Đọc khoἀng: 38 phύt

TIẾNG MẸ (MOTHER TONGUE)

Rất nhiều nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ loài người đưa ra nhiều bằng chứng và nhiều giἀ thuyết. Trong đό giἀ thuyết dựa trên di truyền tίnh tức DNA được ưa chuộng nhất và đάng thuyết phục nhất. Vὶ thế, trong phᾳm vi bài này này, tôi chi xin nόi sσ lược về thuyết di truyền học mà thôi.

Nhà di truyền học Lugui Cavalli-Sforza tᾳi đᾳi học Stanford và cάc cộng tάc viên cὐa ông gần đây đᾶ nghiên cứu cάc dấu mốc di thể (genetic marker) từ 42 nhόm thổ dân khάc nhau ở khắp nσi trên thế giới và đᾶ kiến tᾳo nên một cây gia tộc cho nhân chὐng. Cây này cho thấy sự “phάt tάn” (“diaspora”) cὐa nhân loᾳi trên khoἀng thời gian 10.000 nᾰm như là một tộc duy duy nhất tάch ra làm nhiều nhόm và rồi thành nhiều bộ lᾳc nhὀ hσn cὸn tồn tᾳi cho tới ngày nay.

Ông nόi “Khά rō rệt cho thấy tᾳi sao cό sự liên hệ giữa di thể và ngôn ngữ” và “khi con người bành trướng ra khắp nσi trên mặt đất vào khoἀng 50.000 nᾰm trước đây tᾳo ra sự tάch biệt giữa những nhόm sau đό không bao giờ liên lᾳc lᾳi với nhau nữa về cἀ di truyền cῦng như ngôn ngữ. Khi di thể trở thành khάc biệt thὶ ngôn ngữ cῦng khάc biệt”. Quan trọng hσn nữa là Cavalli Sforza tὶm thấy sự qui tụ thành nhόm cὐa cάc tộc con người dựa trên những chứng tίch di truyền học phἀn chiếu rất mật thiết, gần cận với những nhόm ngôn ngữ được ‘dàn dựng’ (“laid out”) độc lập bởi cάc nhà ngôn ngữ sử học (historical linguistic). Sự tάch rời cổ nhất xẩy ra giữa người Phi châu và cάc chὐng tộc khάc cὐa thế giới, phἀn άnh sự di cư cὐa Đười Khôn Homo sapiens ra khὀi châu Phi. Sự tάch rời này cῦng thấy phἀn άnh trong ngôn ngữ: ngôn ngữ Khoisan cὐa châu Phi như chi tộc Kung San dὺng tiếng “chắc lưỡi” (click) để nhấn mᾳnh cἀm thάn chỉ liên hệ xa với cάc ngôn ngữ khάc trên thế giới. Một khάm phά cổ nhân chὐng học (paleoanthropological) ở Cận Đông về một địa khai cổ nhất cho biết ngày thάng phὀng chừng lύc tάch chia này: tuổi cὐa địa khai vào khoἀng 92.000 nᾰm. Một khἀo sάt tưσng tự khάc về sự truy tὶm dὸng di truyền học cὐa con người cho thấy tất cἀ ngôn ngữ cό thể bắt gốc từ một dân số nhὀ sống cάch đây 200.000 nᾰm trước. Allan Wilson, Mark Stoneking và Rebecca Cann, đᾳi học Berkerley, California, trong giἀ thuyết “Eve” nổi tiếng cὐa họ đᾶ truy tầm những dữ kiện di truyền học từ phάi nữ ở khắp thế giới và kết luận rằng tất cἀ con người hiện nay là con chάu cὐa một dân số nhὀ nhoi cὐa Đười Khôn Homo sapiens đᾶ sống ở châu Phi (William F. Allman).

Nếu chấp nhận con người cὺng phάt xuất từ một nhόm nhὀ đười này thὶ con người thoᾳt khởi đầu cό cὺng chung một ngôn ngữ. Phưσng phάp tάi kiến tᾳo (nόi tắt là tάi tᾳo) cάc đᾳi tộc ngôn ngữ cổ sẽ giύp truy tὶm được Tiếng Mẹ nguyên thὐy cὐa loài người. Vί dụ từ Nostratic (“Ngôn ngữ cὐa chύng ta”) “lά” là *lapa (lưu у́ dấu ngôi sao hay hoa thị * biểu tượng gốc tάi tᾳo ngôn ngữ), trong ngôn ngữ Dene-Caucasian là *tlapa và trong ngôn ngữ Amerind là *dap, trong Việt ngữ (Nam Á) là *lά. Từ Amerind chỉ đàn bà là kuni giống Nostratic kuni (u cό hai chấm), từ này cho ra chữ “queen” trong Ang ngữ (tức Ấn-Âu ngữ), Việt ngữ cό cô, cσ (Âu cσ), con. Kuni gần cận với cô nưσng, cô nàng, con (với nghῖa cάi, gάi). Từ tiền cổ (proto-word) chỉ con chό là kujan, Nostratic là kuyna, Ấn Âu ngữ là kuon, Anh, Đức là hound (h=k) và Việt, Nam Đἀo ngữ là cύn (Việt cῦng cὸn cό cầy, cai, khai).

Khἀo sάt cάc địa khai nhân chὐng học cῦng cho thấy một phần nào cὐa thiết yếu cho sự tᾳo ra ngôn ngữ ở người tân tiến đᾶ thấy cό mặt ở đười dᾶ nhân hàng triệu nᾰm trước, cho thấy tổ tiên xa xưa cὐa chύng ta cό thể đᾶ cό ίt nhất là những khἀ nᾰng ngôn ngữ thô sσ.

Tόm lᾳi ngôn ngữ loài người cό thể cό nguồn gốc từ một ngôn ngữ nguồn cội gọi là Tiếng Mẹ (Mother Tongue) cὐa một loài đười được coi là thὐy tổ cὐa con người hiện nay. Nόi một cάch khάc ngôn ngữ loài người phάt xuất từ tiếng kêu, tiếng gọi (call) cὐa một loài đười thὐy tổ loài người. Ở một khίa cᾳnh nào đό, tiếng kêu, tiếng gọi, tiếng hύ cὐa loài vật cῦng cό thể xem là một thứ ngôn ngữ cὐa loài vật vὶ chύng cῦng truyền thông với nhau được qua những tiếng đό.

NGÔN NGỮ LOÀI VẬT.

Tiếng kêu cὐa loài thύ phần nhiều là những thanh âm đσn giἀn, là những nguyên âm. Điều này thấy rō trong ngôn ngữ Việt: con chό kêu “ᾰng ẳng”, con gà gάy “o o”, con ếch kêu “uôm uôm”:

Ếchh kêu uôm uôm,

Ao chuôm đầy nước.

Con lợn “ὐn ỉn mua hành cho tôi”, nό kêu “eng е́c”. . .

Về cσ thể học loài khỉ thường chỉ phάt ra được nhiều nguyên âm vὶ thanh quἀn (larynx) con người tᾳo ra được phụ âm khάc loài khỉ chỉ cό phần thanh đᾳo ở thượng hầu giữ chức vụ biến âm(supralaryngeal vocal tract transfer function) (Lieberman, The Speech of Primate tr. 55). Khἀo sάt cσ thể học cho thấy cấu tᾳo yết hầu (pharynx), thanh hầu (larynx) cὐa trẻ sσ sinh giống loài linh trưởng, khỉ thông thường (không phἀi loài khỉ-người, dᾶ nhân) (the vocal tract of the newborn in some ways is more similar to the vocal tract of a non-human primate than it is to the adult human vocal tract (Philip Lieberman, tr 40-53). Do đό “tiếng kêu” cὐa trẻ sσ sinh và ngôn ngữ cὐa trẻ thσ thường là những âm vận đσn giἀn diễn tἀ bằng nguyên âm.

Phân tίch âm học cho thấy sự phάt âm cὐa loài khỉ thường giới hᾳn vào những tiếng kêu giống như “schwa” một vί dụ cὐa âm “schwa” là nguyên âm a đầu tiên cὐa tὺ “about” (an example of the schwa is the first vowel in the word about (Philip Lieberman. 55). Ta cό w= vv = uu = u, vậy schwa = schua = ua. Schua mang âm hưởng cὐa tiếng khόc ban đầu chào đời cὐa trẻ sσ sinh. Về mặt sinh lу́ học dựa trên cσ thể học (cἀ hai đều giống nhau) thὶ đây cᾰn bἀn chỉ là hai tiếng kêu thoᾳt đầu vô nghῖa tức chưa phἀi là ngôn ngữ. Tiếng u, a, ua đầu tiên cὐa trẻ sσ sinh chỉ là một tiếng kêu do không khί ὺa vào và ὺa ra đường hô hấp mà chύng ta cho nό cάi nghῖa là tiếng “khόc chào đὸi”, “Đᾶ mang tiếng khόc ôm đầu mà ra” (Ôn Như Hầu, Cung Oάn Ngân Khύc).

Ở loài khỉ thường thay đổi âm điệu cὐa tiếng kêu để diễn tἀ “cἀm giάc” như đau đớn, tức giận, đόi khάt, ham muốn, muốn giao hợp… Đây chίnh là sự “nghῖa hόa” cάc tiếng kêu khởi sự cho sinh tᾳo ra ngôn ngữ loài khỉ.

Tiếng Dᾶ Nhân Chimpanzee và Việt Ngữ.

Loài dᾶ nhân cῦng dὺng những âm thanh để diễn đᾳt tὶnh cἀm và truyền thông như một thứ ngôn ngữ. Ngôn ngữ cὐa chimpanzee phần nhiều cῦng là nguyên âm.

Chỉ xin nόi sσ qua một chύt ίt về ngôn ngữ loài dᾶ nhân. Blanche W. Learned và Yerkes trong phầm II nόi về “Voice” and “language” of Young Chimpanzees cὐa cuốn Chimpanzee Intelligence and Its Vocal Expression cho thấy loài dᾶ nhân này cό 32 diễn tἀ âm thanh (vocal expression). Đây là một khἀo cứu công phu và cό giά trị. Hai người khἀo cứu trên hai con dᾶ nhân con (young chimpanzee), con đực tên là Chim (!), con cάi tên là Panzee rồi sau đό so sάnh với cάc con trưởng thành nuôi trong Sở Thύ New York (New York Zoological Park) là Boma, Suzette và Fanny.

