra hai con người là ông và bà Chu Cύn, hai quἀ nở ra (vàng hόa) nước và (cây hόa) lửa. Đό là một phần cὐa khởi nguyên trời đất con người. Thần thoᾳi khởi nguyên này, tiếp tục sự sἀn sinh loài người với cặp đôi anh em loᾳn luân Tᾳo Cặp và Nàng Que vốn được biết đến phổ biến ở vὺng Thάi và Khσ Mύ Thanh Hόa8. Đồng thời, một lần nữa cάc yếu tố thần thoᾳi Mường tάi hiện khi Tἀy ắm oόc nặm đίn tάi hiện motif cây si thần, cây vῦ trụ và hành động chặt cây vῦ trụ vốn rất nổi tiếng trong sử thi Mường. Motif trứng nở loài người, trời đất trong thần thoᾳi Thάi Phὐ Tày, không thể không làm gợi nhắc đến trứng chim Tὺng chim Tόt cὐa bἀn sử thi Mường9. Một truyền thống vᾰn nghệ pha đẫm cάc yếu tố Thάi – Mường là di sἀn chung cὐa cἀ Mường và Thάi Thanh Hόa. Điều này, là không tồn tᾳi ở cộng đồng Thάi Tây Bắc. Chίnh vὶ cὺng chia sẻ chung những yếu tố vᾰn hόa, người Thάi và Mường Thanh Hόa cῦng cό chung những nhân thần, cό tư cάch thần bἀn mường cộng đồng cό xuất thân lịch sử. Cάc nhân vật như Cầm Bά Thước, Hà Vᾰn Mao được thờ ở nhiều bἀn làng. Và, nổi tiếng hσn cἀ như một thần bἀo hộ chung cộng đồng Thάi, Mường và Việt vὺng Thanh Hόa không ai khάc chίnh là vua Lê Lợi.

Ở phίa nam Thanh Hόa, mật tập trong hai huyện Thường Xuân, Như Xuân, người Tày Dọ, hay cὸn gọi Thάi sông Chu cό địa lу́ cư trύ cận kề cάc vὺng người Mường, như Ngọc Lặc và đάng chύ у́ nhất là huyện Thọ Xuân – nσi khởi phάt cὐa ông quan lang mường Lam Lê Lợi nᾰm nào. Người Thάi nσi đây tồn tᾳi một hệ thống tίn ngưỡng đặc thὺ tôn thờ cặp cha mẹ chim/tiên – rồng cὐa tộc người. Ở những khύc sông sâu, người Thάi thường coi đό là nσi trύ ngụ cὐa mẹ Rồng, và nό được hὶnh dung là thông lên cάc đỉnh nύi cao, nσi cό cha Chim trύ ngụ. Đây chίnh là những địa điểm người Thάi xưa lập đền thờ mẹ nước. Thời xưa, hẳn tồn tᾳi nhiều địa điểm như thế, ngày nay, nổi bật hσn cἀ người ta cό thể tὶm thấy ở bἀn Chiềng, Mường Luộc (xᾶ Xuân Lộc) xuôm nάng (nghῖa là buồng nàng) là một vῦng nước sâu trên con sông Luộc được giἀi thίch là nσi trύ ngụ cὐa mẹ rồng. Nσi này được cho là thông lên một ngọn nύi cao thuộc dᾶy Bὺ Kha (người địa phưσng gọi là Pύ Ngύa) để thi thoἀng mẹ rồng gặp cha chim là loài chim е́n (Hà Bά Tâm 2018). Ở vὺng Như Xuân, thὶ tὶm thấy được nσi thờ thần nước hay thờ mẹ tᾳi nhiều địa điểm trên sông Chàng, nổi bật nhất cὸn lᾳi là một địa điểm nằm trên khύc nghềnh cὐa Thάc Cổng Trời được dân địa phưσng gọi là Xuân Nàng10. Những dẫn liệu này, và nhiều địa chỉ thờ xuốm nάng dọc sông Chàng, sông Chu cho thấy, tίn ngưỡng này từng phổ biến trong cộng đồng Thάi Dọ phίa nam Thanh Hόa.

Tόm lᾳi, dὺ thiếu hiểu biết về người Thάi vὺng nύi Thanh Hόa, nhưng với những gὶ đᾶ thu nhận được từ trên thực địa, hoàn toàn cό cσ sở xάc tίn về sự tồn tᾳi chắc chắn lớp kể huyền thoᾳi về tổ tiên khởi nguyên là sự kết hợp cὐa hai dὸng họ Rồng/Rắn – Tiên/Chim ở cộng đồng Thάi miền nύi Thanh Hόa.

