Đọc khoἀng: 11 phύt

Theo sάch Khἀo công đồ kу́ một nhᾳc khί bằng đồng phἀi đἀm bἀo 17% thiếc trong hợp kim đồng, nhưng đằng này trống đồng Đông Sσn loᾳi I Heger tỷ lệ thiếc chỉ cό 0,5%, cὸn tỷ lệ chὶ thὶ cao đến 25% mà chὶ thὶ làm câm tiếng lᾳi. Do đό trống đồng không chỉ cὐa Đông Sσn ở Việt Nam mà cὐa cἀ vὺng Đông Nam Á là vật “thiêng”. Cὸn ai nόi trống đồng là một nhᾳc khί là nguỵ biện, nhai lᾳi lời cὐa Mᾶ Viện, kẻ rắp tâm phά nάt nền vᾰn hoά tâm linh vật “hѐm” (trống đồng) cὐa người Lᾳc Việt1.

Lᾳc Việt là một khάi niệm rất rộng, bởi đό là tổ tiên chung cὐa cư dân nhόm ngôn ngữ: Việt – Mường, Tày – Thάi, Môn – Khσ me. Người Lᾳc Việt từ thiên kỷ thứ IV đến thứ I trước công nguyên cό địa bàn cư trύ từ bờ nam sông Trường Giang (nay thuộc lᾶnh thổ Trung Quốc) đến phίa Nam, tận cάc Hἀi đἀo cὐa nhόm cư dân nόi tiếng Môn – Khσ me, trong đό trung tâm là người Lᾳc Việt. Từ trên quê hưσng rộng lớn ấy, đᾶ sἀn sinh ra nền vᾰn minh trống đồng, cho nên hiện thời giới khἀo cổ học đᾶ khai quật loᾳi cổ vật ấy ở cάc di chỉ, đến nay số lượng phάt hiện được, đᾶ lên đến gần 3000 chiếc, được trưng bày ở cάc bἀo tàng trong khu vực.

Mỗi dân tộc trong cộng đồng người Lᾳc Việt (Bάch Việt) đều đᾶ đόng gόp trί tuệ, công sức cὐa họ trong việc tᾳo dựng nên nền vᾰn minh Đông Sσn, trong đό đặc biệt là biểu trưng vật linh trống đồng.

Trong thời tiền sử, mỗi dân tộc đều cό một vật “thiêng”, tượng trưng cho vᾰn hoά tâm linh cὐa dân tộc mὶnh và quyền uy cὐa tὺ trưởng. Cό tộc vật “thiêng” là chiếc gậy, cό tộc vật “thiêng” là cάi mῦ (vί dụ chiếc “gậy” và “nόn” cὐa Chử Đồng Tử – Giao Chỉ), hoặc với người Thiên chύa giάo vật “thiêng” cao nhất là Kinh thάnh, vật “thiêng” thứ đến là Thάnh giά. Cὸn vật “thiêng” cao nhất cὐa người Lᾳc Việt là “hѐm” trống đồng.

Ở người Lᾳc Việt, Giao Chỉ là vật “hѐm” Ngọc Lῦ (hὶnh 1), vật “thiêng” thứ đến là “ấn” đồng cό viền dây Tσ hồng xung quanh (hὶnh 2), vật “thiêng” cὐa nhόm ngôn ngữ Tày – Thάi là trống đồng loᾳi II chᾰng, trong phân loᾳi trống đồng cὐa Heger.

Fr.Heger tάc giἀ người Áo (1902) đᾶ phân trống đồng làm bốn loᾳi, kу́ hiệu: I-II-III-IV La Mᾶ. Việc phân loᾳi đό cὐa ông, cho đến nay vẫn cὸn giά trị, vὶ thế khi nόi về cάc loᾳi trống này, thὶ tên ông được ghi kѐm theo từng loᾳi trống.

Để tiến hành phân loᾳi, Heger đᾶ khἀo tἀ chi tiết về cάc yếu tố: kết cấu hὶnh dάng và hὶnh ἀnh cάc motif hoa vᾰn trang trί trên từng trống đồng (144 chiếc ở cάc Bἀo tàng cὐa cάc nước châu Á và châu Âu đưσng thời) theo đό ông coi trống đồng loᾳi I xuất hiện đầu tiên, ở miền Bắc Việt Nam2.