Để tiện so sάnh và cho độc giἀ dễ thấy, tôi sẽ so sάnh ngay tiếng dᾶ nhân với Việt ngữ.

Sau đây là tόm tắt những điểm chίnh yếu cὐa công cuộc khἀo sάt:

1-Tiếng ooh

Trong 303 tiếng ghi lᾳi cὐa cάc dᾶ nhân con và trưởng thành cὐa Learned, tôi ghi nhận thấy tiếng “ooh” nhiều nhất, gần một trᾰm lần, không kể những biến âm cὐa tiếng này như “ho”, “huh”, “whoo”. . . Hầu như ở con trưởng thành Boma những tiếng ooh, oo, woo, uck, hoo. . . lύc nào cῦng nghe thấy.

Theo Learned, Chim dὺng ooh để

-Cầu xin nᾰn nỉ (pleading).

Khi thấy Learned đứng lên, Chim chύm môi lᾳi ooh-oohooh cầu xin ông đừng để nό lᾳi một mὶnh (tr.64) và “sau đό sợ người cuối cὺng trong phὸng rời nό, Chim cầu khẩn: “ooh ooh ooh“ (tr.73). Panzee dὺng ooh để cầu xin, nᾰn nỉ nhiều hσn Chim. Ta thấy Panzee là con cάi nên thường kêu ooh-ooh-ooh hσn con đực Chim.

Chim không muốn đi bộ đὸi bồng đᾶ phάt âm ra ooh, ooh.

So với từ U cὐa Việt ngữ cό nghῖa là Mẹ cῦng hàm у́ đὸi mẹ, vὸi vῖnh, nhất là đὸi ᾶm bế. Một đứa trẻ gọi mẹ U, U đὸi mẹ bồng cῦng giống hệt như Chim phάt âm ooh đὸi được bồng. U và ooh là mẹ, là ᾶm bế, là che chở, là nưσng tựa, là ấp ὐ. Việt ngữ ὐ là ấp cho ấm, che phὐ cho ấm (ὐ cσm nếp làm tưσng), mẹ ấp ὐ con và ôm sάt con vào lὸng là ôm ᾶm bồng bế con, che chở cho con, ấp cho con ấm.

Một đứa bе́ Việt Nam cῦng đὸi mẹ, gọi mẹ mỗi khi sợ hᾶi, bσ vσ hay sợ bị bὀ rσi cῦng cầu cứu, van xin U, U, U.

-Chào mừng, mừng vui (greeting).

Một sάng thấy bữa ᾰn mang lᾳi, panzee hài lὸng, mừng rō: ooh ooh ooh.

Việt ngữ U cῦng là niềm hân hoan mừng rỡ. U là mẹ là sữa, là thức ᾰn. U là vύ, là sữa, u là thức ᾰn, u là nguồn sống. Mường ngữ ὐ là bύ. Phưσng ngữ Huế bụ là vύ.

Dᾶ nhân thấy thức ᾰn reo lên ooh ooh ooh cῦng như trẻ Việt Nam thấy mẹ là thấy u, thấy vύ, thấy bύ, thấy sữa. Tục ngữ cῦng cό câu “Mừng như mừng U về chợ”. U về chợ thường cό quà, cό thức ᾰn. Việt ngữ cῦng cό những biến âm trực tiếp với u diễn tἀ sự hân hoan chào mừng như “u chua choa”, “ύi chà”, “mừng hύ”, “mὺng hύm”. Với h câm hύ = ύ, ύ là vύ, là u; hύm = ύm đều là biến âm trực tiếp cὐa u.

-Chấp thuận, ưng chịu (approval).

Một buổi sάng, Panzee im lặng mᾶi tới khi thấy mόn sữa, là mόn nό rất thίch mang tới, lύc đό nό thầm thὶ ooh-ooh.

Khi cam mang đến, nό lᾳi phάt ra những âm thanh này nhưng mang nhiều nhᾳc tίnh hσn: ooh – – – ( #153, 154, tr. 100). Sau đό Panzee ᾰn nửa quἀ cam rồi phάt ra những tiếng ooh ooh ooh ooh (# 157, tr. 101).

Ở đây ta thấy rō khi thấy sữa, sữa là vύ, là U cῦng cό nghῖa là ύ, bύ, ύng, uống.

-Phἀn khάng, chống đối (protest).

Một ngày khάc Panzee phἀi đi bộ, nό đὸi bồng nhưng diễn đᾳt cἀm giάc bằng một âm điệu ngập ngừng vὶ đᾶ biết là phἀi đi bộ: ooh ooh ooh ooh ooh (#193, tr. 113). Cuối cὺng vẫn không được bồng lên nό phἀn đối: oo-oo – – oo- ooh (# 193, tr.114).

Ta nhận thấy cῦng vẫn tiếng “u” nhưng “tone” đᾶ khάc đi. Đây là dᾳng biến âm thành từ mới với nghῖa mới như trong Việt ngữ U biến thành ứ, ừ. Một trẻ em Việt Nam bị bắt phἀi đi đὸi bồng vὸi mẹ U U U và khi không đὸi được, phἀn đối không chịu đi nữa, bày tὀ sự bất bὶnh, từ chối bằng ứ, ừ.

°°°

Ooh là âm thường thấy nhất trong 32 âm ở loài dᾶ nhân. Như đᾶ nόi ở trên Panzee là con cάi nên thường kêu ooh-ooh-ooh hσn con đực Chim.

Tổng quάt hσn, Carpenter (1964) khi quan sάt loài khỉ nhận thấy khi tiếp xύc với mẹ, khỉ con thường phάt ra một chuỗi những tiếng ὺ ὺ (purr) kе́o dài vài giây đồng hồ. Như thế âm u là âm thường nghe thấy ở loài khỉ và dᾶ nhân.

2-Tiếng kê đau,

.ai (ie)! Panzee rύ lên vὶ đau khi bị Chim cắn.

Việt ngữ άi! άi cῦng là những tiếng kêu thốt ra vὶ đau.

.ue! Panzee rύ lên vὶ đau khi bị Chim nắm lông kе́o.

Việt ngữ ύi! ύi! ύi chao! Cῦng là tiếng thốt lên vὶ đau.

3. Tiếng hе́t vὶ thὀa mᾶn hay tức giận.

Chim phάt ra ae, ae. Ae diễn tἀ sự thὀa mᾶn hay tức giận

Việt ngữ cῦng vậy, những tiếng thốt lên thὀa mᾶn vui mừng ê, ê ê, được rồi. Đây là những tiếng diễn tἀ sự hἀ hê. Với h câm = hἀ hê = a e. Nhưng khi tức giận ê lᾳi cό nghῖa là đừng hàm nghῖa đe dọa như ê, ê, ê đừng cό làm vậy.

4. Tiếng cười.

Tiếng cười cὐa loài đười: ka-hah, kah-hah-hah.

Hiển nhiên tiếng cười cὐa chύng ta cῦng là khà khà, hà hà. Phân tίch ta thấy đây đều là âm thὀa mᾶn hά miệng rộng ra thἀ hσi trong phổi ra tức hà hσi ra thấy cἀ ở đười và người.

5. Tiếng đi ngὐ.

Khi đi vào ổ ngὐ, Panzee phάt ra huh, huh. Theo h câm ta cό huh = uh. Việt ngữ ὐ là ngὐ (ngὐ với ng câm = ὐ). Mường ngữ ύ u là ru (ngὐ).

U biến âm với ở, ổ. Panzee “nόi” huh, uh khi đi vào ổ, đi ngὐ là “nόi” đi ổ, đi ὐ.

6. Tiếng liên hệ với thức ᾰn.

Theo Learned thὶ tiếng gahk ack, uck là những tiếng dὺng chỉ thức ᾰn ở loài dᾶ nhân trưởng thành (#9, 10 tr.63, 149-151). Gahk cό nhiều biến âm như gak, gah, gha, kha (khah), ngahk, nghak, nkak… Ông cho rằng ack và uck là biến âm cὐa nhau. Biến âm này cῦng cό trong Việt ngữ như đặc = đực (tre đặc là tre đực). Cἀ hai đều phάt âm bằng cάch mở miệng rộng ra như hά miệng đὸi ᾰn, chờ ᾰn.

Trong Việt ngữ ta thấy cό những từ gậm và cάc biến âm như cᾳp, ngoᾳm, nhά, nhai, nhấm nhάp… Theo g = h như gồi = hồi, ta cό gahk = hah = hά. Ӑn là Hά miệng đόn lấy thức ᾰn.

Âm ack cό thể coi như là biến âm cὐa gahk, gak… với cάc phụ g âm câm. Ack với Việt ngữ ᾰn cῦng gần âm. Thật vậy, Việt ngữ ᾰn cό gốc từ động từ Phᾳn ngữ ad là ᾰn. Theo d = n, ad = ᾰn, Anh ngữ eat cῦng cό cὺng gốc Phᾳn. Phᾳn ngữ anna, thực phẩm; adya, ᾰn được; Latin edere, Gothic itan, an, cổ ngữ Anh etan là ᾰn. Từ Gothic ‘an’ y hệt Việt ngữ ᾰn. Tiếp vῖ ngữ –âça nghῖa là âç + a cό nghῖa là ᾰn như prâtarâca là bữa ᾰn sάng, điểm tâm. Rō như ban ngày âm ack là ᾰn cὐa loài đười gần cận với Việt ngữ ᾰn và với Phᾳn ngữ, Ấn Âu ngữ…

Rō hσn uck ruột thịt với Việt ngữ ực là nuốt. Ta cῦng thấy rất rō Việt ngữ ᾰn cό Ӑ là do Hά với h câm mà ra. Ӑn chίnh là động tάc HÁ miệng ra lấy thức ᾰn.