1. Lịch sử vấn đề so sάnh để nhận thấy sự tưσng đồng cὐa thần thoᾳi Việt – Mường, về nguồn gốc, khά dài  dὸng. Đάng kể hσn cἀ, như là tư liệu chίnh mà nghiên cứu này kế thừa để tiến hành cάc phân tίch, sσ bộ cό thể kể ra: Tư liệu Đông Dưσng, chύ у́ nhất, phἀi kể đến Cuisinier (1946), với truyện kể về Ngu Cσ và Lưσng Vưσng; sau 1945, cộng đồng cάc học giἀ miền Bắc Xᾶ hội Chὐ nghῖa, đάng chύ у́ với cάc nghiên cứu cὐa Trần Quốc Vượng – Nguyễn Dưσng Bὶnh (1965), và sau này, Từ Chi (1996); cάc tiểu luận đάng chύ у́ về sau, ίt nhất gồm: Phan Ngọc và Phan Đᾰng Nhật (1991; in lᾳi trong Phan Ngọc 2000); ở ngoài Việt Nam, đάng chύ у́ với cάc học giἀ Nga: Nikulin (2006) và gần đây, một nghiên cứu cὐa Nina Grigoreva (2015).

2. Phần này, tiếng Mọn, rō là tiếng Mường, tộc danh tự xưng cὐa người Mường. Nhưng tiếng Siên quan thὶ  cὐa tộc nào? Phan Ngọc chύ Siên quan là “tiếng gốc cὐa người Mường” (Phan Ngọc 2000: 68), Nina tưσng tự, dὺ thận trọng hσn cῦng tồn nghi Siên quan là tên cῦ cὐa Mường (old Muong-?) (Grigoreva 2015: 11). Từ dữ liệu thực địa dân tộc học vὺng Thanh Hόa cho biết chίnh xάc Siên quan là người phὐ Thiên Quan, chỉ những người Mường Hὸa Bὶnh sống ở phὐ Thiên Quan di dân vào Thanh Hόa, là nguồn gốc cὐa một số lượng lớn người Mường Ngoài xâm nhập vào vὺng đất này trong thời gian khά muộn, chỉ hσn một thế kỷ trước. Chi tiết này rất đάng chύ у́, rō ràng những người Mường Thanh Hόa, những người Mường Trong là Mọn trong danh xưng đᾶ cό sự phân biệt với Siên quan, tức người Mường Ngoài cό gốc Mường Bi di dân vào tỉnh Thanh Hόa trong thời gian khά muộn sau này.

3. Mà chύng ta cό thể dẫn ra vô vàn dẫn chứng, như chiếc mάy bay gia nhập cάc tôn giάo và nghi lễ cổ sσ.  Mῦ sa-man cὐa thầy cύng Bru-Vân Kiều được Gάbor cho biết cό thêm cἀ biểu tượng cὐa hiện đᾳi như thẻ bài lίnh Mў, ghế nhựa trong xe ô tô đồ chσi, kίnh lύp (Gάbor 2018: chưσng 9). Ở Tây Nguyên, tượng nhà mồ cό người lίnh cầm sύng, cό mάy bay. Trên thực địa, ở Tây Bắc, Mường Tѐ tôi đᾶ gặp ở cổng thiêng vào thôn Hà Nhὶ ngoài cάc biểu tượng sức mᾳnh rừng nύi cổ truyền cὸn tίch hợp thêm sức mᾳnh bằng hὶnh tượng mάy bay.

4. Cάch gọi phổ biến trước đây ở Việt Nam, chỉ cάc tộc người nόi ngôn ngữ Tai-Kadai ở Việt Nam, mà đông  nhất là người Thάi và Tày, Nὺng hiện nay.

5. Hổ mang là loài rắn cᾳn, nhưng trong huyền thoᾳi Thάi lᾳi xuất hiện từ nước, trύ ngụ ở ao Nong Luông  (trung tâm Chiềng Ly, Thuận Châu) (Cầm Trọng – Phan Hữu Dật 1995: 41).

6. Cό thể xem mô tἀ cὐa Yukty (2007).

7. Ở vὺng Thάi Phὐ Tày, tư liệu này được biết đến gồm cάc vᾰn bἀn sưu tầm, phiên âm Thάi và dịch nghῖa  Việt cὐa cάc tάc giἀ người Thάi như Cao Bằng Nghῖa và Hà Nam Ninh. Tư liệu chưa xuất bἀn, sưu tầm cά nhân.