Việc Fr.Heger coi trống đồng loᾳi I xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam từ thời cổ đᾳi, sau này (1983) tưσng đồng với у́ kiến đό và cὸn nâng lên thành vật “thiêng” biểu trưng quyền uy cὐa một tôn giάo, đό là nhà học giἀ người Australia H.Loofs-Wwiosowa với thuyết “Biểu chưσng vưσng quyền”, coi trống đồng là vật tượng trưng cho quyền lực hợp phάp. Ông cho rằng, cό một quyền uy tôn giάo tồn tᾳi ở Bắc Việt Nam thời cổ, tưσng tự với quyền uy cὐa giάo hoàng ở phưσng Tây. Theo ông cάc tὺ trưởng bộ lᾳc ở nhiều vὺng Đông Nam Á cổ đᾶ cử sứ bộ đến Bắc Việt Nam để xin ban cάc trống đồng mà với chύng, họ cό thể làm vua hợp phάp3.

Vào thời đό trong 15 bộ cὐa nước vᾰn Lang – Giao Chỉ đᾶ cό bộ lᾳc cὐa nhόm ngôn ngữ Tày – Thάi. Tuy nhiên nếu bộ lᾳc cὐa nhόm ngôn ngữ Tày – Thάi nào đό mà ở xa, không nằm trong nước Vᾰn Lang cὐa Vua Hὺng thὶ cάc tộc trưởng cử sứ bộ đến nước Vᾰn Lang để xin trống đồng, hoặc vua Hὺng cho đưa mẫu về đύc tᾳi quê hưσng cὐa bộ tộc nhόm Tày – Thάi đό. Điều này giἀi thίch tᾳi sao cό sự thống nhất về nhiều yếu tố cὐa mẫu hὶnh trống đồng, cὸn tίnh dị biệt thὶ không đάng kể, ngoài ra cὸn hàm nghῖa sâu kίn ẩn tàng trong hoa vᾰn trống đồng Ngọc Lῦ. Đό là điểm khởi nguyên cὐa vᾰn minh trống đồng.

Vật “thiêng” (Tabu) tiếng Thάi gọi là “cᾰm dᾰm” là vật linh thiêng huyền bί, bί hiểm, điều không được nόi ra, động đến thάnh thần. Không phἀi dễ để ai cῦng biết được nội dung. Muốn biết (nội dung) phἀi thông qua thần chύ cὐa thày mo.

Tâm thức về vật “thiêng” trống đồng cὐa nhόm ngôn ngữ Tày – Thάi, thὶ trống đồng là vật linh biểu trưng quyền uy cὐa tộc trưởng, hồn thiêng cὐa dân tộc. Người Thάi ở Việt Nam nhiều vὺng như Sσn La, Điện Biên vẫn chôn giấu trống đồng cὐa dὸng tộc, sau ngày hoà bὶnh thống nhất đất nước, họ mới đào trống đồng lên, đưa vào Bἀo tàng…

Tất nhiên ngày nay đi tὶm lịch sử chế tάc trống đồng ở từng tộc người, cό tổ tiên chung là người Lᾳc Việt, thὶ hẳn không cό tư liệu thành vᾰn nữa. Bởi trἀi một ngàn nᾰm Bắc thuộc, bἀn sắc vᾰn hoά cὐa người Lᾳc Việt đᾶ bị nền vᾰn minh phưσng Bắc đồng hoά, cὸn những cứ liệu số thὶ bị tịch thu, số thὶ bị tiêu huỷ… Vὶ thế ngày nay chύng ta chỉ cᾰn cứ vào những hiện vật trống đồng, do giới khἀo cổ phάt hiện được qua khai quật ở từng tộc người, cộng thêm một số ίt ὀi cứ liệu trong thư tịch cổ Trung Quốc… Để từ đό, người viết phὀng đoάn chắp nối, rồi đưa một số phάc đồ về việc chế tάc trống đồng cὐa từng cư dân trong cộng đồng di duệ xưa kia cό chung tổ tiên với người Lᾳc Việt.