Cὸn một tiếng nữa do sự thѐm ᾰn quἀ cây thύc đẩy (fruit motive) thấy ở con dᾶ nhân trưởng thành Boma là “wah-woo”. Tiếng wah gần âm với Việt ngữ quἀ, Mᾶ ngữ buah, Hoa ngữ wah.

Trong Mường ngữ cό biến âm w = qu như wach = quἀ, wal = quά, wάng = quάng, quу́nh (quу́nh quάng) (vội vᾶ cuống lên)… và w = h như wa = hoa, wà = hὸa, wang = hoang (vu)… Hoa quἀ trong rừng là mόn ᾰn chίnh và ưa chuộng cὐa loài thύ và con người thάi cổ. Âm quἀ, buah, wah… cὐa con người cό gần âm wah cὐa loài dᾶ nhân cῦng là chuyện cό thể cό.

NGÔN NGỮ TRẺ SƠ SINH.

Như đᾶ nόi ở trên khἀo sάt cσ thể học đᾶ cho thấy thanh đᾳo trẻ sσ sinh theo một chiều hướng nào đό giống loài khỉ hσn là giống thanh đᾳo cὐa người trưởng thành (Philip Lieberman). Ngôn ngữ trẻ sσ sinh thoᾳt đầu giống loài thύ đều là nguyên âm, đσn âm.

Tiếng khόc ban đầu chào đời cὐa con người là u, a (oa, oa, oe oe) chỉ là một tiếng kêu đσn thuần. Từ Anh ngữ cry vừa cό nghῖa là kêu và khόc άp dụng cho tiếng chào đời cὐa trẻ sσ sinh chίnh xάc hσn Việt ngữ khόc. Từ khόc (“sweep”) άp dụng cho tiếng kêu đᾶ cό nghῖa ngữ đặc biệt, đᾶ là một từ ngữ thực sự cὐa ngôn ngữ. Tiếng kêu u a này chỉ là một thứ âm thanh đσn thuần, vô nghῖa do giό đi qua đường thở thấy cἀ ở tῖnh vật cῦng như động vật. Vί dụ giό thổi u, u, ὺ ὺ; giό thổi qua bụi lau sậy u, u (rồi biến âm thành vi vu); loài cά cό phổi (lung fish) khi vῦng nước, ao đầm bị cᾳn hết nước, nό tiết ra chất nhầy làm thành một cάi bong bόng bao quanh người nằm dưới đất khô và thở bằng phổi sống chờ cho tới mὺa mưa, cό nước, lᾳi sống như những loài cά khάc. Vὶ cό phổi nên loài cά này cῦng phάt ra những tiếng kêu. Hai âm đầu tiên cὐa trẻ sσ sinh là u, a. Cό khi nghe là o, e, oe oe, oa oa bởi vὶ hiện tượng biến âm trong Việt ngữ u=a= o = e như mụ = mᾳ = mợ = mẹ. . . Nhưng theo tôi âm u và a là âm gốc bởi vὶ dựa trên hiện tưσng sinh lу́ học về hô hấp. Tiếng khόc ban đầu chào đời cὐa con người là u a, oa oa, oe oe, hậu quἀ cὐa hiện tượng sinh học lύc cὸn nằm trong dᾳ con hai lά phổi cὐa thai nhi cὸn xẹp lе́p, khi chui ra ngoài đời, không khί làm hai lά phổi bung ra thành hai lά phổi thật sự, thành con người sống. Lύc cὸn nằm trong bụng mẹ, phổi lе́p xẹp vὶ chưa cό không khί, khi lọt lὸng, không khί ὺa vào, phổi nở bung ra. Không khί ὺa vào tức là hίt vào phάt ra âm u. Khi phổi bόp lᾳi không khί bị tống ra, mῦi và miệng mở ra tᾳo ra âm a. U, a, oe, oe ở loài thύ và loài người về cᾰn bἀn âm học như nhau đều do động tάc chύm môi miệng hίt vào tᾳo ra âm u, o, rồi mở miệng thở ra thành âm a, à. Lύc đầu u, a chỉ là tiếng kêu do không khί lὺa vào phổi thành u, u và tống ra thành a, à. Âm u là âm nίn thở hay âm hίt vào như thấy qua trὸ chσi “u mọi” và âm a là âm thở ra như thấy qua cάc từ à (sau khi uống nước hay ᾰn cay), hà hσi, hίt hà. Trὸ chσi “ύ à” đầu đời cὐa trẻ thσ cῦng dựa theo tiếng kêu “u, a” đầu đời với “u” che mặt nίn thở và “à” buông tay “thở ra”. Về phưσng diện ngữ học thὶ âm u cὐa Việt ngữ tưσng đưσng với âm oo Anh ngữ được cho là âm môi, phάt âm do cάc động tάc miệng (oral gesture), hai môi chύm lᾳi đưa ra trước, là động tάc như bύ cὐa trẻ sσ sinh, hύt hσi vào tức hίt vào, mύt sữa vào. Âm môi (labial sound) là âm cὐa trẻ thσ. Âm à là âm hά miệng ra để thở ra. Động tάc bύ gồm chύm môi vào, hύt vào là âm u và hά miệng ra trἀ môi về vị trί cῦ để lấy hσi thành âm a, à.

Ta cό u biến âm với o và a với e, nên u, a cὸn được diễn tἀ là oa oa, oe oe.

Như đᾶ biết tiếng kêu loài khỉ và chimpanzee hay ngôn ngữ cὐa chύng cό nhiều nguyên âm và trong đό âm ooh (u) nhiều nhất. U, a, oe ở người và vật chỉ khάc nhau là trẻ sσ sinh sau đό biết biến hόa thay đổi tiếng kêu “vô nghῖa” ban đầu, thành ngôn ngữ trẻ sσ sinh. Sự khάc biệt giữa tiếng kêu và ngôn ngữ là sự liên hệ giữa у́ nghῖa và tiếng cố định trong tiếng kêu. Ngôn ngữ liên quan chίnh yếu đến hai quά trὶnh nối tiếp cὐa tiếng, âm và у́ nghῖa cὐa nό. Trẻ sσ sinh thay đổi âm điệu cὐa tiếng khόc để diễn tἀ у́ nghῖa những nhu cầu cần thiết cᾰn bἀn và tὶnh cἀm như lύc đόi khόc đὸi ᾰn: “Không khόc sao được mẹ cho bύ” “Cἀ vύ lấp miệng em”, khόc vὶ lᾳnh đὸi ấp ὐ, khόc vὶ khό chịu, khό ở, khόc vὶ sợ hᾶi. . . Mỗi loᾳi tiếng khόc cό у́ nghῖa khάc nhau. Tiếng khόc lύc đόi bụng xẹp lе́p khάc với tiếng khόc khi bị bụng no hσi hay cᾰng lớn hay vὶ tάo bόn; tiếng khόc lύc sợ hᾶi giống như một tiếng thе́t lớn (screaming) mà ta nόi là “khόc thе́t lên”; khόc khό thở ta nόi là “khόc ngằn ngặt” hay “khόc ngất”. . . Như thế dần đà tiếng khόc vô nghῖa ban đầu trở thành cό у́ nghῖa tức trở thành ngôn ngữ để truyền thông. Hai tiếng u, a, ua là tiếng kêu vô nghῖa rồi trở thành những tiếng nόi đầu tiên cὐa trẻ sσ sinh. Với thời gian, trẻ thσ gắn nghῖa vào tiếng này biến đổi thành ngôn ngữ. Cῦng vὶ thế trong ngôn ngữ Việt những tiếng nόi ban đầu cὐa trẻ thσ gọi là những tiếng “u σ”. Trẻ thσ “u σ” học nόi và khi người lớn không nόi được ra lời gọi là “ύ ớ”, nhất là vào lύc hấp hối. Từ tiếng nguyên thὐy u, a, ua, u σ này dần dần tᾳo ra ngôn ngữ cὐa người trưởng thành cὐa loài người.

Như thế trẻ sσ sinh cῦng thay đổi âm điệu cὐa tiếng kêu (khόc) ban đầu “vô nghῖa”, thành ngôn ngữ trẻ sσ sinh giống như loài khỉ biến đổi âm thành tiếng kêu trở thành thứ ngôn ngữ như loài khỉ. Ở con người dῖ nhiên khάc hσn loài khỉ vὶ tiếng nόi trẻ sσ sinh tiến hόa thành ngôn ngữ loài người một cάch siêu đẳng hσn vὶ tiếng nόi loài người hiện nay là ngôn ngữ cὐa “loài đười siêu tinh khôn” (homo sapiens sapiens). Cὸn ở loài khỉ chỉ tiến hόa thành ngôn ngữ loài khỉ thô sσ thường cho là tiếng kêu.

TIẾNG VIỆT VÀ NGUỒN GỐC NGÔN NGỮ LOÀI NGƯỜI.

Từ U Việt Ngữ là Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người.

Như đᾶ thấy ngôn ngữ cὐa một con người bắt đầu từ tiếng kêu u, a, ua lύc chào đời cὐa trẻ sσ sinh. Tiếng kêu đό trở thành tiếng nόi đầu tiên cὐa một con người sống. Tiếng kêu này định đoᾳt vận mệnh cὐa con người đό. Về phưσng diện ngôn ngữ, tiếng kêu này yếu ớt, bệnh hoᾳn thὶ đôi khi ngôn ngữ sau này cὐa con người đό cῦng bệnh hoᾳn (phần όc liên hệ tới tiếng nόi ngôn ngữ bị tổn hᾳi vὶ bị “ngᾳt” do tiếng khόc lύc chào đời không mang đὐ dưỡng khί lên όc). Tiếng kêu u, a, ua lύc chào đời là nguồn gốc ngôn ngữ cὐa một con người và nό cῦng là nguồn gốc cὐa ngôn ngữ loài người. Nόi một cάch khάc từ u là nguồn gốc ngôn ngữ loài người. Từ tiếng kêu u vô nghῖa này tᾳo ra bởi hiện tượng sinh lу́ học là do giό lὺa vào phổ tᾳo ra rồi biến hόa thành ngôn ngữ. U biến hόa thành những từ cό nghῖa:

-U, ὺ: tiếng giό.