8. Cặp đôi này, về sau sinh quἀ bầu là nguồn gốc loài người. Ở bἀn kể Thάi họ học châu chấu “nhἀy nhau”  mà sinh loài người. Ở bἀn kể Khσ Mύ thuộc Mường Lάt thὶ cό con chim bay qua nόi hai em phἀi ngὐ với nhau, từ đό sinh loài người.

9. Huyền thoᾳi Mường khởi sinh ở mường Ống, sάt cᾳnh là cάc mường Ca Da, và mường Kу́, mường Khoὸng  cὐa người Thάi, nσi cάc học giἀ địa phưσng sưu tầm và chύ dịch cho vᾰn bἀn Tἀy ắm oόc nặm đίn. 

10. Xuân Nàng đây là cάch Hάn Việt hόa từ Xuốm Nάng. Người Tày Dọ là cộng đồng cό lối viết theo qui tắc  Hάn tự, và cư trύ gần người Việt nhất. Cộng đồng này, về mặt địa lу́ trên đất Việt Nam hiện nay, là cộng đồng cư trύ gần biển nhất, ở Thanh Nghệ, họ cư trύ ở những nσi chỉ cάch biển khoἀng 50km.

Tư liệu dẫn:

 Cầm Trọng – Phan Hữu Dật (1995), Vᾰn hόa Thάi Việt Nam, Nxb. Vᾰn hόa Dân tộc, Hà Nội.
– Cầm Trọng (1978), Người Thάi ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học Xᾶ hội, Hà Nội.
– Cầm Trọng (1987), Mấy vấn đề cσ bἀn về lịch sử kinh tế xᾶ hội cổ đᾳi người Thάi Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học Xᾶ hội, Hà Nội.
– Cuisinier, Jeanne (1946), Les Muong: Geographie Humaine et Sociologie. Institut d’Ethnologie, Paris.
 Đẻ Đất Đẻ Nước – Sử Thi Mường (1975), Ty Vᾰn hόa Thanh Hόa xb.
– Gάbor, Vargyas (Giάp Thị Minh Trang dịch) (2018), Bất chấp định mệnh Vᾰn hόa và phong tục tập quάn người Bru – Vân Kiều, Nxb. Dân Trί, Hà Nội.
– Grigoreva, Nina (2015), “The Muong Epics of ‘The Birth of the Earth and Water’ in a Viet-Muong Comparative Perspective: An Alternative Vision of the Common Past”, Higher School of Economics Research Paper No. WP BRP 118/HUM/2015.
 Hà Bά Tâm (2018), “Người Tày Dọ và tίn ngưỡng thờ trời”, Tᾳp chί Vᾰn hόa Dân gian, số 3 (177).
– Nikulin, N.I. (2006), “Thần thoᾳi Việt – Mường về cây thế giới” và sự hὶnh thành vᾰn học” trong: N.I. Nikulin (Hồ Sῖ Vịnh – Nguyễn Hữu Sσn tuyển chọn, giới thiệu) (2006), Dὸng chἀy vᾰn hόa Việt Nam, Nxb. Vᾰn hόa – Thông tin, Hà Nội.
– Phan Ngọc (2000), Thử xе́t vᾰn hόa – vᾰn học bằng ngôn ngữ học, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội.
– Phan Ngọc và Phan Đᾰng Nhật (1991), “Thử xây dựng lᾳi hệ thống thần thoᾳi Việt-Mường”, Tᾳp chί Vᾰn hoά dân gian, số 1 và số 2.
– Robequain, Charles (1929), Le Thanh Hoά, Etude gе́ographique d’une province annamite, Vol. 1 & 2, Les Editions G.Van Oest, Paris et Bruxelles: Publications de l’Ecole française d’ Extrême-Orient.
– Robert, R. (1941), Notes sur les Tay Dѐng de Lang Chanh, Institut Indochinois pour l’Etude del’Homme, no 1, Hanoi.
– Trần Quốc Vượng – Nguyễn Dưσng Bὶnh (1965), “Một vài nhận xе́t về mối quan hệ Mường Việt và quά trὶnh phân hόa giữa tộc Mường và tộc Việt. Thông bάo Sử học, tập V, trường Đᾳi học Tổng hợp Hà Nội.
– Trần Từ (1996), Người Mường ở Hὸa Bὶnh, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bἀn, Hà Nội.
– Yukti Mukdawijitra (2007), Ethnicity and Multilingualism: The Case of Ethnic Tai in The Vietnamese State, Ph.D. dissertation, University of Wisconsin – Madison.

Nguyễn Mạnh Tiến

Tạp chí Sông Hương