Tư liệu ở đây, trίch trong công trὶnh Giἀi mᾶ hoa vᾰn trống đồng là kết quἀ cὐa nhiều nᾰm nghiên cứu vᾰn hoά Đông Sσn cὐa chύng tôi. Tư liệu này nόi việc chế tάc trống đồng ở người Lί, người Lᾶo trong nhόm cộng đồng ngôn ngữ Tày – Thάi, đựσc ghi trong sάch Quἀng Châu kу́ cὐa Bὺi Thị (Trung Quốc) – người Lу́ tức là người Lự ngày nay là người Lᾶo nay là người Lào (Cầm Trọng)

Sάch Quἀng Châu kу́ cὐa Bὺi Thị xuất hiện vào khὀang 420-487 sau công nguyên nόi việc người Lу́ người Lᾶo ở thế kỷ III công nguyên đύc đồng làm trống. Sάch hiện nay đᾶ thất truyền, chỉ cὸn lᾳi những đoᾳn dẫn, để chύ giἀi cho Hậu Hάn thư và được bἀo quἀn trong vᾰn bἀn Hậu Hάn thư. Đoᾳn vᾰn trong sάch Quἀng Châu kу́ được dịch như sau:

Người Lу́ người Lᾶo đύc đồng làm trống. Trống lấy cao lớn làm quу́, mặt trống hσn một trượng (khoἀng 0,90m). Lύc mới đύc xong, treo trống ở sân, buổi sάng bày rượu mời đồng loᾳi đến. Người đến đầy cửa, con trai con gάi nhà hào phύ lấy vàng bᾳc làm thoa lớn, cầm thoa gō trống, gō xong để lᾳi cho chὐ nhân4 – nguyên bἀn Hάn vᾰn như sau:

Lу́ Lᾶo trὺ đồng, vi cổduy cao đᾳi vi quу́, diện khoάt trượng dư sσ thành huyền ư dὶnh khắc thần trί tửu chiếu chỉ đồng loᾳi lai giἀ doanh môn hào phύ, tử nữ dῖ kim ngân vῖ đᾳi thoa chấp dῖ khấu cổ khấu cάnh lưu dῖ chὐ nhân dᾶ”.

Tư liệu này chỉ rō người Lу́ – Lᾶo đύc trống đồng là hoàn toàn phὺ hợp với bốn chữ “trống đồng Lᾳc Việt” trong sάch Hậu Hάn thư, nόi việc Mᾶ Viện lấy trống đồng Lᾳc Việt ở Giao Chỉ đưa về nước đύc ngựa đặt trước cửa điện Tuyên Đức.

Sάch Quἀng Châu kу́ cung cấp thêm cho chύng ta hai cứ liệu quan trọng. Thứ nhất, trống đồng càng lớn càng quу́, mặt rộng tới một trượng, đό là loᾳi trống đồng lớn. Thứ hai ghi lᾳi lễ khάnh thành trống đồng, đό là việc treo trống trước sân, mở tiệc rượu, mời dân chύng đến rất đông, con nhà hào phύ dὺng thoa bằng vàng, hoặc bằng bᾳc ấy cho nhà chὐ. Ở đây chὐ nhân và khάch đều là bậc hào phύ, quan lᾳi, tầng lớp trên cὐa người Lу́ người Lᾶo5.

Cό thể, chỉ cần dẫn việc chế tάc trống đồng cὐa người Lу́ người Lᾶo, chύng ta liên hệ đến việc chế tάc trống đồng cὐa cάc dân tộc khάc trong đᾳi cộng đồng Lᾳc Việt, cư trύ trên một vὺng đất rộng lớn xưa kia, từ bờ sông Dưσng Tử (nay ở Trung Quốc) – đến cάc quần đἀo phίa Nam – cư dân ngôn ngữ Môn Khme.