U là một tiếng kêu do không khί ὺa vào đường thở. Việt ngữ cῦng thấy rất rō u, ὺ liên hệ với không khί, giό: giό thổi u, u hay ὺ ὺ.

-U là chỗ phồng, là vύ.

Trẻ sσ sinh lύc chào đời coi như là một sinh vật giἀn dị như một loài động vật.

Theo bἀn nᾰng thύ tίnh tự tồn cὐa một con vật thuộc loài cό vύ, trong đό cό con người, lύc mới sinh ra, khi người mẹ άp miệng nό vào vύ, qua cἀm nhận cὐa môi miệng, lưỡi, xύc giάc, tay, mắt dần dần nό nhận ra chỗ u phồng lên ở ngực cὐa con vật mẹ là nguồn sữa, nguồn sống. Rồi sau đό đứa trẻ sσ sinh theo bἀn nᾰng, theo phἀn xᾳ mà không biết gὶ hết mὸ tὶm đến chỗ u phồng ở ngực người mẹ đό để thὀa mᾶn những nhu cầu cần thiết. Ở loài vật cῦng như trẻ sσ sinh cὸn cό những ‘hướng động’ giύp chύng hướng về tὶm chỗ u ở ngực mẹ giống như cành cây hướng tὶm άnh sάng gọi là hướng động άnh sάnh (quang hướng động), giống như những hᾳt mάu trắng nhờ cάc chất hόa học tὶm đến chỗ bị nhiễm trὺng. Tôi gọi là ‘sữa hướng động’ hay ‘vύ hướng động’. Nό tὶm đến chỗ u đό để sống cὸn, phάt triển và thίch ứng, chống chọi lᾳi với mọi trᾳng huống cὐa ngoᾳi cἀnh. Về sau nό “học” và được dậy cho biết chỗ u đό cό tên là cάi vύ. Việt ngữ u là vύ (sau cό thêm nghῖa mẹ), Anh ngữ breast là swelling. Trong truyện Nay Tôi Mai Ai? cὐa tôi, nhân vật bάc sῖ quân y Nguyễn, khi xe bị trύng mὶn, ôm người con gάi lᾰn xuống mưσng, khi hoàn hồn lᾳi, nhận ra tay mὶnh để lên ngực người con gάi. Đây là một hành động theo phἀn xᾳ bắt nguồn từ lύc sσ sinh, con người ôm vύ mẹ lύc thập tử nhất sinh.

Lύc này tiếng u trở thành từ u cό nghῖa là vύ. U về sau đẻ ra ngôn ngữ cὐa lớn là u là sưng như u đầu, sưng u, u bướu; ụ là mô đất, ύ là loᾳi bάnh chưng cό hὶnh cάi ụ (thάp) hay hὶnh cάi ύ (vύ).. .

-U là mẹ.

Rồi đứa trẻ đồng hόa cάi u, cάi vύ với người cό cσ quan này và gọi người cό cάi u, cάi vύ là u là vύ với nghῖa mới là mẹ.

-Vύ là bύ.

Theo phἀn xᾳ, khi tiếp xύc với nύm vύ, miệng đứa trẻ chύm lᾳi mύt cάi u, cάi vύ, sau đό nό hiểu đό là bύ. Ở những trẻ em bὀ trong lồng kίnh nghῖa là chưa được tiếp xύc với cάi u cὐa mẹ mà khi đόi miệng cῦng đᾶ cό động tάc bύ theo phἀn xᾳ. Ở cάc trẻ em không nuôi bằng sữa mẹ, cῦng cό động tάc bύ nύm vύ cao su, bύ bὶnh. Và người cho bύ là bu (mẹ, vύ em).

-U là ύ, uống.

Lớn lên khi dứt bύ biết uống thὶ từ u biến thành tứ ύ (với b câm bύ= ύ), rồi sau thành uống. Phάp ngữ buvoir, uống cό gốc bu-, bύ.

Ta thấy rất rō sự thành hὶnh cὐa cάc từ ngữ phάt gốc từ cάi u trên ngực cὐa người mẹ: u cho ra vύ, bύ, bu (mẹ):

.u (phồng lên, sưng) cho ra ύ (uống), cho ra u (mẹ). U là vύ là nguồn sữa uống cὐa người cό u là mẹ.

.vὺ (phồng lên, sưng) cho ra vύ (vύ = uύ, v = u, uống), cho ra vύ (mẹ)

Về sau khi lớn lên, ngôn ngữ ‘trưởng thành’ theo, ta cό :

.bu (gà) (vật đan bằng tre hὶnh cάi vύ để ύp gà). .bưu (bưσu, biêu, bướu: u sưng) biến âm mẹ con với bύ (uống) cho ra bu (mẹ).

.mu (mô, chỗ phồng lên) cho ra mύ, mύt (uống) cho ra mụ (mẹ).

Ở đây cῦng xin nόi thêm một chύt là cάc từ u (mẹ) sau này ở ngôn ngữ người lớn thường khởi đầu bằng âm M như Việt ngữ Me, Mẹ, Mά, Phάp ngữ Mѐre, Maman, Anh ngữ Mom, Mother, Tây Ban Nha ngữ Madre, Bồ ngữ mae… Âm M cῦng là âm môi ruột thịt với âm u cῦng là âm môi và như đᾶ nόi ở trên u biến âm với m như u (ụ đất, vύ, mẹ) = mu, mô (ụ đất, mụ, mẹ). Ta cῦng thấy u = v = m như u (chỗ phồng sưng lên, ụ đất) = vύ (chỗ phồng u lên) = mu (chỗ phồng u lên như mu rὺa) đều cό nghῖa là u, vύ, mụ, là mẹ.

. . . . . .

Hὶnh ἀnh ban đầu cὐa mẹ đối với loài vật, trẻ sσ sinh là cάi u cung cấp nguồn nước dinh dưỡng sữa.

Như thế với thời gian một trẻ sσ sinh biến âm tiếng kêu đầu đời dần dà phάt triển thành ngôn ngữ cὐa trẻ sσ sinh. Thứ ngôn ngữ sσ sinh này bάt nguồn từ tiếng kêu u, a trở thành ngôn ngữ trẻ em và rồi thành ngôn ngữ người lớn theo sự tᾰng trưởng cὐa thanh quἀn [Về cσ thể học thanh quἀn tᾰng trưởng, thay đổi theo tuổi tάc từ lύc sσ sinh cho tới khi về già. Về già dây âm thanh cong, vênh, chὺng xuống không cὸn thẳng như lύc trưởng thành gọi là thanh quἀn già (Bάc sῖ Amy Nguyễn, chuyên gia Thanh Quἀn)].

Những Nhu Cầu Cᾰn Bἀn Cὐa Sự Sống Đầu Đời.

Ngôn ngữ ban đầu cὐa trẻ sσ sinh trước hết giới hᾳn vào tiếng u diễn tἀ những nhu cầu cᾰn bἀn cὐa sự sống đầu đời về vật chất là ᾰn, ngὐ, ấp ὐ cho ấm, bài tiết, về tinh thần là che chở, tὶnh thưσng. Rồi lớn lên, ngôn ngữ này phάt triển thêm, diễn tἀ thêm thất tὶnh là hỉ (vui), nộ (tức, bực), ai (buồn), cụ (giận hờn), άi (yêu), ố (ghе́t), dục (ham muốn) v.v… Con người trưởng thành cό thêm như cầu làm tὶnh mà người Trung Hoa thường cho là tứ khoάi: ᾰn ngὐ, đụ, iἀ.

Nhu Cầu Thể Chất:

.U diễn tἀ nhu cầu uống, ᾰn: ύ, uống (và cάc từ liên hệ tới nước).

Nhu cầu uống ᾰn là nhu cần thiết nhất đối với một đứa trẻ sσ sinh. Ngay cἀ ở người lớn điểm này cῦng thấy rō là người Trung Hoa cό tứ khoάi mà ᾰn là đệ nhất khoάi. Hὶnh thức ᾰn đầu tiên cὐa trẻ sσ sinh là uống. Tiếng khόc u u khi đόi mang у́ nghῖa ύ để đὸi bύ rồi sau thành từ ύn, ύng, uống.

-Ú là dᾳng nguyên thể cὐa uống. Ú là từ trẻ em nόi (baby talk) cὐa từ uống cὐa người trưởng thành. Yucatec ngữ uk là uống.

-Ụm (ngụm) là một hớp nước.

-Ực: khi nuốt nước hay thức ᾰn như ‘nuốt đάnh ực một cάi ‘), mẹ thường với con “ực đi con”. Uống ừng ực.

-Ứ là no: ύ, uống nhiều thành no ứ (tới cổ).

-Ú, Ù là mập: ύ đẻ ra ngôn ngữ cὐa người lớn cό nghῖa là mập: mập ύ. Trẻ sσ sinh mập ύ là nhờ ύ (bύ) nhiều, uống sữa nhiều. Ú biến âm thành ὺ cῦng cό nghῖa là mập như mập ύ mập ὺ, mập ύ ὺ. Theo biến âm dᾳng u (vύ) = bụ (phưσng ngữ Huế là vύ) hay b câm ύ = bụ. Bụ là mập ύ nhờ sữa (bụ sữa). Tục ngữ cό câu “Nhớn vụ bụ con”.

-Ú là trὸn: rồi ύ cό thêm nghῖa là trὸn như trὸn ύ mang hὶnh ἀnh mập ύ. Ú biến âm mẹ con với Mường ngữ ὐ là bύ.

-Úc, Ục là mập: ύ đẻ ra từ ύc, ục cῦng cό nghῖa là mập như bе́o ύc, bе́o ục, ύc nύc, ục nục, ục ịch.

-Ùng ục: tiếng nước kêu vὶ cό hσi như bụng sôi ὺng ục.

