Đọc khoἀng: 2 phύt

Trong tiếng Việt, A Di Đà Phật cό 2 nghῖa:

1. Tên cὐa Phật A Di Đà – vị giάo chὐ cōi Tây phưσng Cực lᾳc và là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giάo Đᾳi thừa, tượng trưng cho từ bi và trί huệ.

2. Câu niệm Phật trong Tịnh Độ Tông – một tông phάi Phật giάo thực hành chὐ yếu ở khu vực Đông Á.

Đức Phật A Di Đà là ai qua lᾰng kίnh khoa học

Về từ nguyên, A Di Đà là kί âm từ tiếng Sanskrit Amitābha. Chữ này thành lập từ tiền tố a- (không, dịch là ) và mita (đo lường, dịch là lượng) với phụ tố ābha (sάng, dịch là quang). Vὶ vậy, Amitābha dịch là Vô Lượng Quang (Phật). Tuy nhiên, Amita – cῦng là thành phần đầu cὐa chữ Amitāyus với ayus (đời sống dài, dịch là thọ), cho nên A Di Đà Phật cὸn cό nghῖa là Vô Lượng Thọ (Phật).

Theo kinh điển Phật giάo Đᾳi Thừa, Phật A Di Đà vốn là một vị vua trong quά khứ, người sau đό đᾶ từ bὀ vưσng quốc cὐa mὶnh để trở thành một tu sῖ Phật giάo cό tên là Dharmakara,  nghῖa là Kho Chứa Phάp. Được truyền cἀm hứng bởi những lời dᾳy cὐa Phật Lokesvaraja, Phật A Di Đà đᾶ phάt 48 lời thề nguyện, thiết lập cōi Tịnh Độ cό tên gọi là Cực Lᾳc (Sukhāvatī) nhằm cứu độ tất cἀ chύng sanh. Trong 48 lời nguyện cὐa Phật A Di Đà, lời nguyện thứ 18 cό nêu: “Nếu cό chύng sanh nào nghe danh hiệu A Di Đà Phật mà phάt tâm tin tưởng, nguyện sanh về cōi Cực Lᾳc, nhất tâm niệm 10 niệm Nam Mô A Di Đà Phật thὶ sẽ được vᾶng sanh về cōi Cực Lᾳc”.

Nam mô là hὶnh thức phiên âm cὐa tiếng Pāli namo (Sanskrit namaor namas) – thάn từ thể hiện sự tôn kίnh, thường đặt trước tên cὐa một đối tượng được sὺng kίnh. Nam Mô A Di Đà Phật (namo-‘mitābhāya) hay được rύt gọn thành hai chữ Mô Phật bao hàm у́ nghῖa “Tôi xin thành kίnh đến Đức Phật A Di Đà”.

Hiện nay, giới Phật tử xuất gia hay cư sῖ tᾳi gia thường dὺng câu niệm Phật này để chào nhau.

TH/ST