Theo nhà học giἀ Phᾳm Huy Thông: vᾰn hoά khἀo cổ Đông Sσn đᾶ được chứng minh là thuộc thời đᾳi đồng và thời đᾳi sắt sớm – trἀi dài 2500 đến 2000 nᾰm từ khoἀng thiên kỷ III trước công nguyên, cὺng với trung du sông Hồng là “trục trung tâm: cưσng vực trἀi phίa Nam xa đến đѐo Hἀi Vân tận xứ Quἀng không xa hồ Động Đὶnh, gồm Vân Nam và Lưỡng Quἀng ngày nay cὐa Trung Hoa… Vᾰn hoά Đông Sσn phάt triển một thời với sức sống mᾶnh liệt ở hai bên “trục” sông Hồng ấy6.

Điều đặc biệt cὐa người vὺng này là tâm thức về “đôi rắn quấn nhau nuốt voi” (hὶnh 3)7 tức là hὶnh ἀnh về dây “Tσ hồng” cὐa người Kinh (hὶnh 4) và dây “Xai Peng” cὐa người Thάi (hὶnh 5). Họ lấy đό làm hὶnh ἀnh biểu trưng sức mᾳnh cὐa dân tộc: ở chỗ đoàn kết, gắn bό chung lưng đấu cật thὶ sẽ làm nên tất cἀ và lấy đôi vợ chồng làm tiêu chί – với câu ca:

Thuận vợ thuận chồng
Tάt bể đông cῦng cᾳn

Thuận bѐ thuận bᾳn
Tάt cᾳn bể đông

Khi vợ chồng đᾶ “thuận” thὶ bể Đông cὸn tάt cᾳn, huống hồ nuốt một con voi thὶ chẳng thấm vào đâu, hoặc thuận bѐ thuận bᾳn thὶ cῦng tάt cᾳn bể Đông… Đό là tâm thức cὐa người phưσng Nam – Bάch Việt, trong đό người Việt Giao Chỉ là Trung tâm8.

Trống đồng xuất hiện trong vành đai vᾰn hoά cὐa “Trục” Sông Hồng ấy. Cό điều loᾳi trống địa phưσng nào cό trước, loᾳi trống địa phưσng nào cό sau (xem sάch “Giἀi mᾶ vᾰn hoά trống đồng” cὐa chύng tôi sắp công bố).

“Trống đồng” là dịch từ chữ “đồng cổ” cὐa Trung Quốc, do tướng Mᾶ Viện nguỵ tᾳo ra, khi y đưa quân sang Giao Chỉ đàn άp cuộc khởi nghῖa cὐa Hai Bà Trưng nᾰm 40-43 sau Công nguyên9. Trong cuộc đàn άp đẫm mάu đό, Mᾶ viện đᾶ bắt trên 300 Cừ soάi, Lᾳc tướng cὐa cuộc khởi nghῖa đày sang Ling Lᾰng và tịch thu hết vật “thiêng” (trống đồng) là tὀ lὸng thuần phục (quan niệm xưa). Điều đό chứng tὀ “vật thiêng” (trống đồng) gắn liền với Cừ soάi, Lᾳc tướng là lực lượng lᾶnh đᾳo Việt tộc hoά Hάn: Trống đồng biểu tượng cho linh hồn và quyền uy cὐa nước Vᾰn Lang – Giao Chỉ, là vật linh hiệu triệu dân tộc đứng lên chống ngoᾳi xâm.

Mᾶ Viện nhận thấy giά trị tâm linh cὐa loᾳi cổ vật này, cho nên y thực hiện một loᾳt cάc biện phάp nhằm làm mất tίnh tâm linh cὐa loᾳi cổ vật ấy. Trước hết là cấm người Lᾳc Việt – Giao Chỉ sἀn xuất, tàng chữ vật “thiêng” (trống đồng). Thứ đến y gọi loᾳi vật linh ấy là “đồng cổ” – một nhᾳc khί, ngoài ra cὸn cổ vῦ cho việc đύc và đάnh trống đồng trong những quan lᾳi cὐa cάc quận ở vὺng Lưỡng Quἀng (nay bên Trung Quốc) cho nên ngày nay ở bên đό người ta mới cό tiết mục biểu diễn trống đồng: hai người khiêng, một người đάnh, như kiểu một tiết mục đάnh trống da cὐa người Việt. Thứ ba, khi về nước Mᾶ Viện dὺng số trống đồng cướp được ở Giao Chỉ đύc ngựa, đặt trước cửa điện Tuyên Đức với thâm у́: Loᾳi linh vật cὐa Lᾳc Việt chỉ như con ngựa cho Hάn Đế cưỡi (D.Đ.MS).