-Ụa, Ựa, Ứa: no quά muốn ụa, ựa, ứa ra. Ụa sữa = ọc sữa.

.U diễn tἀ nhu cầu ngὐ.

-Ủ là ngὐ.

Tiếng khόc u u khi buồn ngὐ mang у́ nghῖa ὐ là đὸi được ấp ὐ (mẹ ôm con vào lὸng ὐ cho con ngὐ), được ὐ là ngὐ (ng câm, ngὐ =ὐ), ὐ ê là ngὐ nghê. Lời ru ngὐ khởi đầu bàng “ ὺ σ, ầu σ, à σi” đều cό nghῖa là ngὐ (xem Từ Thuần Việt). Mường ngữ ύ u là ru (ngὐ).

Về sau ὐ cό thêm nghῖa cὐa ngôn ngữ người lớn như ὐ rῦ nghῖa đen là rῦ ra ngư ngὐ; ὐ là ấp cho ấm, như ấp ὐ, ὐ mốc làm tưσng.

-Úp là ấp, ὐ.

.U diễn tἀ lᾳnh, nόng.

-Khi bị lᾳnh tiếng khόc u mang у́ nghῖa đὸi được ὐ (ấm).

-Um là làm cho ấm. Ngày nay um là hầm như từ lưσn um, cà um, rau khoai lang um.

-Un: đốt, nόng.

-Ung là nung:

Khen câu ngọc đύc vàng ung

(Nhị Độ Mai câu 781)

.U diễn tἀ nhu cầu bài tiết.

-U: ướt

Khi trẻ sσ sinh bài tiết, ướt, bẩn làm khό chịu chύng thường “truyền thông” bằng cάch khόc. Dῖ nhiên tiếng khόc này mang у́ nghῖa khό chịu, bứt rứt. Tiếng khόc u u này mang nghῖa ướt. Từ uớt chỉ trẻ sσ sinh, trẻ em đi tiểu tiện (hay đᾳi tiện). Anh ngữ “wet” liên hệ với Việt ngữ, ướt: w=uu, wet = uuet = ướt.

-U: ὺn, đὺn hàm nghῖa bài thἀi, ὺn, đὺn chất bᾶi thἀi ra tức ỉa, ta cῦng cό từ ghе́p ỉa đὺn. Un biến âm với ung (thối).

Nhu Cầu Tâm Cἀm.

Trẻ sσ sinh dần dần nhớ hσi hướng cὐa mẹ, cἀm thấy cần được ấp ὐ, bế ẵm, vỗ về, hάt ru, che chở. . . khi thấy trσ trọi, sợ hᾶi. . .

Khi cό nhu cầu về tâm thần và tὶnh cἀm nό cῦng cất tiếng khόc u, u. Cάi u, cάi vύ là nσi nưσng tựa tâm cἀm tuyệt vời nhất cὐa trẻ sσ sinh. Anh ngữ gọi cάi nύm vύ là “pacifier” (vật trấn an, mang lᾳi “hὸa bὶnh”). Tiếng khόc u loᾳi này mang у́ nghῖa mong được che chở ὐ ấp, yêu thưσng, đὺm bọc… Trẻ thσ bắt đầu học nόi để diễn tἀ nhu cầu tâm cἀm bằng những tiếng “u, σ”.

Thất Tὶnh.

Khi lớn thêm lên, một đứa trẻ đᾶ phάt triển cό được thất tὶnh: hỉ, nộ, ai, cụ, άi, ố dục thὶ tiếng khόc u biến âm diễn tἀ thất tὶnh này.

1- Hỉ là vui, mừng, hân hoan

U: tiếng reo mừng.

Thấy u (vύ), u (mẹ) là niềm vui lớn nhất cὐa trẻ thσ: “mừng như thấy u về chợ”. Tiếng gọi u là tiếng cἀm thάn vui mừng. Từ này cὸn thấy ở tiếng cἀm thάn mừng vui thấy ở người lớn như u ! Anh ngữ ooh!

-Ui cha: đôi khi diễn tἀ vui mừng.

-Ủa: u a, ὐa: từ ὐa thường diễn tἀ kinh ngᾳc nhưng đôi khi cῦng diễn tἀ vui mừng.

2. Nộ: giận hờn.

Tiếng khόc u mang nghῖa tức giận, hờn. Việt ngữ hờn cῦng cό nghῖa là khόc ᾰn vᾳ như hay hờn hay khόc.

-Ức: tức giận. U đẻ ra ngôn ngữ người lớn ức. Ức biến âm thành tức, bực.

-Ục: đάnh, diễn tἀ sự tức giận cὐa người lớn.

-Ưσng: tức, chống đối, cứng đầu như ưσng ngᾳnh, ưσng ưσng, dở ưσng dở khὺng ra.

3. Ai: buồn, đau.

Buồn:

Tiếng khόc u mang nghῖa đau, buồn. Buồn như vắng u, mất u.

-U, U là tiếng khόc sau thành hu hu. Tiếng khόc hu hu cὐa trẻ thσ là tiếng khόc (gọi) u, u.

-U: buồn như từ ghе́p điệp nghῖa u buồn, u sầu, u ẩn…

-Ủ: buồn, rầu như ὐ dột, ὐ rῦ.

-Ui: là tiếng kêu than: ui chao, than ui, hỡi ui. . . Ui biến âm với ôi.

Đau:

-U, ύ: khi đau trẻ thσ khόc gọi u, gọi mẹ: u, ύ.

-Ui, Ui: tiếng kêu đau.

-Úi, Úi: tiếng than khi bị đau: ύi, ύi đau quά! Anh ngữ ouch! là au là đau.

-Ư ử: rên (vὶ đau).

-Ưσn: bị khό ở hay khόc gọi là ưσn người.

4. Cụ: sợ hᾶi.

Tiếng khόc u mang у́ nghῖa sợ hᾶi.

-Ú biến âm với rύ, hύ diễn tἀ sự sợ hᾶi, kinh hoàng.

-Ủi: làm cho yên tâm, không cὸn sợ hᾶi: an ὐi.

5. Ái: yêu

-U là mẹ, là yêu thưσng.

-U là âu là yêu, u yếm là âu yếm.

-Ưa là thίch.

-Ừ, Ừa là bằng lὸng.

6. Ố: ghе́t.

-Ù là trσ ra: ὺ li.

-Ủi là ẩy, đẩy ra bầy tὀ sự ghе́t

-Ứ Ừ là không bằng lὸng, phἀn đối.

-Ứa là ghе́t như ứa gan, ứa ruột.

7. Dục: ham muốn.

Tiếng khόc u mang nghῖa đὸi (vὸi), muốn.

-Ưa: thίch, muốn.

-Ước là muốn: ước muốn, ước mong, ao ước.

-Ưng: bằng lὸng.

Ở người lớn dục cό thêm sự ham muốn thể xάc (tὶnh dục). Ủ là ngὐ cό nghῖa là làm tὶnh như con đό ngὐ với nhiều đứa. Ủ là ấp ὐ, là tὐ, là phὐ cῦng cό nghῖa là làm tὶnh (xem Ý Nghῖa Những Từ Thô Tục).

Đi xa hσn nữa, sau này trong ngôn ngữ cὐa người Việt trưởng thành u diễn tἀ được cἀ у́ nghῖa trọn vẹn cὐa Vῦ trụ tᾳo sinh, cὐa Dịch lу́ như:

-U, u là cōi hư không, thâm u ứng với hư vô.

-U là mẹ, âm. U là tối như âm u, um (tối um). Tối là âm ứng với cực âm.

-Ủ làm cho nόng, ung là nung nόng. Nόng là dưσng ứng với cực dưσng.

-Ú, uống, nước, thάi âm.

-Ù: tiếng giό, giὸ thổi ὺ, ὺ, thiếu âm.

-Un, um: đốt, lửa, thάi dưσng.

-Ụ: mô đất nύi, thiếu dưσng

Như thế từ một tiếng kêu u, a (oa oa, oe, oe) vô nghῖa lύc lọt lὸng do hiện tượng sinh lу́ học tᾳo ra, trẻ sσ sinh dần dần biến âm để у́ nghῖa hόa biến tiếng kêu trở thành tiếng kêu cό у́ nghῖa, trở thành tiếng kêu-khόc, trở thành một thứ ngôn ngữ cὐa trẻ sσ sinh diễn tἀ được hết những nhu cầu cᾰn bἀn về thể chất và tâm cἀm. Từ thứ ngôn ngữ trẻ sσ sinh gần cận với ngôn ngữ loài thύ vật này phάt triển thành ngôn ngữ cὐa người lớn.

Sự Phάt Triển Từ Ngôn Ngữ Trẻ Sσ Sinh Qua Ngôn Ngữ Người Lớn.

Ta đᾶ thấy từ tiếng kêu vô nghῖa cὐa trẻ sσ sinh trở thành ngôn ngữ trẻ thσ giống như tiếng kêu cό у́ nghῖa giới hᾳn cὐa loài thύ (cό thể nόi là ngôn ngữ thύ vật) nhất là ngôn ngữ cὐa loài dᾶ nhân phάt triển thành ngôn ngữ người lớn. Hiển nhiên ngôn ngữ cὐa một trẻ sσ sinh phάt triển thành ngôn ngữ trẻ thσ cό nhiều nguyên âm như loài thύ rồi thành ngôn ngữ cὐa người trưởng thành phức tᾳp hσn cό nhiều âm tiết, nhiều phụ âm hσn. Qua Việt ngữ ta đᾶ thấy âm u biến thanh từ u rồi biến âm đẻ ra ngôn ngữ cὐa trẻ sσ sinh và trẻ thσ. Như thế cῦng từ âm u này phάt triển thành ngôn ngữ người Việt trưởng thành.

Ta đᾶ biết trong Việt ngữ cό hiện tượng biến âm lịch sử rất bao quάt cό thể hoάn chuyển từ âm này qua âm nọ, từ nguyên âm qua phụ âm một cάch dễ dàng. Ta cῦng biết hiện tượng chữ câm rất hoàn hἀo bao gồm chuyển hόa từ phụ âm sang nguyên âm. Những hiện tượng này giữ một vai trὸ quan trọng trong sự phάt triển từ ngôn ngữ thύ vật và trẻ sσ sinh qua ngôn ngữ người lớn. Trong bài Gốc Chữ Trong Ngôn Ngữ Việt ta cῦng đᾶ thấy từ một gốc cάi cό thể biến âm qua cάc gốc phụ. Tiếng Việt cό bao nhiêu âm, bao nhiêu chữ cάi (mẫu tự) thὶ sẽ cό bấy nhiêu gốc phụ sinh ra từ gốc cάi. Như thế từ gốc U tiếng giό lὺa vào phổi, ta άp dụng những điều vừa nόi, ta sẽ cό được sự phάt triển từ ngôn ngữ trẻ sσ sinh, trẻ thσ thành ngôn ngữ cὐa người Việt trưởng thành.

Biến âm theo nguyên âm.

.U = a, ᾰ, â.

Từ nguyên âm U qua:

-Ả: Việt ngữ ἀ chỉ nàng, phάi nữ.

-Ạ: vâng, bằng lὸng

.Ắp: đầy, no.

-Ấp: ὐ

.U= e, ê

Từ nguyên âm U qua:

-E ấp: thẹn, sợ.

-Ép: άp

-Ẻ: là ị, ỉa.

-Ẹ: bẩn, do ị sinh ra.

.U = o, σ, ô

Từ nguyên âm U qua:

– O là cô, mụ.

-Ỏ: không

-OO: ngάy, ngὐ.

-Ồ, Ồ: tiếng nước chẩy, đi tѐ.

-Ô, dὺ, che chở

.U = Ư

Từ nguyên âm U qua:

-U: cάi u, cάi vύ, chỗ phồng sưng như sưng u, cục u, u bướu.

-Ù: biến â cὐa u như sưng ὺ; mập ὺ; ύ, ὺ…

-Ú: mập; ύ là vύ: bάnh ύ cό hὶnh cάi vύ. Ú giἀn lược hay dᾳng nguyên khởi cὐa uống.

-Ụ: mô đất cao. Ú ụ là vun lên cao như nay ύ ụ.

-Ủ: ấp, tὐ, phὐ, dύ.

-Ũ: tưσng đưσng với ύ.

-Ư: đάp lời.

-Ừ, Ừa: bằng lὸng.

-Ứ ừ: không, không chấp thuận

.. . . . .

Biến âm từ nguyên âm qua phụ âm.

Như trên đᾶ biết hὶnh ἀnh ban đầu cὐa người mẹ (U) đối với trẻ sσ sinh là cάi u (vύ) trên ngực mẹ đồng hόa với ngưồn nước dinh dưỡng là sữa. Vὶ thế ở đây tôi chỉ giới hᾳn sự biến âm cὐa từ u qua ba nghῖa liên hệ tới vύ, mẹ, nước.

.Theo U = B = P = Ph.

a. U = B : U (mẹ, vύ) = Bụ (vύ).

Từ nguyên âm U qua:

-Bu: với b câm bu= u. Bu là mẹ, cὺng nghῖa với u, vύ. Cάi bu gà đan bằng tre để ύp gà vịt cό hὶnh cάi vύ.

-Bụ: người Huế nόi cάi vύ là cάi bụ.

-Bύ: nghῖa là vύ, mύt sữa.

-Bụ: bụ bẫm nhờ bύ nhiều sữa.

-Bứ: no quά, ứ tận cổ (bύ, ᾰn, uống nhiều).

.Theo U = C = G = H= K = Q.

Xem C = K = Kh ở dưới.

.Theo U = D.

U = V = D.

Từ nguyên âm U qua:

– U (vύ) = dύ: vύ (người Nam nόi vύ là dύ).

– Ủ (tiếng Bắc ὐ làm cho ấm, lên men, chίn) = dύ (Trung Nam).

-Dῦ: Hάn Việt là mẹ như Từ Dῦ, Mẹ Hiền. Theo d = nh, dῦ = nhῦ, vύ.

.Theo U = G (xem U = C= G = H= K= Q):

U = G .

Từ nguyên âm U qua:

Gu = u: chỗ nổi phồng lên, nổi gu (Hὺynh Tịnh Paulus Cὐa, Đᾳi Nam Quốc Âm Tự Vị); gὺ là cό cục u trên lưng như Thằng Gὺ ở nhà thờ Đức Bà.

.Theo U = H.

Ta cό H C = G = K = Q.

Theo Swadesh “vào một lύc nào đό trong thời tiền sử, trong Đức ngữ K biến thành H”. Trong Việt ngữ K = H như bệnh kѐn = bệnh hen, bệnh nhân bị hen thở cὸ cử như thổi kѐn (xem Tiếng Thuần Việt); kiêng, khem = hѐm, kiệt, kẹt = hẹp, hẻm (đường); kết = hết; kiss = hίt…

Xem H ở G, K, Kh.

.Theo U = K, Kh.

Theo Dolgoposky trong ngôn ngữ Bắc Á-Âu phụ âm C phάt gốc từ *k, *g (note số 8). Trong cάc mẫu tự cổ Ai Cập không cό phụ âm C và K dὺng như C (xem Ngôn Ngữ Việt và Ngôn Ngữ Thế Giới). Việt ngữ cῦng thấy rō C do K, Kh như con chό là con cầy, theo Codѐs, người Quἀng Trị, Quἀng Bὶnh gọi con cầy là con khai.

.Theo U = L.

Từ nguyên âm U qua:

Ủ (ngὐ) = cổ ngữ Việt Lύ là ngὐ:

Giό mὺa thu mẹ ru con lύ

(câu hάt cổ Miền Trung).

Lύ hiện kim nghῖa u mê như lύ lẫn như trong trᾳng thάi mê ngὐ.

.Theo U = M.

Từ nguyên âm U qua:

-U (phồng, sưng) = Mu: chỗ phồng lên như mὺ rὺa.

-U (mẹ) = mụ: phάi nữ cό tuổi, mẹ: Thiên Mụ là Mẹ Trời [= mᾳ, mά, mẹ, me, mệ (người nữ lớn tuổi, người nữ: mệ nàng), mị (người con gάi đẹp), mợ (cό vὺng ở miền Bắc gọi cha mẹ là cậu mợ); em gάi cὐa mẹ].

.Theo U = N, NG, NGH, NH.

Từ nguyên âm U qua:

-U (mẹ) = Mường ngữ ngu là mẹ như Ngu Cσ = Âu Cσ = U Cσ.

-U (chỗ nhô lên, vύ) = nhύ: chỗ nhô ra như cάi vύ, Hάn Việt nhῦ là vύ.

-Ú (uống, bύ) = nύt: bύ, nύt sữa, “nύt lưỡi”.

= nuốt (ᾰn, uống) = nuốt: biến âm với nước,

con sứa thân toàn bằng nước nên cό một tên là con nuốt = nύc là nước như bếp nύc.

.Theo U = P, ph xem B (Việt ngữ p=b).

.Theo U = Q

xem U = C= G = H= K= Q.

.Theo U = R, Th.

(Mường ngữ th = r Việt ngữ như thang = rᾰng). Xem D

Từ nguyên âm U qua:

Ủ (ngὐ) = Rῦ. Rῦ là ngὐ thấy qua từ đôi ὐ rῦ. Theo r = l, rῦ = lύ (ngὐ).

.Theo U = S, X.

Mường ngữ S, X = Việt ngữ th như sịt = thịt, sάi = thάi.

Từ nguyên âm U qua:

-U (sưng) = Sưng.

-U = Ưu = Sầu.

.Theo U = T, Th, Tr

Mường ngữ t, tl = Việt ngữ ch, tr như tί = chί, tlong = trong.

Từ nguyên âm U qua:

-Ú (uống) = Tu.

-U (vύ) = tô (vύ).

Mường ngữ tô là vύ, Khἀ Lά Vàng tô cῦng là vύ (Bὶnh Nguyên Lộc, NGMLCDTVN, tr. 640). Một vài tộc Tây nguyên cό tô là vύ như địa danh Dak To. Cό Dak là đάc là nάt là nước, Tô là vύ, Dak To là Nước Vύ tức Sữa.

.Theo U = V.

Từ nguyên âm U qua:

-U (chỗ phồng sưng lên) = vύ ( chỗ phồng, u lên ở ngực phάi nữ).

-U (mẹ) = vύ là mẹ, người nuôi con bằng sữa như bà vύ, chị vύ em.

– U (sưng) = vὺ là sưng như sưng vὺ cὺng nghῖa với u.

-U (vύ) = vụ: con quay cό hὶnh cάi vύ.

Như vậy ta thấy nguyên âm U sinh ra cάc phụ âm cὺng nghῖa hay biến nghῖa. Và cứ như thế theo nhu cầu tiến hόa từ này đẻ ra từ kia, sinh sôi nẩy nở hoặc tự sinh sἀn hay vay mượn theo những dὸng nghῖa qua biến âm, tᾳo ra ngôn ngữ Việt nόi riêng và ngôn ngữ loài người nόi chung. Vί dụ lύc cὸn là sσ sinh đứa trẻ được mẹ ὐ ấm là nσi nưσng tựa trύ thân, lớn thêm tάch rời khὀi mẹ nhờ cάi ổ (như ổ rσm) và về sau này là chỗ ở. Ủ, ổ, ở liên hệ với nhau qua biến âm.

Việt Ngữ U là một từ Tiền cổ-homosapiens

Theo Bὺi Đức Tịnh “Việt ngữ cό hầu hết tất cἀ âm vận cὐa ngôn ngữ loài người” (tr. 188). Vậy ta hᾶy so sάnh từ nguồn cội U cὐa Việt ngữ và cάc ngôn ngữ khάc xem sao. Nόi một cάch khάc từ U cὐa Việt ngữ là một từ trong nguồn cội cὐa ngôn ngữ loài người, một từ tiền cổ homo sapiens.