Việc một ngàn nᾰm Bắc thuộc nền vᾰn minh Đông Sσn, tiêu biểu là trống đồng cὐa người Lᾳc Việt – Giao Chỉ nόi riêng và nền vᾰn minh cὐa cộng đồng Lᾳc Việt nόi chung, trong đό ngôn ngữ Tày – Thάi cὸn phἀi li hưσng, cho nền vᾰn hoά cὐa họ cῦng chịu chung số phận bị đồng hoά theo nền vᾰn minh phưσng Bắc. Ngày nay, chύng ta tὶm lᾳi dấu tίch cάi “thần” cὐa nền vᾰn hoά cội nguồn, cὐa anh linh Tiên tổ ngàn xưa, trong đό trống đồng Đông Sσn là bάu vật, mà tiêu biểu là trống Ngọc Lῦ.

Trống Ngọc Lῦ – kiệt tάc cό một không hai cὐa nhân loᾳi – kết tinh nên vᾰn minh Đông Sσn – Lᾳc Việt – hun đύc hào khί anh linh sông nύi – quốc huy nước Vᾰn Lang – biểu chưσng vưσng quyền cὐa Vua Hὺng – bức thông điệp bằng kу́ hiệu mật mᾶ ghi trên lớp đồng thau không han rỉ – gửi cάc dân tộc anh em gần xa đưσng thời và truyền lᾳi cho muôn đời hậu thế.

Nhà khἀo cổ học Hà Vᾰn Tấn viết: Tổ tiên ngàn xưa muốn nόi gὶ khi khi chᾳm khắc những hὶnh người và động vật, những hoa vᾰn trang trί trên trống đồng? Đό là những bức tranh hiện thực, những đường nе́t mang tίnh chất thẩm mў đσn thuần hay những hὶnh tượng đᾶ được mật mᾶ hoά chứa đựng những у́ nghῖa sâu kίn, cό thể liên quan đến tôn giάo hay lịch phάp? Công việc giἀi mᾶ thứ ngôn ngữ đό tất nhiên không phἀi dễ dàng10.

Ông viết tiếp: Đi tὶm cội nguồn cὐa kў thuật và nghệ thuật cὐa trống đồng, không phἀi chỉ là bἀo vệ niềm tự hào cὐa quê hưσng trống đồng, mà cὸn để bάc bὀ những luận thuyết muốn tὶm nguồn gốc trống đồng cῦng như nền vᾰn minh Đông Sσn ngoài biên giới Việt Nam.

Một bάu vật (Ngọc Lῦ), hàm ẩn tâm linh do Tổ Tiên cὐa người Lᾳc Việt Giao Chỉ tᾳo ra từ thế kỷ thứ VII trước công nguyên, nhưng đᾶ hai ngàn nᾰm nhận thức sai về bἀn chất cὐa “Vật linh” này. Nay khoa học vật lу́ và khoa học nhân vᾰn đᾶ tὶm ra bἀn chất cὐa nό. Lẽ nào chύng ta lᾳi cứ theo vết sai cῦ cứ gọi “trống đồng” và sử dụng nό như một nhᾳc khί mᾶi. Vậy giἀi phάp đưa ra vật “hѐm” “Hὺng Linh” vào đύng vị trί tâm linh mà Tiên Tổ từng tôn thờ như sau:

– Nay gọi trống đồng là “Hὺng Linh” – Hὺng Linh ở đây cό hai nghῖa. Thứ nhất: “Hὺng Linh” là Vật linh do Vua Hὺng tᾳo ra, thứ hai, “Hὺng Linh” – thὶ “Hὺng” là hὺng khί, cὸn “Linh” là anh linh sông nύi, hồn thiêng dân tộc tụ hội lᾳi. 2) Trong lễ hội đền Hὺng và ở cάc nσi khάc không dὺng chày “giᾶ” vào “Hὺng Linh” (trống đồng) như lâu nay đᾶ làm nữa. 3) “Hὺng Linh” (trống đồng) là vật biểu tượng quyền uy cὐa Vua Hὺng và cάc Lᾳc Hầu, Lᾳc Tướng đứng đầu trong 15 bộ nước Vᾰn Lang. Do đό “Hὺng Linh” (Ngọc Lῦ) phiên bἀn sẽ đặt sau lư hưσng thờ Vua Hὺng ở trên đền Hὺng và thờ ở cάc đὶnh, đền, lớn cὐa cἀ nước. Hoặc cάc bộ phim cό nhân vật là Vua, chύa và cάc quan nghѐ thὶ sau chỗ ngồi cὐa họ đều cό “Hὺng Linh” (cάc loᾳi) phiên bἀn. 4) Ngày nay ở cάc dinh thự – vị trί tiếp khάch quốc tế cὐa Nhà nước ta đều cό biểu tượng “Hὺng Linh” (Ngọc Lῦ) đặt sau bàn giữa: một bên chὐ, một bên khάch.

Nếu thực hiện được bốn điều trên thὶ dần dần, độ 20 nᾰm sẽ đưa vật “Hὺng Linh” trở lᾳi vị trί tâm linh cὐa nό, mà Tổ Tiên người Lᾳc Việt đᾶ tᾳo ra.

Tόm lᾳi, ngày nay chύng ta, con chάu làm công tάc vᾰn hoά vᾰn nghệ, tὀ lὸng biết σn Tiên Tổ, không gὶ bằng gὶn giữ nền vᾰn hoά cὐa Tổ Tiên để lᾳi, và làm cho nό sάng ra, đẹp thêm như lời Bάc Hồ dᾳy trong Đᾳi hội vᾰn công tᾳi Hà Nội nᾰm 1957.


  1. Dưσng Đὶnh Minh Sσn: Trống đồng vật linh hay nhᾳc cụ. Thông bάo khoa học Viện âm nhᾳc số thάng 8 nᾰm 2004 tr 48-59.
  2. Heger: Những chiếc trống kim khί ở Đông Nam Á (chữ Đức), Lai xίch, Bἀn photo gốc do Tiến sῖ Ngô Thế Phong, Viện Bἀo tàng Lịch sử Việt Nam cung cấp.
  3. H E Loofs Wwiosowa: The distribution of Dong Son drums: somes thoughts in Peter Snoy (cd) Ethnologie und Geshicte (Sự phân bố cὐa trống Đông Sσ n: vài suy nghῖ ) trong Perter Snoy (chὐ biên) “Dân tộc học và lịch sử” Wiessbaden 1983 tr410-417, dẫn theo Lịch sử tưởng Việt Nam, Sđ d, tr.61
  4. Dẫn theo Nguyễn Duy Hinh: Trống đồng trong sử sάch, Tᾳp chί Khἀo cổ học, số 13/1974, tr.18-
  5. Phᾳ m Huy Thông: Lời giới thiệu trong sάch Dong Son Drumss in Viet Nam, Trung tâm xᾶ hội quốc gia, Nxb Khoa học xᾶ hội, H.1999, tr.272
  6. Dưσng Đὶnh Minh Sσn: Dây tὶnh người Thάi (Dây tσ hồ ng), Tᾳp chί Dân tộc học và thời đᾳi, số 30/1996, tr.2-3
  7. Dưσng Đὶnh Minh Sσn: Đôi rắn quấn nhau nuốt voi là hὶnh nh cὐa dây Tσ hồng, Thông bάo khoa học Viện bἀo tàng Lịch sử Việt Nam số 1 nᾰm 2002, tr.115-119
  8. Lê Chί Thiệp, Kinh Dị ch nguyên thuỷ , Nxb Vᾰ n họ c, 1994.
  9. Dưσng Đὶnh Minh Sσn, Hὶnh nh “giᾶ“ trố ng đồng không cό trong sử sάch, Tuần bάo Người Hà Nội, Số 32/6/2004, tr.2.
  10. Hà Vᾰn Tấn: Theo dấu cάc v n hoά cổ , Trung tâm Xᾶ hội và Nhân vᾰn quốc gia, Viện Khἀo cổ học, Nxb Khoa họ c Xᾶ hội, Hà Nội, 1998, tr 638.

Dương Đình Minh Sơn