1. Ấn-Âu ngữ

-Anh ngữ udder: vύ (ngày nay chỉ vύ cό nhiều nύm vύ như vύ bὸ cάi) phάt gốc từ Anh ngữ Trung cổ uddyr. Anglosaxon ngữ ὺder, họ hàng với Hὸa Lan ngữ uijer, Đức ngữ euter, Old High German ngữ ὺtar, ὺtiro, Latin uber, Phᾳn ngữ ὺdhar. Tất cἀ cό gốc u là vύ như Việt ngữ.

-uterus (Anh, Phάp); dᾳ con, cό một nghῖa là mẹ như Mường ngữ dᾳ là người đàn bà cό con. Uterus cό u- là mẹ.

-Phᾳn ngữ: uras, ruras-ja, uroja: vύ phụ nữ cό u là vύ. Uma là vị nữ thần đầy quyền nᾰng cὐa Ấn Độ, vợ cὐa Shiva, con cὐa thần nύi Himalaya cό u là Mẹ. Đᾳi Hàn ngữ uma cῦng là mẹ. Uma ruột thịt với Việt ngữ U là mẹ. Lưu у́ U Việt ngữ U là nguyên âm đσn mang tίnh gốc, cội nguồn cὸn Uma đᾶ là dᾳng đa âm phức tᾳp cό muộn.

-Phᾳn ngữ vaksshoja, vύ đàn bà liên hệ với vaksas, vύ cho ra vaca, vύ, Phάp ngữ vache, bὸ sữa cό va- = vύ.

2. Chi Mᾶ Lai Ngữ.

-Mᾶ-Nam Dưσng ibu là mẹ, susu: sữa, vύ.

-Cổ ngữ Java babu là mẹ, vύ già.

2. Miến-Tᾳng ngữ.

Burma ngữ bu là mẹ.

4. Đông Quốc ngữ (Tungusic)

a- Nhật ngữ

-Uba là vύ em, bà già, vύ già, u già cό gốc u.

-Cổ ngữ Nhật um- (‘give birth’) đẻ.

-Okasan là mẹ (biến âm u=o).

b-Ngôn ngữ Trung và Bắc Á châu.

-Tộc Yakut: udogan là bà đồng, nữ thầy phάp (shamaness, medicine woman) cό u là mẹ. Cῦng xin nhắc lᾳi từ đồng cὐa Việt ngữ là mẹ, đồng bόng là bόng mẹ (trời). Hάn Việt bà đồng gọi là vu, ông đồng là hίch. Vu rō ràng liên hệ với vύ, u là mẹ.

-Mông Cổ: buga, boga hay buge chỉ shamaness. Cό bu là u.

5. Ainu ngữ.

Cό nhà ngữ học cho Ainu (Hà Di) ngữ là một ngôn ngữ độc lập nên tôi xếp riêng ra.

-Unu hay unubu: mẹ, cό u, bu là mẹ.

-eu: bố mẹ, rō ràng e là cha, u là mẹ.

-Buchi, Fuchi là Mẹ Tổ nữ thần lửa, thần mặt trời cό biểu tượng là ngọn nύi cao mà người Nhật phiên âm thành Phύ Sῖ.

6. Á-Phi ngữ.

-um là mẹ.

-uzza (Ả Rập Tiền-Hồi giάo): nữ thần.

7. Ngôn ngữ thổ dân Mў châu (Amerind).

-Mễ, tộc Huastec: usum ‘woman, wife’, đàn bà, vợ. Người chồng Việt cῦng gọi vợ là u mày, bu mày.

-Penutian, California, tộc Miwok: ?osa: đàn bà.

8. Ngôn ngữ Úc châu.

-Tộc Wadjuk: bibi, vύ đàn bà.

-Tộc Bayungu: pipi, mẹ.

Như thế ta thấy u, vύ, bu cὐa Việt ngữ liên hệ với tất cἀ ngôn ngữ nᾰm châu bốn biển. Từ U Việt ngữ là một từ Tiền cổ-homosapiens.

Tόm Lược.

Theo tôi từ U cὐa Việt ngữ là một từ nguồn cội cὐa ngôn ngữ loài người. Cό nhiều bằng chứng thuyết phục chứng minh rằng U là từ gốc cội cὐa ngôn ngữ loài người.

-U nguyên thὐy là một âm thanh, một tiếng kêu cὐa loài động vật cό phổi.

Ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ tiếng kêu cὐa loài đười.Tiếng kêu cὐa loài thύ, loài đười thường là một âm thanh đσn giἀn, một nguyên âm và như đᾶ thấy âm ooh nhiều nhất. Ngôn ngữ loài người chuyển từ ngôn ngữ loài đười vậy cῦng phἀi bắt nguồn từ một nguyên âm, nόi chίnh xάc hσn là âm u. Tiếng kêu u (a) khi lọt lὸng mẹ cὐa người Việt là một âm thanh đσn giἀn, một tiếng kêu, một nguyên âm y hệt tiếng ooh ở loài dᾶ nhân chimpanzee.

-U là tiếng kêu cὐa sự sống.

U (đi với a trong tiếng kêu chào đời u a) nguyên thὐy ở trẻ sσ sinh chỉ là một âm thanh đσn thuần do hiện tượng sinh lу́ hίt hσi vào phổi hay động tάc bύ “không khί”. Vὶ thế u là nguồn gốc cὐa sự sống cὐa con người. Không cό u phổi không bung ra, không cό hσi thở, không thành người được. U là nguồn cội cὐa sự sống và cὐa ngôn ngữ con người.

-U tiếng kêu chung cὐa loài động vật tức cὐa loài đười và trẻ sσ sinh.

U là do hiện tưσng sinh lу́ chung cho tất cἀ loài vật cό phổi cό thể tᾳo ra tiếng kêu. Vὶ thế u là tiếng kêu chung cὐa loài thύ, trẻ sσ sinh. Nόi một cάch khάc u là gốc cội cὐa ngôn ngữ nghῖa là tiếng kêu cό thêm у́ nghῖa vào.

-Tiếng kêu u, ngôn ngữ loài vật trở thành ngôn ngữ trẻ sσ sinh, trẻ thσ.

U là tiếng kêu nguyên thὐy vô nghῖa cὐa trẻ sσ sinh sau cό những nghῖa cᾰn bἀn bao trὺm cἀ những nhu cầu vật chất và tâm cἀm cὐa trẻ sσ sinh và trẻ thσ, trở thành ngôn ngữ trẻ sσ sinh và trẻ thσ và rồi phάt triển thành ngôn ngữ cὐa người lớn, cὐa ngôn ngữ trọn vẹn.

-U nguyên khởi là một từ “vô ngôn”. Ở loài thύ và trẻ sσ sinh, theo bἀn nᾰng sinh tồn, nhờ phἀn xᾳ bύ (để sống), bằng xύc giάc, bằng khứu giάc, bằng những hướng động khάc như hướng động sữa, hướng động vύ… nό đᾶ tiếp cận được nguồn sữa ở nσi mẹ. Khi mở mắt, thị giάc giύp chύng thêm. Ở loài vật và trẻ sσ sinh chắc chắn nguồn sữa trở thành một biểu tượng “không lời” nhưng cό đầy у́ nghῖa “vô ngôn” đối với chύng. Chύng biết chỗ nguồn sữa cό những đặc thὺ khάc những nσi khάc không cần nhờ tới ngôn ngữ. Cάi nguồn sữa đό cό hὶnh dᾳng, cό cἀm giάc và cό у́ nghῖa “vô ngôn” đặc biệt đối với chύng. Cάi nguồn sữa đό u phồng cᾰng đầy chất nước dinh dưỡng. Ở loài vật và trẻ sσ sinh chỗ u đό vẫn là “vô ngôn” nhưng ở trẻ thσ tự nό nhận ra hay “học hὀi” được, chỗ u phồng cᾰng sữa trên ngực mẹ cό thêm nghῖa cὐa ngôn ngữ là cάi u, cάi vὺ, cάi vύ và rồi cάi vύ là cάi bύ, người cό cάi vύ là u, là bu, là vύ (mẹ)… Chỗ u cό sữa “vô ngôn” như một biểu tượng, một “hὶnh ngữ” trở thành một từ u “hữu ngôn” cό nghῖa cὐa ngôn ngữ Việt. Hiển nhiên từ u là một từ nguồn cội cὐa ngôn ngữ Việt.

-Tᾳi sao không là những nguyên âm khάc như a (ᾰ, â), e (ê), i, o (ô, σ) mà là âm u? Cό người thắc mắc là tiếng kêu khόc u, a cὸn được cho là oa oa, oe oe. Tᾳi sao âm u là nguồn cội cὐa ngôn ngữ loài người mà không là âm o, a hay âm e? Như đᾶ thấy ở trên âm a là âm sau âm u, khi không khί bị tống ra tức thở ra. Không khί ὺa vάo tức là hίt vào phάt ra âm u trước, sau đό không khί tống ra tᾳo ra âm a. Âm a cό sau âm u. Trong Việt ngữ a không phἀi là tiếng gọi mẹ. A không diễn tἀ đὐ hết nghῖa cὐa cάc nhu cầu cᾰn bἀn cὐa con thύ và con người là ᾰn ngὐ, bài tiết, ấp ὐ lύc mới chào đời và sau này là thất tὶnh. A sau này mang dưσng tίnh như dὺng gọi cha (άng) và được diễn ta bằng hὶnh mῦi mάc trong chữ nὸng nọc và hὶnh đầu bὸ cό hai sừng trong mẫu tự alphabet. Ta thấy rất rō hai tiếng kêu u a nguyên thὐy là hai tiếng kêu sinh lу́ học, rồi trở thành hai từ u, a và chia ngôn ngữ Việt cῦng như ngôn ngữ loài người ra hai dὸng u mẹ và a cha, hai dὸng âm dưσng. Tiếng kêu u sinh ra dὸng ngôn ngữ mẹ và tiếng kêu a ra dὸng ngôn ngữ cha. Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ âm dưσng, ngôn ngữ dịch nὸng nọc.

Cὸn từ o? O mang âm tίnh cὸn u là dᾳng chuyển động mở ra cὐa O. O là cάi miệng dᾳng tῖnh cὸn

U là dᾳng miệng môi chuyển động trong động tάc bύ. Việt ngữ hiện kim o là mụ, cô… nhưng không cό trọn vẹn nghῖa như u là vύ. Tᾳi sao không là e, là i? Tưσng tự e, i cῦng không phἀi là mẹ và không chuyển chở hết у́ nghῖa cὐa nhu cầu cᾰn bἀn cὐa con người.

Như đᾶ biết a, o, e, i, không là âm do động tάc bύ cὐa môi miệng nên không cό tίnh chất sinh lу́ học chung giữa loài vật và người như từ u. Cό thể trong một ngôn ngữ loài người nào đό cό những từ đσn âm a, e, o, i, cό nghῖa là vύ, mẹ và cό thể diễn tἀ được trọn vẹn у́ nghῖa cὐa nhu cầu cᾰn bἀn cὐa con người như từ u cὐa Việt Nam. Tôi đᾶ tὶm đọc trong mớ tài liệu hᾳn hẹp cό trong tay nhưng không thấy cό trong một ngôn ngữ nào cἀ. Giἀ dụ cό đi nữa thὶ những tộc này cὺng chia xẻ nguồn gốc ngôn ngữ với chύng ta. Cό thể đᾶ muộn vὶ cάc nguyên âm a, e, i cό thể biến âm cὐa O, U. Họ và chύng ta cὺng ở cάi gốc cάi cὐa ngôn ngữ loài người rồi sau đό tάch riêng ra. Chύng là ngôn ngữ chị em ruột thịt với chύng ta. Cάc ngôn ngữ này bắt buộc phἀi cό cάc từ, a, e, o, i cό nghῖa cᾰn bἀn cὐa tὺ u Việt ngữ như cό nghῖa là tiếng kêu sinh lу́ học, chỗ u lên tức cάi vύ, mẹ, sữa, nước. . . diễn tἀ được tứ khoάi và thất tὶnh.

-Ngôn ngữ Việt khởi thὐy gồm những ngữ tố đσn vận, giἀn dị. “Khi bắt đầu tiếp xύc với vᾰn hόa Trung Hoa, tổ tiên ta đᾶ cό một ngôn ngữ đặt câu xuôi và gồm những ngữ tố đσn vận, cό ίt nhiều thinh trầm bổng. Vào thời cổ lỗ ấy, cό lẽ mỗi ngữ tố đσn vận đều cό thể cό giά trị như một tự ngữ. Hồi ấy, Việt ngữ đύng là một thứ tiếng đσn vận vậy” (Bὺi Đức Tịnh, tr. 177). Tάc giἀ Bὺi Đức Tịnh cῦng trίch dẫn “Trong Bάch Khoa Tự Điển cὐa Phάp (Grande Encyclpе́die, Inventaire Raisonnе́ des Sciences, des Lettres et des Aarts) cό viết “ Những thứ tiếng ấy, thấy hiển nhiên là giἀn dị hσn cἀ, khiếm khuyết hσn cἀ, thô sσ hσn cἀ cάc thứ tiếng đᾶ được mệnh danh là ngôn ngữ đσn tự hay đύng hσn đσn âm” (tr. 80).

Những từ Việt đσn vận cό thể coi là những gốc cho những từ đa vận trong cάc ngôn ngữ khάc. Sự tiết hợp (articulation) cὐa ngôn ngữ là một tiến trὶnh tân tiến hόa cὐa sự sinh tᾳo ra ngôn ngữ. Trong cάc từ mẹ cό gốc u, bu cὐa cάc tộc ngôn ngữ thế giới nêu trên hầu hết đầu là đa vận nghῖa là đᾶ phức tᾳp, đᾶ hoàn thiện, đᾶ tân tiến không phἀi là cổ sσ, gốc tổ.

Việt ngữ là ngôn ngữ cό từ u (mẹ, vύ) là một đσn tố đσn giἀn nhất. U là chữ mẹ đσn giἀn nhất cὐa ngôn ngữ loài người. U là thanh âm cὐa hσi thở (vào) khởi đầu cὐa sự sống lύc chào đời.

Từ U là hόa thân cὐa tiếng kêu u thấy chung ở loài dᾶ nhân và trẻ sσ sinh.

-Ngôn ngữ Việt là một ngôn ngữ tối cổ liên hệ với Phᾳn ngữ, Maya ngữ Đông Á châu, Maya ngữ Trung Mў, Úc ngữ, Châu Phi ngữ… những ngôn ngữ này được cho là những ngôn ngữ cổ nhất cὐa loài người. Lời nόi cuối cὺng cὐa Đức chύa Jesus cῦng là bằng tiếng Việt cổ.

-Tiếng Việt cό hiện tượng chữ câm, bao trὺm tất cἀ cάc thanh âm, cάc mẫu tự, chuyển hόa được từ nguyên âm là nền mόng cὐa âm thanh, là tiếng kêu loài thύ và ngôn ngữ trẻ sσ sinh, trẻ thσ sang phụ âm mang tίnh phức tᾳp hσn cὐa ngôn ngữ người lớn. Tiếng Việt là nhịp cầu nối tiếp giữa tiếng kêu, ngôn ngữ loài vật qua ngôn ngữ loài người.

-Tiếng Việt cό hiện tượng biến âm lịch sử cῦng bao trὺm tất cἀ cάc thanh âm, cάc mẫu tự, chuyển hόa được từ này qua từ khάc, từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khάc như một mᾳng lưới ngôn ngữ nối kết tất cἀ ngôn ngữ loài người.

-Tiếng Việt cό gốc chữ. Từ một gốc chίnh đẻ ra những gốc phụ nhờ vào cάc đặc tίnh vừa kể trên. Tiếng Việt cό bao nhiêu dấu giọng, bao nhiêu thanh âm, vần vận thὶ cό bấy nhiêu gốc chữ. Từ một gốc cάi, mẹ đẻ ra cάc gốc con. Áp dụng vào từ gốc u ta thấy u đẻ ra cάc từ chỉ mẹ (bu, dύ, dῦ, mụ, tu, tô, vύ); đẻ ra cάc từ nước (ύ, ướt, nύc, nước. . .) v. v…

-Tiếng Việt cό hiện tượng lấp lάy mà thành tố lάy là những từ cό trong cάc ngôn ngữ khάc cὐa loài người.

-Cuối cὺng nếu chấp nhận ngôn ngữ loài người cό cὺng một gốc đười gọi là Tiếng Mẹ thὶ ngôn ngữ Việt là nguồn gốc hay mang chứng tίch cὐa nguồn gốc ngôn ngữ loài người là điều hợp lу́.

-Cάch đây hσn một thế kỷ một đᾳi tά phάo binh hἀi quân người Phάp tên là Frey cῦng đᾶ từng viết tάc phẩm L’Annamite, Mѐre Des Langues (Tiếng An Nam, Tiếng Mẹ Cὐa Ngôn Ngữ ‘Loài Người’) (Hacchette, Paris, 1892). Mặc dầu tάc phẩm cὐa ông cό nhiều khiếm khuyết chẳng hᾳn như ông không phἀi là người Việt nên không phân biệt được những từ thuần Việt và Hάn Việt; khi so sάnh Việt ngữ với cάc ngôn ngữ khάc ông đᾶ “suy diễn” quά đάng nhiều chỗ… nên công việc làm cὐa ông bị quên lᾶng. Tuy nhiên phἀi cho ông một điểm son là ông đᾶ cἀm nhận thấy một điều là Việt ngữ cό thể là “Mѐre Des Langues” và ông chỉ chưa thuyết phục được mọi người mà thôi.

Kết Luận.

Tόm gọn lᾳi từ U cᾰn bἀn chỉ là một âm thanh thiên nhiên, tự nhiên vô nghῖa do khί, giό tᾳo ra như giό thổi u u, tiếng hίt hσi vào thấy tiếng ở loài vật cό phổi như tiếng giό ὺa vào phổi, tiếng thở đầu tiên cὐa một con người. Rồi từ u trở thành tiếng kêu, ngôn ngữ loài vật, trở thành tiếng kêu, tiếng khόc, tiếng kêu-khόc, ngôn ngữ cὐa trẻ sσ sinh. Âm u, từ U là cầu nối giữa ngôn ngữ loài đười và loài người. Ngôn ngữ cὐa trẻ sσ sinh khởi sự từ tiếng hσi thở chào đời u (a), từ cάi chỗ u phồng nguồn sữa cὐa mẹ, từ cάi vύ mẹ, từ vύ, từ u (cό nghῖa là me). Cuối cὺng u trở thành ngôn ngữ trẻ thσ và người lớn. Ngôn ngữ loài người khὀi sự từ một tiếng U, một âm U, một từ U, một từ Mẹ trong ngôn ngữ Việt. U LÀ TIẾNG MẸ (MOTHER TONGUE) CỦA LOÀI NGƯỜI. Không một ngôn ngữ nào khάc cὐa loài người cό một nguyên âm U, một từ U huyền diệu như âm U, từ U cὐa Việt ngữ. Hiển nhiên qua từ U và những đặc tίnh khάc như đᾶ thấy, Việt ngữ cό thể là nguồn gốc cὐa ngôn ngữ loài người hay nόi một cάch nhύn nhường, dѐ dặt hσn là Việt ngữ cό những địa khai ngôn ngữ (“language fossil”) cὐa nguồn gốc ngôn ngữ loài người.

Ôi! U, một thanh âm tuyệt vời, một tiếng kêu, một tiếng gọi, một từ huyền diệu. U là Mẹ, là Tiếng Mẹ Huyền Diệu cὐa Ngôn Ngữ Loài Người, là Nguồn Gốc cὐa Ngôn Ngữ Loài Người.

Nguyễn Xuân Quang

Trích trong Tiếng Việt Huyền Diệu, được nhuận sắc lại bởi Nguyễn Xuân Quang